Luận án Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội (SPI) của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
---------
NGUYỄN BÍCH NGỌC
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN MỨC ĐỘ BỀN VỮNG
VÀ HIỆU QUẢ XÃ HỘI (SPI) CỦA CÁC TỔ CHỨC
TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2021
NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
---------
NGUYỄN BÍCH NGỌC
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN MỨC ĐỘ BỀN VỮNG
VÀ HIỆU QUẢ XÃ HỘI (SPI) CỦA CÁC TỔ CHỨC
TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 9340201
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Đào Văn Hùng
2. PGS. TS. Lê Thanh Tâm
Hà Nội, 2021
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dƣới sự hƣớng
dẫn của các nhà khoa học:
1. PGS.TS. Đào Văn Hùng
2. PGS.TS. Lê Thanh Tâm
Các kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách
quan và chƣa từng đƣợc công bố ở bất kỳ nghiên cứu nào khác ngoài các bài
báo/bài viết hội thảo của tôi hoặc các bài báo/bài viết hội thảo của tôi và đồng tác
giả đƣợc nêu trong danh mục công trình khoa học có liên quan đến luận án. Các
thông tin, dữ liệu đƣợc sử dụng trong luận án đƣợc thu thập từ thực tế, có nguồn
gốc trích dẫn rõ ràng, đƣợc xử lý trung thực và khách quan.
Hà Nội, Ngày tháng Năm 2020
Tác giả luận án
Nguyễn Bích Ngọc
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN............................................................................................... i
MỤC LỤC.........................................................................................................ii
DANH MỤC BẢNG......................................................................................... vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ................................................................................ viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ.................................................................................... ix
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
1.1 Tổng quan về tổ chức tài chính vi mô.........................................................................32
1.1.1 Khái niệm và vai trò của tổ chức tài chính vi mô ............................................32
1.1.2 Sản phẩm, dịch vụ của tổ chức tài chính vi mô ...............................................37
1.2 Cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô .......................................................45
1.2.1 Khái niệm.........................................................................................................45
1.3.1 Khái niệm.........................................................................................................48
1.4 Hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô...................................................52
1.4.1 Khái niệm.........................................................................................................52
1.5.1 Lý thuyết M&M ...............................................................................................68
1.5.2 Lý thuyết đánh đổi ...........................................................................................70
1.5.3 Lý thuyết trật tự phân hạng ..............................................................................72
1.5.4. Đặc tính cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô..........................................75
iii
TÓM TẮT CHƢƠNG 1............................................................................................80
VIỆT NAM.................................................................................................. 81
2.3. Các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam ......................................................84
2.6.1 Mức độ tiếp cận (A) .......................................................................................103
2.6.3 Chi phí trên một khách hàng vay (C).............................................................104
2.6.4 Tỉ lệ khách hàng nữ (D) .................................................................................105
2.6.5 Số lƣợng chi nhánh (E) ..................................................................................107
2.6.6 Tỉ lệ nợ rủi ro (G) và tỉ lệ xóa nợ (H) ............................................................107
2.6.7 Chỉ số SPI.......................................................................................................110
TÓM TẮT CHƢƠNG 2..........................................................................................112
iv
3.2.2 Mô tả các biến sử dụng trong mô hình...........................................................122
3.3 Số liệu và kết quả nghiên cứu.........................................................................129
3.3.1 Mô tả số liệu thống kê....................................................................................130
3.4 Kết luận............................................................................................................142
TÓM TẮT CHƢƠNG 3..........................................................................................145
CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM ........................................................................146
Nam đến năm 2025................................................................................................146
4.3.1 Khuyến nghị đối với Chính Phủ.....................................................................161
4.3.2 Khuyến nghị đối với Ngân hàng Nhà nƣớc ...................................................164
4.3.4 Khuyến nghị đối với Trung tâm Tƣ vấn Nguồn lực Tài chính vi mô Doanh
nghiệp Nhỏ và Vừa .................................................................................................167
TÓM TẮT CHƢƠNG 4..........................................................................................170
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
ADB
Diễn giải
Ngân hàng Phát triển Châu Á
CEP
Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho
ngƣời lao động nghèo tự tạo việc làm
Nhóm tƣ vấn hỗ trợ những ngƣời nghèo nhất
Mô hình tác động cố định
CGAP
FEM
GMM
M7MFI
MFI
Mô hình moment tổng quát
Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn M7
Tổ chức tài chính vi mô
NGO
Tổ chức Phi Chính Phủ
NHNN
REM
Ngân hàng Nhà nƣớc
Mô hình tác động ngẫu nhiên
TCTCVM
TYM
Tổ chức tài chính vi mô
Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV Tình Thƣơng
Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam
VMFWG
vi
DANH MỤC BẢNG
vững của tổ chức tài chính vi mô ...................................................................... 15
hội của tổ chức TCVM ..................................................................................... 23
Bảng 1.1: Sản phẩm tín dụng vi mô .................................................................. 39
thế giới cung cấp .............................................................................................. 44
và có đăng kí .................................................................................................. 109
Bảng 3.4: Kết quả thống kê mô tả................................................................... 130
Bảng 3.7: Kết quả mô hình 1 rút gọn .............................................................. 134
vii
DANH MỤC HÌNH
viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
xã hội của tổ chức tài chính vi mô .................................................................... 78
MFIs đƣợc cấp phép (2011 – 2019) .................................................................. 91
đƣợc cấp phép (2011 – 2019) ........................................................................... 92
2011 – 2019..............................................................................................................................95
đoạn 2011 – 2019 ............................................................................................. 96
2011 – 2019.................................................................................................... 101
Biểu đồ 2.12: Số lƣợng MFIs có đăng kí có OSS 120 giai đoạn 2011 - 2019.........104
đoạn 2011 - 2019............................................................................................ 103
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Yêu cầu nghiên cứu lý luận
Tại các quốc gia trên thế giới và đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển nhƣ
Việt Nam, tài chính đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển
kinh tế xã hội nói chung (Agnello và cộng sự, 2012) và xóa đói giảm nghèo, đảm
bảo an sinh xã hội nói riêng (Ledgerwood, 2013). Tuy nhiên, nếu nhƣ mức độ tiếp
cận các dịch vụ tài chính cũng nhƣ phạm vi dịch vụ bị hạn chế thì lại có thể kìm
hãm sự phát triển của cá nhân, doanh nghiệp. Tỉ lệ ngƣời nghèo trong xã hội cũng
vì thế mà tăng lên. Chính vì vậy phát triển một hệ thống tài chính toàn diện, đáp
ứng nhu cầu của tất cả các cá nhân trong xã hội là mục tiêu mà bất kì nền kinh tế
nào cũng muốn hƣớng tới.
Trong xu hƣớng đó, đối tƣợng ngƣời nghèo, ngƣời có thu nhập thấp nhận
đƣợc sự quan tâm nhiều hơn cả, bởi còn nhiều rào cản nhƣ trình độ, mức độ rủi ro
hay giới tính… hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính từ khu vực chính thức
của những đối tƣợng này. Chính vì vậy, vào khoảng thế kỷ thứ 17, tài chính vi mô
đã đƣợc ra đời nhằm giúp ngƣời nghèo dễ dàng tiếp cận hơn với các dịch vụ tài
chính. Mô hình này sau đó đã nhanh chóng phát triển và lan rộng ra nhiều quốc gia
trên thế giới.
Cụ thể, qua quá trình hoạt động, số liệu thống kê của Microfinance
Barometer cho thấy các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới đã cung ứng dịch vụ
cho khoảng 136 triệu khách hàng thu nhập thấp vào năm 2016 và 139 triệu khách
hàng vào năm 2017. Cũng theo thống kê này, tỉ lệ tăng trƣởng về số lƣợng khách
hàng của MFIs cho hai năm 2016 và 2017 lần lƣợt là 9.6 và 5.6 . Nhƣ vậy, có
thể thấy mặc dù số lƣợng khách hàng sử dụng dịch vụ từ các tổ chức tài chính vi mô
trên thế giới vẫn đang trên đà tăng trƣởng, nhƣng tốc độ tăng trƣởng đang chậm lại
dần. Quan trọng hơn, khi so sánh giữa quy mô khách hàng hiện nay của tổ chức tài
chính vi mô với tỉ lệ 10.9 ngƣời trên thế giới đang phải sống dƣới mức thu nhập
$2/ngày theo thống kê của tỉ lệ ngƣời nghèo trên thế giới vào năm 2018, rõ ràng đối
2
tƣợng ngƣời nghèo đƣợc tiếp cận với dịch vụ tài chính vi mô vẫn còn rất nhỏ so với
nhu cầu.
Chính vì vậy, duy trì hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô trong dài hạn
để có thể phục vụ nhiều hơn nữa khách hàng có thu nhập thấp trong tƣơng lai là vấn
và Le Saout (2013) và Quayes (2015) đều nhấn mạnh đạt đƣợc bền vững chính là
chìa khóa của vấn đề bởi chỉ khi các tổ chức tài chính vi mô hoạt động bền vững, họ
mới có thể phục vụ khách hàng trong một thời gian dài (Rhyne, 1998; Meyer, 2002)
và giúp cho khách hàng của họ thoát nghèo một cách bền vững. Quan điểm này
cũng hoàn toàn đồng nhất với kết luận đƣợc đƣa ra bởi các nhà nghiên cứu trong
nƣớc nhƣ Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2013) khi các tác giả khẳng định đạt đƣợc
sự bền vững chính là cơ sở nền tảng để các tổ chức tài chính vi mô có thể phục vụ
thêm đƣợc nhiều khách hàng hơn nữa trong tƣơng lai.
Tuy nhiên, Ndanyenbah (2017) trong nghiên cứu về sự biến đổi, sụp đổ và
bền vững tài chính của MFIs đã chỉ ra rằng từ những năm 1990 khi mà các nhà tài
trợ và Chính Phủ nhận thấy không còn đủ nguồn để tài trợ cho ngƣời nghèo thông
qua hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô, thì cấu trúc vốn đã thực sự trở thành
thách thức đối với các tổ chức tài chính vi mô trên con đƣờng đạt đƣợc sự bền
vững. Điều này đã dẫn tới nhu cầu tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài để phục vụ
cho hoạt động của MFIs. Tuy nhiên, cũng trên con đƣờng thƣơng mại hóa, vấn đề
đảm bảo hiệu quả xã hội của MFIs cũng là đề tài đƣợc nhiều nhà nghiên cứu lƣu
tâm, bởi quan điểm hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô đang chịu ảnh hƣởng
rất lớn từ động lực và mục tiêu của các nhà tài trợ khác nhau (Jasmina Devinck,
2013). Do đó, sự thay đổi trong cấu trúc vốn của MFIs hẳn nhiên có những tác động
nhất định đến định hƣớng phát triển cả về bền vững tài chính và hiệu quả xã hội của
các tổ chức tài chính vi mô trong tƣơng lai.
1.2 Yêu cầu nghiên cứu thực tiễn
Đƣợc hình thành từ khá sớm vào giai đoạn những năm 1980, hoạt động tài
chính vi mô tại Việt Nam đã trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển với những
3
thành quả đáng ghi nhận nhƣ giá trị tổng tài sản không ngừng tăng lên, số lƣợng
khách hàng đƣợc tiếp cận với các dịch vụ tài chính và phi tài chính tại các tổ chức
tài chính vi mô liên tục tăng trƣởng qua các năm (Lê Văn Luyện, Nguyễn Đức Hải,
2016), công tác triển khai các sản phẩm, dịch vụ nhƣ tín dụng, huy động tiết kiệm
cũng nhận đƣợc đánh giá ngày càng cao từ phía khách hàng (VMFWG, 2017).
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, hoạt động của tổ chính tài chính vi mô
tại Việt Nam trong những năm gần đây cũng vấp phải những khó khăn nhất định.
Cụ thể, thời điểm năm 2010 khi nƣớc ta đƣợc cấp phép bƣớc vào hàng ngũ các
nƣớc có thu nhập trung bình, thì nguồn vốn ƣu đãi của tổ chức Phi Chính Phủ nƣớc
ngoài vào Việt Nam có xu hƣớng thu hẹp dần. Do đó, việc tìm kiếm các nguồn vốn
để duy trì hoạt động của các tổ chức, chƣơng trình, dự án tài chính vi mô bắt đầu trở
nên khó khăn hơn. Điều này đã tạo nên thách thức cho các tổ chức trong việc phải
nhanh chóng thích nghi, và tìm kiếm các nguồn vốn mới thay thế nhằm duy trì hoạt
động trong dài hạn. Tuy nhiên, để tiếp cận với các nguồn vốn từ thị trƣờng, các tổ
chức phải đảm bảo tuân thủ các quy định về hoạt động và chế độ tài chính theo yêu
cầu của pháp luật – những điều kiện mà không phải trong thời gian ngắn các tổ
chức có thể đáp ứng đƣợc. Bên cạnh đó, đa phần các tổ chức tài chính vi mô đều
chƣa có định hƣớng cụ thể về phát triển nguồn vốn trong tƣơng lai. Chính vì vậy,
công tác quản lý và phát triển nguồn vốn phục vụ cho hoạt động của tổ chức tài
chính vi mô tại Việt Nam thực sự là một thách thức đối với lãnh đạo của MFIs.
Hơn thế nữa, trong bối cảnh nguồn vốn gặp khó khăn, các nhà quản lý của
các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam còn phải đối mặt với áp lực đảm bảo cân
bằng giữa bền vững tài chính và hiệu quả xã hội bởi đây chính là nguồn gốc sức
mạnh của ý tƣởng về tài chính vi mô (Sinha, 2006). Cụ thể, trong khoảng thời gian
từ 2010 trở về đây, số liệu thu thập đƣợc từ Danh bạ tài chính vi mô của Nhóm công
tác tài chính vi mô Việt Nam cho thấy khả năng bù đắp các chi phí hoạt động từ thu
nhập hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam đang có xu hƣớng
giảm dần. Bên cạnh đó, chỉ số hiệu quả xã hội theo tính toán của tác giả cũng có
chiều hƣớng đi xuống. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc tiến hành nghiên cứu tác động
4
của từng nguồn vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính
vi mô để đƣa ra những định hƣớng, khuyến nghị phù hợp cho tổ chức tài chính vi
mô trong việc lựa chọn và phát triển nguồn vốn là điều cần thiết. Do đó, tác giả đã
quyết định lựa chọn đề tài “Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và
hiệu quả xã hội (SPI) của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu, khoảng trống trong lĩnh vực nghiên cứu
Cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi
mô trong những năm qua đã thu hút đƣợc rất nhiều sự quan tâm từ phía các nhà
nghiên cứu cả trong và ngoài nƣớc. Tuy nhiên, các nghiên cứu trƣớc đây đa phần
mới chỉ nghiên cứu riêng rẽ tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững hoặc
tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả xã hội của MFIs, mà chƣa có nghiên cứu
nào đi phân tích tác động của cấu trúc vốn đến đồng thời cả hai yếu tố này. Chính vì
vậy, trong phần tiếp theo các nghiên cứu tiêu biểu về tác động của cấu trúc vốn đến
mức độ bền vững và tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả xã hội của MFIs sẽ lần
lƣợt đƣợc phân tích.
2.1. Tổng quan nghiên cứu về cấu trúc vốn và mức độ bền vững của tổ chức tài
chính vi mô
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Thực hiện kiểm chứng lý thuyết vòng đời trong tài trợ MFIs, Bogan
(2012) tập trung vào phân tích mức độ bền vững của MFIs qua các giai đoạn
phát triển (mới, trẻ và trƣởng thành) thông qua hai mô hình hồi quy. Trong đó,
mô hình 1 phân tích các yếu tố tác động tới mức độ bền vững của MFIs, mô hình
2 tập trung đánh giá sự tác động của cấu trúc vốn, đặc tính và điều kiện kinh tế
vĩ mô của quốc gia đến khả năng đạt đƣợc độ bền vững của tổ chức. Kết quả các
mô hình cho thấy quy mô và cấu trúc vốn có tác động rõ nét đến mức độ bền
vững của MFIs. Cụ thể, Bogan (2012) chỉ ra rằng việc quá phụ thuộc vào các
khoản tài trợ trong tổng nguồn vốn sẽ khiến cho MFIs ngày càng xa rời mục tiêu
bền vững. Do đó, thoát dần khỏi các nguồn tài trợ, và hoạt động theo định hƣớng
5
thƣơng mại sẽ là bƣớc đi cần thiết trong tƣơng lai để MFIs có thể đa dạng hóa
nguồn vốn, cũng nhƣ thu hút đƣợc tiền gửi tiết kiệm cho tổ chức. Trên cơ sở đó
các tổ chức tài chính vi mô mới có thể mở rộng danh mục tín dụng vi mô, giảm
thiểu lãi suất cho vay, nâng cao khả năng tiếp cận, và đặc biệt là mức độ bền
vững của tổ chức. Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra rủi ro tín dụng (tỉ lệ danh mục rủi
ro trên 30 ngày), số lƣợng ngƣời vay và ngƣời gửi tiết kiệm đều có tác động đến
mức độ bền vững của MFIs. Trái lại, điều kiện kinh tế vĩ mô của từng quốc gia
lại cho thấy dƣờng nhƣ không có mối liên kết với mức độ bền vững.
Kế thừa mô hình của Bogan (2012), Tehulu (2013) thực hiện nghiên cứu
về các yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ bền vững tài chính của 23 MFIs tại khu vực
châu Phi trong giai đoạn 2004 – 2009. Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa cấu
trúc vốn mà cụ thể là chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu với mức độ bền vững của các
TCTCVM là nghịch chiều với độ tin cậy là 95%. Giải thích cho kết quả này
Tehulu cho rằng tại Châu Phi, thay vì trả cổ tức cho chủ đầu tƣ thì MFIs lại cung
cấp cho họ các khoản vay ƣu đãi. Chính vì lẽ đó chi phí vốn chủ sở hữu trở nên
rẻ hơn trong mối tƣơng quan với chi phí vốn vay, và tất yếu sử dụng nhiều nợ
hơn hay hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu càng cao thì mức độ bền vững của các
TCTCVM càng thấp. Ngoài ra, theo Tehulu (2013) sự tác động của tỉ lệ vốn huy
động từ tiết kiệm trên tổng tài sản đến mức độ bền vững của MFIs là thuận
chiều. Tuy nhiên, sự tác động này không có ý nghĩa thống kê. Bên cạnh đó, tác
giả cũng phân tích tác động của các yếu tố nhƣ quy mô, tổng danh mục cho vay,
hiệu quả quản lý (tỉ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản), rủi ro tín dụng (tỉ lệ
khoản vay quá hạn trên 30 ngày) đến mức độ bền vững của MFIs. Trong đó, 2
nhóm yếu tố đầu có tác động thuận chiều đến mức độ bền vững, còn các nhóm
yếu tố sau có tác động nghịch chiều.
Thực hiện nghiên cứu về mức độ bền vững của TCTCVM ở các nƣớc Châu
Phi dựa trên nền tảng lý thuyết vòng đời nhƣ Tehulu (2013); tuy nhiên,
Nyamsogoro (2010); Kinde (2012) và Sekabira (2013) chỉ tập trung vào nghiên cứu
MFIs trong phạm vi một quốc gia. Chính vì vậy, yếu tố kinh tế vĩ mô trong mô hình
6
bị loại bỏ và chỉ tập trung vào phân tích tác động của cấu trúc vốn cũng nhƣ đặc
tính của MFIs đến mức độ bền vững. Cụ thể, Nyamsogoro (2010) chỉ ra rằng phần
vốn chủ sở hữu giúp cải thiện đáng kể mức độ bền vững tài chính của TCTCVM ở
mức ý nghĩa 5%. Bên cạnh đó các yếu tố nhƣ lãi suất, dƣ nợ trung bình, số lƣợng
khách hàng nữ hay giá trị khoản vay cũng có tác động thuận chiều đến mức độ bền
vững của MFIs. Trái lại, tác động nghịch chiều lại đƣợc chứng minh tại các biến
nhƣ chi phí trên một khách hàng vay, chi phí nhân viên trên một đồng vốn cho vay
ra, thời gian hoạt động của MFIs và số lƣợng khách hàng vay. Ngoài ra, sự tác động
của các yếu tố liên quan đến kĩ thuật cho vay của MFI nhƣ số lƣợng các khoản trả
góp, giá trị khoản vay tối thiểu và điều kiện về thời hạn đến mức độ bền vững là
không đồng nhất giữa khoản vay cá nhân và khoản vay theo tổ, nhóm.
Ủng hộ cho kết luận của Nyamsogoro (2010), Sekabira (2013) trong
nghiên cứu tại Uganda đã chỉ ra rằng sử dụng nguồn vốn vay làm giảm mức độ
bền vững tài chính của MFIs. Nguyên nhân đứng đằng sau mối quan hệ nghịch
chiều này, theo Sekabira là do sự khác biệt về chi phí vốn. Cụ thể, lãi suất khác
nhau mà MFIs phải trả cho chủ nợ có thể đe doạ đến hoạt động hoặc mức độ bền
vững của các tổ chức này. Một ví dụ điển hình đó là các khoản vay của MFIs có
thể đến từ các nguồn không chính thống – nguồn đòi hỏi mức lãi suất cao, nhƣng
phải đƣợc trả lại trong thời gian ngắn. Hệ quả là chi phí tài chính tăng lên còn
mức độ bền vững tài chính của TCTCVM lại suy giảm (Sekabira, 2013). Bên
cạnh đó, mức độ rủi ro và số lƣợng ngƣời gửi tiền tiết kiệm tại tổ chức cũng có
tác động nghịch chiều đến mức độ bền vững của tổ chức. Kết quả này, theo
Sekabira là do sự gia tăng trong số lƣợng ngƣời tiết kiệm sẽ kéo theo sự gia tăng
về chi phí trả lãi cho ngƣời gửi tiền. Do đó, làm giảm lợi nhuận của MFIs cũng
nhƣ khả năng đạt đƣợc mức độ bền vững. Đặc biệt, trong tình huống của nghiên
cứu khi số lƣợng ngƣời gửi tiền nhiều hơn số lƣợng ngƣời vay thì tác động này
lại càng rõ nét. Trái lại, sự gia tăng trong số lƣợng ngƣời vay vốn giúp cải thiện
mức độ bền vững của tổ chức.
Áp dụng mô hình tƣơng đồng Nyamsogoro (2010) và Sekabira (2013) cho
7
nghiên cứu tại Ethiopia; Kinde (2012) trái lại đƣa ra kết quả có phần khác biệt khi
chỉ ra rằng tác động của cấu trúc đến mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô
mặc dù là nghịch chiều nhƣng không có ý nghĩa thống kê. Do đó, theo tác giả sự kết
hợp của các nguồn vốn khác nhau không làm cải thiện khả năng đạt đƣợc mức độ
bền vững của các tổ chức tài chính vi mô. Trong khi đó, số lƣợng khách hàng vay
và giá trị khoản vay bình quân đƣợc chứng minh giúp cải thiện khả năng đạt đƣợc
mức độ bền vững tài chính của MFIs. Cụ thể, sự tăng lên trong số lƣợng ngƣời vay
sẽ là tiền đề giúp cho các tổ chức tài chính vi mô gia tăng khối lƣợng sản phẩm
cung cấp, lợi nhuận và cuối cùng là gia tăng mức độ bền vững.
Kết quả này cũng hoàn toàn trùng khớp với nhận định của Ali (2013) trong
nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ bền vững tài chính và mức độ tiếp cận của
MFIs tại Kenya. Sử dụng mô hình hồi quy OLS trên dữ liệu của 30 tổ chức tài
chính vi mô, Ali chỉ ra rằng khách hàng đang vay vốn sẽ hỗ trợ thu hút thêm các
khách hàng mới thông qua việc truyền miệng, giới thiệu về các dịch vụ họ đƣơc trải
nghiệm tại MFIs. Qua đó, ngày càng nhiều ngƣời biết đến danh tiếng của tổ chức,
lợi nhuận và hiệu quả tài chính của MFIs cũng vì thế mà tăng theo. Ngoài ra, tỉ lệ
khách hàng nữ cũng đƣợc chứng minh có tác động mạnh mẽ đến mức độ bền vững
của tổ chức tài chính vi mô thông qua nâng cao mức độ tiếp cận cũng nhƣ tỉ lệ hoàn
trả nợ vay.
Kế thừa mô hình đƣợc xây dựng bởi Miyajima và cộng sự (2004) trong đánh
giá sự tác động của cấu trúc vốn và đặc tính của tổ chức đối với hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp tại Nhật Bản, Kyereboah-Coleman (2007) đƣa ra kết luận có phần
khác biệt với Bogan (2012); Tehulu (2013); Nyamsogoro (2010) và Sekabira (2013)
khi chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính có tác động thuận chiều đến mức độ bền vững của
tổ chức. Kết quả này theo nhƣ Kyereboah-Coleman là do việc sử dụng nợ vay đã
tạo áp lực thúc đẩy các TCTCVM trong tìm kiếm khách hàng, mở rộng phạm vi tiếp
cận và quyết tâm hơn trong việc thu hồi các khoản nợ của mình. Chính vì vậy, thu
nhập, lợi nhuận và mức độ bền vững của MFIs sẽ tăng lên. Mặt khác, các yếu tố
nhƣ mức độ rủi ro, thời gian hoạt động hay quy mô của MFIs lại có tác động nghịch
8
chiều lên mức độ bền vững của MFIs. Cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy sự tăng
trƣởng về quy mô của tổ chức đi cùng với sự tăng trƣởng về bộ máy tổ chức, cơ cấu
quản lý của MFIs. Vì vậy, các tổ chức dễ dàng giải quyết các vấn đề liên quan rủi ro
đạo đức của khách hàng cũng nhƣ lựa chọn đối nghịch. Bên cạnh đó, khi quy mô
của MFIs tăng lên thì mức độ tiếp cận của các tổ chức có xu hƣớng giảm; tuy nhiên,
sự tác động này là không rõ nét hay không có ý nghĩa thống kê.
Ủng hộ cho kết luận của Kyereboah-Coleman (2007), Iezza (2010) trong
nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ bền vững của 687 TCTCVM ở
63 quốc gia trên thế giới trong năm 2008, đã chỉ ra rằng cấu trúc vốn giữ vai trò
quan trọng trong việc cải thiện độ mức độ bền vững của TCTCVM. Cụ thể, MFI
sẽ có lợi thế đáng kể về thuế từ việc sử dụng các khoản nợ thay vì vốn cổ phần.
Do đó, MFIs nên đƣợc tài trợ bằng các khoản nợ để tăng khả năng sinh lời của tổ
chức. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn
huy động trong nâng cao hiệu quả hoạt động của MFIs bởi đây đƣợc coi là nguồn
vốn với chi phí thấp. Ngoài ra, lãi suất, tỉ lệ nợ rủi ro và tỉ lệ tài sản không sinh lời
nhƣng có tính thanh khoản cao cũng có tác động rõ nét đến mức độ bền vững của
MFIs. Cụ thể, tổ chức với tỉ lệ nợ rủi ro trên 30 ngày thấp hay khả năng thu hồi nợ
của MFIs cao thì thƣờng có mức độ bền vững cao hơn các tổ chức khác. Tƣơng tự,
MFIs có tỉ lệ tài sản không sinh lời càng thấp và lãi suất càng cao thì khả năng đạt
đƣợc mức độ bền vững cũng càng cao. Cuối cùng, ở các quốc gia có duy trì tỉ lệ
lạm phát và lãi suất cơ bản ở mức tƣơng đối thấp, thì MFIs thƣờng có điều kiện
phát triển ổn định và đạt đƣợc mức độ bền vững cao hơn. Đặc biệt, nghiên cứu sâu
hơn về độ phát triển của MFIs tại các khu vực địa lý khác nhau, Iezza còn chỉ ra
rằng MFIs tại khu vực Đông Nam Á và trung tâm Thái Bình Dƣơng có mức độ thể
hiện tốt hơn MFIs tại các khu vực khác.
Đồng nhất với kết luận của Iezza; Muriu (2011) và Mwangi và cộng sự
(2015) đều cho rằng vốn huy động từ tiền gửi đƣợc xem nhƣ một nguồn vốn giá rẻ,
và do đó sẽ giúp giảm chi phí hoạt động cũng nhƣ có tác động tích cực đến mức độ
bền vững của TCTCVM. Chính vì vậy, các TCTCVM nên đƣa ra các chiến lƣợc để
9
giành đƣợc lòng tin của ngƣời gửi tiền, cũng nhƣ đa dạng hóa các sản phẩm tiết
kiệm của mình để có thể thu hút thêm khách hàng (Cull và cộng sự, 2011).
Sử dụng mô hình nghiên cứu tƣơng đồng với Mwangi và cộng sự (2015);
song, kết luận của Mwizarubi và cộng sự (2016) và Mwongeli và Ariemba (2018 )
về tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững tài chính của tổ chức tài chính vi
mô lại không đồng nhất. Cụ thể, nghiên cứu về mức độ bền vững của tổ chức tài
chính vi mô hàng đầu ở Tanzania, Mwizarubi và cộng sự (2016) chỉ ra rằng mặc dù
các khoản vay thƣơng mại có tác động tích cực tới mức độ bền vững; song sự tác
động này không có ý nghĩa về thống kê. Kết luận này đƣợc ủng hộ bởi Hossain và
Asam (2016) khi các tác giả chỉ ra rằng tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu tác động không
rõ nét lên mức độ bền vững tài chính của 29 MFIs tại Bangladesh trong giai đoạn
2008 – 2012. Bên cạnh đó, các yếu tố nhƣ quy mô, thời gian hoạt động, tỉ lệ khách
hàng nữ hay số lƣợng khách hàng vay trên một nhân viên ngân hàng cũng không có
ảnh hƣởng đáng kể đến mức độ bền vững tài chính của MFIs tại Bangladesh trong
khoảng thời gian nghiên cứu.
Trái lại, tập trung vào phân tích tác động của cấu trúc vốn tới mức độ bền
vững tài chính của các tổ chức tài chính vi mô đƣợc cấp phép nhận tiền gửi tại
Kenya, Mwongeli và Ariemba (2018) khẳng định vai trò của đòn bẩy tài chính
trong việc nâng cao mức độ bền vững tài chính của MFIs. Do đó, MFIs cần nắm bắt
bất cứ cơ hội vay nợ nào để cải thiện độ mức độ bền vững tài chính của mình.
Ngoài ra, lợi nhuận giữ lại và vốn cổ phần ƣu đãi cũng cho thấy có tác động tích
cực và rõ nét lên mức độ bền vững tài chính của MFIs. Tuy nhiên, vốn cổ phần
thông thƣờng lại có tác động nghịch chiều và không đƣợc khuyến khích sử dụng.
Có phần khác biệt với các nghiên cứu trƣớc đó khi cân nhắc tới sự tác động
của cấu trúc quản trị lên mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô, Mutua và
Ali (2017) đã chỉ ra rằng nguồn tài trợ và chất lƣợng quản trị của MFIs có tác động
mạnh tới mức độ bền vững của tổ chức. Cụ thể, một bộ máy quản trị tốt sẽ hỗ trợ
cho sự tồn tại và thc đẩy sự phát triển, gia tăng mức độ bền vững của tổ chức tài
chính vi mô. Trái lại, bộ máy quản trị yếu kém sẽ làm suy giảm hoạt động của
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội (SPI) của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
luan_an_tac_dong_cua_cau_truc_von_den_muc_do_ben_vung_va_hie.pdf

