Luận văn Dạy học tích phân theo hướng khám phá cho Lớp 12 Trung học Phổ thông

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM  
––––––––––––––––––––––  
ĐOÀN XUÂN CƢƠNG  
DẠY HỌC TÍCH PHÂN  
THEO HƢỚNG KHÁM PHÁ  
CHO LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  
Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học bộ môn Toán  
Mã số: 60.14.01.11  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐÀO THÁI LAI  
THÁI NGUYÊN - 2015  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.  
Tác giả luận văn  
Đoàn Xuân Cƣơng  
i
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
LỜI CẢM ƠN  
Luận văn này đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn, giúp đỡ của PGS.TS  
Đào Thái Lai. Tác giả xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy.  
Trong quá trình làm luận văn tác giả còn đƣợc sự giúp đỡ của các thầy cô giáo  
trong tổ PPGD Toán - Khoa Toán - Trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên, Ban  
giám hiệu và các thầy cô giáo trƣờng THPT Trần Quốc Toản Thành phố Uông Bí -  
Quảng Ninh. Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng  
nghiệp luôn là nguồn động viên giúp đỡ tác giả có thêm nghị lực, tinh thần để hoàn  
thành luận văn này.  
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015  
Tác giả luận văn  
Đoàn Xuân Cƣơng  
ii  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
MỤC LỤC  
Lời cam đoan ..................................................................................................................i  
Lời cảm ơn.....................................................................................................................ii  
Mục lục ........................................................................................................................ iii  
iii  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
iv  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
PHỤ LỤC  
v
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN  
Viết tắt Viết đầy đủ  
CH  
Câu hỏi  
DHKP  
GV  
Dạy học khám phá  
Giáo viên  
HĐ  
Hoạt động  
HS  
Học sinh  
NXB  
PPDH  
PPKP  
SGK  
THPT  
Nhà xuất bản  
Phƣơng pháp dạy học  
Phƣơng pháp khám phá  
Sách giáo khoa  
Trung học phổ thông  
iv  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Để đạt đƣợc mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam trở thành một nƣớc công  
nghiệp theo hƣớng hiện đại, hội nhập với cộng đồng quốc tế, có một nền giáo dục đạt  
trình độ tiên tiến trong khu vực, Đảng và Nhà nƣớc ta quán triệt quan điểm ”giáo dục  
và đào tạo là quốc sách hàng đầu". Vì vậy, một đòi hỏi cấp thiết đặt ra cho ngành  
Giáo dục và Đào tạo là cần phải thực hiện đổi mới một cách toàn diện cả về mục tiêu,  
nội dung và phƣơng pháp giáo dục.  
Nghị quyết hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ƣơng khoá XI (Nghị  
quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đặt ra  
nhiệm vụ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy  
tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc  
phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách  
nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ  
năng, phát triển năng lực”.[1]  
Bên cạnh đó, xu thế trong nƣớc và thế giới hiện nay đang nghiên cứu nhiều về lí  
thuyết dạy học, phƣơng pháp dạy học, vận dụng những thành tựu hiện đại về tâm lí giáo  
dục, lí luận dạy học vào trong quá trình dạy học, trong đó có việc nghiên cứu, hình thành  
và phát triển năng lực tƣ duy cho học sinh (HS) thông qua phƣơng pháp dạy học và  
phƣơng pháp dạy học khám phá (DHKP) chiếm một vị trí quan trọng. Có thể nói, bản chất  
của việc đổi mới phƣơng pháp dạy học là hƣớng tới hoạt động học tập chủ động, sáng tạo,  
chống lại thói quen học tập thụ động, giáo điều.  
Tiếp cận những xu hƣớng dạy học hiện đại nói chung, nghiên cứu và áp dụng  
các phƣơng pháp dạy học nhằm giúp ngƣời học khám phá, phát hiện tri thức nói riêng  
đang đƣợc đề cập đến một cách mạnh mẽ trong các loại hình nhà trƣờng và đặc biệt  
là trƣờng trung học phổ thông.  
Dựa trên quan điểm hƣớng vào ngƣời học, giúp HS tự tìm kiếm, phát hiện,  
khám phá tri thức mới dựa trên nền tảng tri thức cũ đã học và vốn kinh nghiệm sống  
của mình, DHKP đang ngày càng chứng tỏ khả năng đáp ứng các yêu cầu đổi mới  
phƣơng pháp dạy học.  
Nhận định về phƣơng pháp dạy học Toán ở trƣờng trung học phổ thông  
(THPT) trong giai đoạn hiện nay, các nhà toán học Hoàng Tụy và Nguyễn Cảnh Toàn  
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
   
viết: "Kiến thức, tư duy, tính cách con người chính là mục tiêu của giáo dục. Thế  
nhưng, hiện nay trong nhà trường tư duy và tính cách bị chìm đi trong kiến thức"  
[11, tr. 7]. "Cách dạy phổ biến hiện nay là thầy đưa ra kiến thức (khái niệm, định lí) rồi  
giải thích, chứng minh, trò cố gắng tiếp thu nội dung khái niệm, nội dung định lí, hiểu  
chứng minh định lí, cố gắng tập vận dụng các công thức, các định lí để tính toán, để  
chứng minh" [10, tr. 4]. "Ta còn chuộng cách dạy nhồi nhét, luyện trí nhớ, dạy mẹo vặt  
để giải những bài toán oái ăm, giả tạo, chẳng giúp ích gì mấy để phát triển trí tuệ mà  
còn làm cho học sinh thêm xa rời thực tế, mệt mỏi và chán nản" [12, tr. 38].  
Theo quan điểm của lí thuyết kiến tạo, tri thức không phải đƣợc tiếp nhận một  
cách thụ động mà là đƣợc tích cực xây dựng bởi chủ thể nhận thức, đó cũng chính là  
quá trình chủ thể thông qua quá trình tƣ duy để khám phá ra tri thức cho bản thân.  
Thuật ngữ DHKP đã từng xuất hiện trong một số công trình của một số nhà  
khoa học, trong đó có: Jerome Bruner, Geoffrey Petty, Trần Bá Hoành, .... Song nhìn  
chung thuật ngữ ấy vẫn đang đƣợc hiểu một cách trực giác và cho đến nay vẫn chƣa  
có công trình nghiên cứu nào thật đầy đủ và mang tính hệ thống, cho phép vận dụng  
một cách rộng rãi vào thực tiễn dạy học, đặc biệt là trong dạy học Toán nói chung và  
dạy học Giải tích : Nguyên hàm, tích phân ở lớp 12 THPT nói riêng.  
DHKP cũng đã đƣợc nghiên cứu ở Việt Nam, từ một số quan điểm chung đến  
các hƣớng vận dụng vào môn học, cũng nhƣ một số nghiên cứu cụ thể (Đặng Thành  
Hƣng, Trần Bá Hoành, Phó Đức Hòa, Phan Trọng Ngọ, Nguyễn Hữu Châu, Cao Thị  
Hà,….).  
Chƣơng trình, sách giáo khoa Toán (năm 2009) trung học phổ thông (THPT)  
nói chung và Giải tích nói riêng đã có nhiều thay đổi theo hƣớng giảm dần việc cung  
cấp tri thức theo kiểu có sẵn. Thay vào đó là việc cung cấp các thông tin và yêu cầu  
HS phải thông qua các hoạt động để hình thành tri thức mới. Trong đó, chƣơng  
„„Nguyên hàm, tích phân và ứng dụng‟‟ của lớp 12 có nhiều tiềm năng để tổ chức các  
hoạt động khám phá cho chuyên đề này.  
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là : “Dạy học  
Tích phân theo hướng khám phá cho lớp 12 trung học phổ thông‟‟; Góp phần tăng  
cƣờng khả năng giải toán của HS, nâng cao chất lƣợng dạy học chủ đề này ở lớp 12 nói  
riêng, nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở THPT nói chung.  
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
2. Mục đích nghiên cứu  
Xây dựng đƣợc quy trình DHKP dựa trên vốn kiến thức về nguyên hàm, tích  
phân và đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển các hoạt động dạy học khám phá  
góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học chủ đề tích phân ở lớp 12 nói riêng, nâng cao  
hiệu quả dạy học môn Toán ở THPT nói chung.  
3. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Quá trình sử dụng phƣơng pháp dạy học khám phá trong dạy học nguyên hàm,  
tích phân ở lớp 12 THPT.  
3.2. Khách thể nghiên cứu  
Hoạt động khám phá của HS trong dạy học nguyên hàm, tích phân ở lớp 12  
THPT.  
3.3. Phạm vi nghiên cứu  
Khai thác kiến thức và dạng bài tập nguyên hàm, tích phân ở lớp 12 THPT để  
xây dựng các hoạt động khám phá, đề xuất một số biện pháp nhằm thực hiện quy  
trình dạy học tích phân theo hƣớng khám phá đạt hiệu quả và gây hứng thú cho HS.  
4. Giả thuyết khoa học  
Nếu xây dựng và thực hiện đƣợc quy trình dạy học tích phân theo hƣớng khám  
phá thì có thể phát triển tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo học tập của HS, góp  
phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán.  
5. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Từ mục đích nêu trên, luận văn cần phải làm rõ những yêu cầu sau.  
- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn DHKP trong dạy học Toán về nội dung  
nguyên hàm, tích phân ở lớp 12 THPT.  
- Bản chất và hình thức tổ chức đặc trƣng của DHKP trong dạy học môn Toán.  
- Tác dụng của DHKP trong việc hình thành và phát triển tƣ duy toán học về  
nguyên hàm, tích phân ở lớp 12 THPT.  
- Đề xuất một số biện pháp điển hình để phát triển tƣ duy và khai thác kiến  
thức nguyên hàm, tích phân ở lớp 12 THPT.  
- Thực nghiệm sƣ phạm để bƣớc đầu kiểm chứng giả thuyết khoa học và đánh giá  
tính khả thi, hiệu quả của luận văn.  
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
       
6. Phƣơng pháp nghiên cứu  
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận  
Chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích các tài liệu về nguyên hàm, tích phân ở  
lớp 12 THPT, phƣơng pháp DHKP, phƣơng pháp dạy học (PPDH) môn Toán và các tài  
liệu khác liên quan đến đề tài của luận văn.  
6.2. Phương pháp điều tra, quan sát  
Khảo sát thực trạng dạy học nguyên hàm, tích phân ở lớp 12 tại một số trƣờng  
THPT trên địa bàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh qua các hình thức nhƣ:  
- Phỏng vấn trực tiếp một số HS, GV tại trƣờng THPT Hồng Đức, trƣờng  
THPT Uông Bí.  
- Thu thập số liệu điều tra và thực nghiệm sƣ phạm để từ đó có cái nhìn khái  
quát, chân thực về hiện trạng dạy học nguyên hàm, tích phân cho HS lớp 12 THPT.  
Đồng thời, quan sát về thái độ của HS, GV khi tham gia điều tra, thực nghiệm.  
- Trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi đã quan sát hoạt động của HS, hoạt  
động của GV và tiến hành ghi chép đầy đủ các nhận định để làm cơ sở cho các nhận  
xét về sau, cũng nhƣ khẳng định khả năng đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH.  
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm  
Tổ chức thực nghiệm sƣ phạm đƣợc tiến hành ngay sau bƣớc thăm dò thực  
tiễn (phân tích, nhận xét, đánh giá và rút kinh nghiệm), để xem xét tính khả thi và  
hiệu quả của việc dạy học tích phân theo hƣớng khám phá ở lớp 12 THPT trên địa  
bàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Các kết quả thực nghiệm sƣ phạm đƣợc  
phân tích bằng phƣơng pháp thống kê toán học thƣờng dùng trong nghiên cứu khoa  
học giáo dục.  
7. Đóng góp của Luận văn  
7.1. Về mặt lý luận  
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về DHKP trong dạy học Toán về nội dung  
nguyên hàm, tích phân ở lớp 12 THPT.  
- Dạy học tích phân theo hƣớng khám phá có vai trò quan trọng trong việc  
hình thành và phát triển tƣ duy toán học về nguyên hàm, tích phân ở lớp 12 THPT.  
- Đề xuất một số biện pháp để phát triển tƣ duy và khai thác kiến thức nguyên  
hàm, tích phân ở lớp 12 THPT có tính khả thi và hiệu quả.  
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
   
7.2. Về mặt thực tiễn  
- Đƣa ra tƣơng đối đầy đủ quan điểm về hoạt động khám phá, bản chất và hình  
thức tổ chức đặc trƣng của DHKP trong dạy học môn Toán.  
- Nghiên cứu thực tiễn dạy học tích phân theo hƣớng khám phá hiện nay ở  
trƣờng THPT. Từ đó có thể sử dụng kết quả luận văn để làm tài liệu tham khảo cho  
GV dạy Toán khi vận dụng dạy học tích phân nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn  
Toán ở lớp 12 trƣờng THPT.  
8. Cấu trúc của luận văn  
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn đƣợc trình bày trong  
ba chƣơng:  
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.  
Chƣơng 2: Dạy học tích phân theo hƣớng khám phá  
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm  
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
 
Chƣơng 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN  
1.1. Vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học hiện nay  
1.1.1. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học  
Nghị quyết hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa XI (Nghị  
quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đặt ra  
nhiệm vụ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy  
tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc  
phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách  
nghĩ, khuyến khích tự học, tao cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ  
năng, phát triển năng lực”. [4]  
Sự phát triển xã hội và đổi mới đất nƣớc trong thời kỳ hội nhập đang đòi hỏi  
cấp bách nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Mục tiêu giáo dục trong thời đại  
mới là không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức, kỹ năng có sẵn cho HS  
mà điều đặc biệt quan trọng là phải bồi dƣỡng cho HS năng lực sáng tạo, năng lực  
giải quyết vấn đề. Trong quá trình dạy học, cùng với những thay đổi về mục tiêu, nội  
dung, cần có những thay đổi căn bản về phƣơng pháp dạy học (hiểu theo nghĩa rộng  
gồm cả hình thức, phƣơng tiện và kiểm tra, đánh giá). Tồn tại của PPDH hiện nay là  
việc GV thƣờng cung cấp cho HS những tri thức dƣới dạng có sẵn, thiếu yếu tố tìm  
tòi, khám phá; việc GV dạy chay, áp đặt kiến thức khiến HS thụ động trong quá trình  
chiếm lĩnh tri thức. Đây là những lý do dẫn tới nhu cầu đổi mới PPDH nhằm đáp ứng  
yêu cầu đào tạo con ngƣời lao động sáng tạo phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá -  
hiện đại hoá đất nƣớc.  
1.1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học  
Từ nhu cầu đổi mới PPDH, các nhà khoa học giáo dục nƣớc ta nhƣ Nguyễn Bá  
Kim, Nguyễn Hữu Châu, Thái Duy Tuyên, Trần Kiều, Trần Bá Hoành, ... đã khẳng  
định hƣớng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay là: “PPDH cần hướng vào việc tổ  
chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và  
sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu” [7, tr. 112].  
Cũng theo Nguyễn Bá Kim, định hƣớng trên có những hàm ý sau đây:  
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
         
- Xác lập vị trí chủ thể của HS, đảm bảo tính tự giác, tích cực và sáng tạo của HS.  
- Quá trình dạy học là xây dựng những tình huống có dụng ý sƣ phạm cho HS học  
tập trong hoạt động và bằng hoạt động, đƣợc thực hiện độc lập hoặc trong hoạt động.  
- Dạy việc học, dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học.  
- Chế tạo và khai thác những phƣơng tiện phục vụ quá trình dạy học.  
- Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của HS.  
- Xác định vai trò mới của GV với tƣ cách ngƣời thiết kế, uỷ thác, điều khiển  
và thể chế hoá.  
Vì vậy, định hƣớng đổi mới PPDH liên quan đến một tƣ tƣởng trong quá trình  
thực hiện đổi mới PPDH ở nƣớc ta đó là "Dạy học lấy học sinh làm trung tâm". Do  
đó, chúng tôi nhận thấy việc đổi mới PPDH hiện nay cần tiếp cận theo những định  
hƣớng này.  
1.1.3. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực  
Một PPDH nếu biết sử dụng đúng lúc, đúng cách đều có thể phát huy tính tích  
cực học tập của HS. Theo Trần Bá Hoành: "Học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi  
đi học, tính tích cực trong hoạt động học tập - về thực chất là tính tích cực nhận thức,  
đặc trƣng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm  
lĩnh tri thức [5, tr. 12].  
Trần Kiều cũng quan niệm: “Tính tích cực ở đây là tích cực trong hoạt động  
nhận thức, là tích cực một cách chủ động, đƣợc hiểu theo nghĩa là ngƣời học chủ  
động trong toàn bộ quá trình tìm tòi phát hiện và giải quyết nhiệm vụ nhận thức dƣới  
sự hƣớng dẫn, tổ chức của GV. Tính tích cực thể hiện ở các cấp độ: bắt chƣớc, tái  
hiện, tìm tòi, sáng tạo” [6, tr. 15].  
PPDH tích cực là thuật ngữ chỉ các PPDH có thế mạnh trong phát huy tính tích  
cực, chủ động, sáng tạo của HS. PPDH tích cực hƣớng tới việc hoạt động hoá, tích  
cực hoá HS. Có thể nêu bốn dấu hiệu đặc trƣng cơ bản của PPDH tích cực đó là:  
- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS.  
- Dạy và học chú trọng rèn luyện phƣơng pháp tự học.  
- Tăng cƣờng học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.  
- Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS.  
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
 
Dấu hiệu của tính tích cực rất đa dạng và việc tích cực hoá hoạt động nhận  
thức rất phức tạp. Việc tích cực hoá phải đem lại kết quả đƣợc nhận thấy ở sự tăng  
cƣờng độ, tốc độ, nhịp độ của hoạt động cũng nhƣ tính bền vững của quá trình nhận  
thức. Điều này giải thích quan niệm coi tính tích cực nhƣ là mức độ cao của hoạt  
động nhận thức. Nó đem lại hiệu quả trí dục và có ý nghĩa cải tạo đối tƣợng nhận  
thức. Cần phân biệt khái niệm tính tích cực với khái niệm tích cực hoá. Nếu tính tích  
cực là một phẩm chất của nhân cách, liên quan đến sự nỗ lực hoạt động của HS, thì  
tích cực hoá lại là việc làm của GV.  
1.2. Phƣơng pháp dạy học khám phá  
1.2.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu dạy học khám phá  
1.2.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
Cho đến nay, DHKP không còn xa lạ đối với nền giáo dục trên thế giới nói  
chung và Việt Nam nói riêng.  
Ngƣời đƣợc coi là đƣa ra cơ sở bƣớc đầu và khởi nguồn của lí luận DHKP là  
nhà triết học chuyên nghiên cứu tâm lý học thực hành và chuyên về sƣ phạm, ngƣời  
Đan Mạch – John Dewey (1859-1952) nhƣng làm việc và nghiên cứu tại Đại học  
Havard (Mỹ). Năm 1910, ông đƣa ra quan điểm về sử dụng tìm tòi, khám phá để dạy  
học khoa học. J.Dewey khuyến khích các GV khoa học sử dụng tìm tòi, khám phá  
nhƣ một chiến lƣợc dạy học. Theo mô hình của J.Dewey: trong quá trình dạy học, HS  
tích cực tham gia còn GV đóng vai trò là ngƣời điều khiển và hƣớng dẫn.  
Tuy nhiên, để có thể mở ra một thời kì mới cho việc xây dựng lí luận về hƣớng  
DHKP, không thể không nhắc đến những đóng góp to lớn của nhà sinh học, tâm lí  
học, ngƣời Thụy Sĩ – Jean Piaget (1896-1980) và nhà tâm lí học Xô Viết  
L.S.Vygotxki (1896-1934). Piaget tin tƣởng rằng trẻ em xây dựng kiến thức cho riêng  
mình. Ông đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giảng dạy trẻ em ở một mức  
độ phát triển thích hợp và coi trong vai trò của kiến thức đã biết. Còn quan điểm của  
Vygotxki, trẻ em sáng tạo ra các ý tƣởng riêng của mình. Là ngƣời phát triển các khái  
niệm về học tập hỗ trợ, kiến tạo xã hội, ông cũng đề xuất rằng vai trò của GV là để hỗ  
trợ và hƣớng dẫn học tập bẳng cách giúp HS phát triển những kĩ năng tƣ duy bậc cao  
hơn để sau đó họ có thể sử dụng một cách độc lập.  
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
   
DHKP chỉ thực sự đƣợc sử dụng rộng rãi ở nƣớc Mĩ nới riêng và trên toàn thế  
giới nói chung sau sự kiện Sputnik những năm giữa thế kỉ XX. Những ngƣời đại biểu  
cho lí luận DHKP thời kì này có thể kể đến Joseph Jackson Schwab (1909-1988),  
S.Jerome Bruner, J. Richard Suchman (1927-1991),v.v...  
Nối tiếp tƣ tƣởng của J.Dewey, Schwab (1960) – Giáo sƣ đại học Chicago -  
tiếp tục quan tâm lí luận dạy học khoa học bằng phƣơng pháp khám phá. Ông khuyến  
khích GV sử dụng phòng thí nghiệm để giúp HS học tập các khái niệm khoa học.  
Khá tƣơng đồng ý tƣởng của Schwab, với tác phẩm nổi tiếng “Quá trình giáo  
dục” (1960), J.Bruner đƣợc coi là một trong những ngƣời có công đầu tiên nghiên  
cứu để áp dụng thành công phƣơng pháp khám phá vào thực tiễn dạy học. Đó là một  
“văn bản mang tính bƣớc ngoặt”, trong đó, trẻ em đƣợc xem nhƣ những ngƣời hoạt  
động giải quyết vấn đề, sẵn sàng tìm tòi, khám phá và đối mặt với “khó khăn”. Tƣ  
tƣởng học tập khám phá của J.Bruner thực sự đã có ảnh hƣởng trực tiếp đến sự hình  
thành chính sách ở Mĩ và ảnh hƣởng đến suy nghĩ, định hƣớng của đông đảo GV, học  
giả thời kì này.  
Tuy nhiên, ngƣời đƣợc coi là cha đẻ của chƣơng trình dạy học khám phá đƣợc  
sử dụng rộng rãi khắp nƣớc Mĩ là J.Richard Suchman, ông cho rằng :“Khám phá là  
cách mọi người học khi họ đơn độc”. Đối với Suchman, khám phá là một cách tự  
nhiên mà loài ngƣời tìm hiểu về môi trƣờng của mình. Hãy nghĩ đến một đứa trẻ bị để  
một mình ở một sân chơi với một số đồ vật để em tự do khám phá. Đứa trẻ, không  
cần đến sự dỗ dành, sẽ bắt đầu khám khá các đồ vật bằng cách ném, sờ, kéo, đập  
chúng và cố lấy chúng đi. Đứa trẻ học về các vật dụng đó, và tìm hiểu xem các vật  
dụng đó tƣơng tác với nhau nhƣ thế nào, bằng cách khám phá chúng, bằng cách phát  
triển những ý tƣởng của bản thân em về các đồ vật đó – nói tóm lại tìm hiểu về các đồ  
vật bằng cách tự khám phá.  
Nhiều tác giả đã thảo luận về bản chất của khám phá và đã sử dụng những từ  
nhƣ suy nghĩ quy nạp, suy nghĩ sáng tạo, dạy học tự phát hiện, phƣơng pháp khoa học  
và những từ tƣơng tự. Với nhiều ngƣời, nhu cầu tìm hiểu sự cần thiết của khám phá  
có thể đƣa họ đến với John Dewey. Dewey đƣa ra ý kiến cho rằng khám phá là “sự  
tìm hiểu một cách chủ động, kiên trì và kỹ lưỡng về một niềm tin hoặc một dạng kiến  
thức nào đó từ những nền tảng hỗ trợ cho nó và những kết luận gần hơn với ý kiến  
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
đó”. Với Dewey, việc đặt nền móng cho “bất kỳ một niềm tin nào đó” xảy ra trong  
các quá trình khám phá: lý do, bằng chứng, sự suy diễn và sự khái quát hoá.  
Gần đây, các nhà giáo dục khoa học đã đƣa ra các danh mục khác nhau cho  
quá trình khám phá. Một trong những danh mục đó gồm có: quan sát, đo đếm, dự  
báo, suy diễn, sử dụng các con số, sử dụng các mối liên hệ không gian - thời gian,  
định nghĩa theo phƣơng pháp toán từ, xây dựng các giả thuyết, diễn giải các dữ liệu,  
kiểm soát các biến số, thử nghiệm và thông tin.  
Trong học tập, ngƣời học sẽ chủ động tham gia vào quá trình khám phá khi  
phải đối mặt với “tình huống với nhiều sự lựa chọn” hoặc một vấn đề làm các em  
lúng túng và gây ra một số lo lắng nhất định cho bản thân. Trong phƣơng pháp khám  
phá đƣợc trình bày ở đây, việc tạo ra những tình huống cần lựa chọn hoặc những vấn  
đề phức tạp là cần thiết đối với các hoạt động khám phá khoa học.  
1.2.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam  
Ở Việt Nam, vấn đề phát huy tính tích cực học tập của HS, giúp HS khám phá  
kiến thức cũng đƣợc đặt ra trong ngành giáo dục từ lâu và hiện nay đang đƣợc đặc  
biệt nhấn mạnh. Nhiều nhà sƣ phạm đã quan tâm tìm hiểu về DHKP, đƣa ra các quan  
niệm, thuật ngữ có thể không giống nhau nhƣng thống nhất về mặt tƣ tƣởng:  
“Dạy học tự phát hiện” (Đỗ Đình Hoan, Nguyễn Hữu Hợp).  
“Phƣơng pháp phát hiện lại” (Nguyễn Kỳ).  
“Kiến tạo – tìm tòi” (Đặng Thành Hƣng).  
“Dạy học khám phá”, “Dạy học khám phá có hƣớng dẫn”, “Dạy học bằng các  
hoạt động khám phá” (Trần Thúc Trình, Trần Bá Hoành, Bùi Văn Nghị,...)  
“Dạy học theo thuyết kiến tạo” (Phó Đức Hòa)  
Có thể thấy, vấn đề khám phá trong học tập đã đƣợc các tác giả quan tâm,  
nghiên cứu và vận dụng ở nhiều cấp độ khác nhau.  
Nghiên cứu về phƣơng pháp luận có thể kể đến một số công trình tiêu biểu của  
các nhà giáo dục học nhƣ:  
Các tác giả Nguyễn Hữu Châu, Cao Thị Hà với “Cơ sở lí luận của lí thuyết  
kiến tạo trong dạy học” [2]. Các tác giả đã phân tích cơ sở triết học, cơ sở tâm lí học  
và giáo dục học của thuyết kiến tạo, từ đó khẳng định DHKP là một trong những  
phƣơng pháp dạy học đặc thù của lí thuyết kiến tạo.  
10  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
Tác giả Phan Trọng Ngọ trong “Cơ sở triết học và tâm lí học của đổi mới  
phƣơng pháp dạy học trong trƣờng phổ thông” [8] đã trình bày lí thuyết kiến tạo nhận  
thức của J. Piaget và mô hình dạy học dựa vào sự học tập khám của J. Bruner. Từ đó  
tác giả kết luận: Ngày nay nhiều nhà sƣ phạm ủng hộ mô hình dạy học này, vì nó phù  
hợp với cách con ngƣời học và phát triển.  
Nghiên cứu DHKP ở cấp độ phƣơng pháp dạy học phải kể đến các nhà nghiên  
cứu tiêu biểu nhƣ:  
Đặng Thành Hƣng với “Dạy học hiện đại: Lí luận, biện pháp, kĩ thuật” [4] đã  
trình bày chức năng và những ứng dụng phƣơng pháp dạy học, đề cập đến kiểu  
phƣơng pháp dạy học kiến tạo, khám phá, tìm tòi với các mô hình phổ biến của nó.  
Trần Bá Hoành trong bài báo khoa học: “Dạy học bằng các hoạt động khám  
phá có hƣớng dẫn” [3] đã hệ thống lại mô hình dạy học theo Pavlov và Skinner, từ đó  
đƣa ra các luận điểm về dạy học bằng các hoạt động khám phá có hƣớng dẫn, bao  
gồm: hoạt động khám phá trong học tập, mục tiêu của hoạt động, các dạng hoạt động  
và hình thức tổ chức hoạt động.  
Trần Thúc Trình với “Phƣơng pháp khám phá trong nghiên cứu khoa học và  
trong dạy học”. [9] Bƣớc đầu nêu rõ đặc trƣng của “tìm tòi”, “khám phá”, đề cập đến  
một số đặc trƣng cơ bản và điều kiện thực hiện phƣơng pháp khám phá.  
Nhƣ vậy, điểm qua một số công trình nghiên cứu trên ta thấy: DHKP đã và  
đang thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả. Mặc dù mỗi công trình có thể xem xét  
DHKP theo các hƣớng khác nhau nhƣng đều cố gắng để HS có thể hoạt động đƣợc  
nhiều nhất, coi trọng vai trò tổ chức, điều khiển của GV và vai trò của các hoạt động  
tƣơng tác trong lớp học. Từ đó những nghiên cứu trên cũng khẳng định: việc sử dụng  
phƣơng pháp DHKP vào chƣơng trình Toán THPT là một trong những hƣớng góp  
phần thực hiện đổi mới phƣơng pháp dạy học ở nƣớc ta và cần đƣợc tiếp tục quan  
tâm nghiên cứu.  
1.2.2. Một số khái niệm cơ bản  
1.2.2.1. Khái niệm khám phá  
Theo từ điển tiếng Anh: “Discover” là khám phá ra, phát hiện ra, tìm ra, nhận  
ra, để lộ ra, phơi bày ra; là xác định sự tồn tại, sự hiện diện, một thực tế; là nhìn thấy  
11  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
 
lần đầu tiên; mang đến một sự thật, là tìm thấy cái mong muốn; thực hiện một tìm  
kiếm mới.  
Theo từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: Phát hiện là tìm ra cái chƣa biết, khám phá  
là tìm ra cái ẩn giấu, bí mật. Sự khám phá là hành động phát hiện thƣờng đƣợc hiểu là  
sau một quá trình tìm kiếm sẽ thấy đƣợc một đồ vật (hay một sự vật) bị che giấu hay  
chƣa đƣợc thấy.  
Ta có thể so sánh giứa “phát hiện” và “khám phá” nhƣu sau: phát hiện và  
khám phá đều là tìm ra cái chƣa biết, cài còn ẩn giấu. Nhƣng nhìn chung, nếu việc  
tìm ra cái gì đó do chợt thấy hay một cách tình cờ, ngƣời ta thƣờng nói đó là phát  
hiện. Cũng có khi tìm kiếm mãi chẳng đƣợc, nhƣng tại một thời điểm nào đấy chợt có  
đƣợc. Nếu việc tìm ra cái chƣa biết, cái còn ẩn giấu là một kết quả của một quá trình  
tìm tòi, nghiên cứu, ngƣời ta thƣờng nói đó là khám phá. Đồng thời khám phá là một  
quá trình có mục đích của việc chiếm lĩnh tri thức, giải quyết vấn đề.  
Từ đó, chúng tôi cho rằng: Khám phá là quá trình hoạt động và tư duy, có  
thể bao gồm quan sát, phân tích, nhận định, đánh giá, nêu giả thuyết, suy luận,..  
nhằm đưa ra những khái niệm, phát hiện ra những tính chất, quy luật,... trong các  
sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ giữa chúng.  
1.2.2.2. Khám phá trong nghiên cứu khoa học  
Các phƣơng pháp phát minh khoa học cũng chính là một quá trình khám phá  
và có các đặc điểm nổi bật của quá trình khám phá nhƣ:  
- Quan sát: Khoa học bắt đầu từ việc quan sát các hiện tƣợng tự nhiên. Đó là  
điểm khởi đầu của của sự khám phá. Tuy nhiên, việc đặt những câu hỏi đúng để gợi ý  
cho ngƣời quan sát là một yếu tố quyết định trong quá trình quan sát.  
- Đo lường : Mô tả định lƣợng sự vật, hiện tƣợng là một hoạt động thực hành  
khoa học đƣợc chấp nhận và mong đợi vì nó thể hiện sự chính xác trong quan sát và  
mô tả.  
- Trải nghiệm: Việc thiết kế các thí nghiệm là để trả lời các câu hỏi và kiểm  
nghiệm các ý kiến và là nền tảng của khoa học. Thí nghiệm bao gồm việc đặt câu hỏi,  
quan sát và đo lƣờng.  
- Giao tiếp: Việc thông báo những kết quả tìm hiểu đƣợc với hội đồng khoa  
học và cộng đồng là một nhiệm vụ của nhà khoa học và là một phần cần thiết của quá  
12  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
trình khám phá. Giá trị của những suy nghĩ độc lập và tính trung thực của báo cáo về  
kết quả quan sát, đo lƣờng sẽ đƣợc khẳng định nhờ hoạt động này.  
- Các hoạt động trí tuệ: một số thao tác trí tuệ không thể thiếu đối với việc  
khám phá khoa học là: qui nạp, phát biểu thành giả thuyết và học thuyết; thao tác diễn  
dịch cũng nhƣ thao tác phân tích, suy đoán, tổng hợp và đánh giá. Những thao tác trí  
tuệ của hoạt động khám phá khoa học có thể bao gồm nhiều hoạt động khác nhƣ  
tƣởng tƣợng hoặc yếu tố trực giác.  
1.2.2.3. Khám phá trong học tập  
Khám phá trong học tập không phải là một quá trình tự phát mà là một quá  
trình có hƣớng dẫn của GV, trong đó GV khéo léo đặt HS ở địa vị ngƣời phát hiện  
lại, ngƣời khám phá lại những tri thức di sản văn hóa của loài ngƣời, của dân tộc.  
Quyết định hiệu quả học tập là những gì HS làm chứ không phải những gì GV làm.  
Vì vậy, phải thay đổi quan niệm về giáo án, từ tập trung vào thiết kế các hoạt động  
của GV chuyển sang tập trung vào thiết kế các hoạt động của HS. Tuy nhiên, không  
nên cực đoan, có tham vọng biến toàn bộ nội dung bài học thành một chuỗi các hoạt  
động khám phá.  
1.2.2.4. Khái niệm dạy học khám phá  
Thuật ngữ dạy học khám phá (Inquiry Teaching) hay còn gọi dạy học dựa trên  
sự khám phá (Inquiry-Based Teaching) đƣợc xuất hiện và sử dụng với tƣ cách là một  
PPDH tích cực, năng động và sáng tạo. Xung quanh PPDH này hiện vẫn còn nhiều ý  
kiến tranh luận khác nhau về nội hàm khái niệm của nó cũng nhƣ việc sử dụng  
phƣơng pháp này trong các loại hình nhà trƣờng. Dƣới góc độ lý luận dạy học  
hiện đại ngày nay, DHKP đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm trong đó các  
PPDH tích cực khác nhau nhƣ : Dạy học tự phát hiện (còn gọi là học tập khám  
phá - Discovery Learning); Khám phá qui nạp (Inductive Inquiry); Khám phá  
diễn dịch (Deductive Inquiry); Dạy học khám phá dự án (hay là dạy học dự án -  
Project Based Inquiry),…  
Phƣơng pháp DHKP đƣợc xuất phát từ lí thuyết hoạt động của  
A.N.Leontiev và R.L.Rubinstein từ những năm 1940. Tuy nhiên, ngƣời có công  
nghiên cứu để áp dụng thành công phƣơng pháp DHKP vào thực tiễn dạy học là  
13  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 107 trang yennguyen 18560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Dạy học tích phân theo hướng khám phá cho Lớp 12 Trung học Phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_day_hoc_tich_phan_theo_huong_kham_pha_cho_lop_12_tr.pdf