Tóm tắt Luận án Nghiên cứu hoạt động Báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
BỘ Y TẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI  
TRẦN THỊ LAN ANH  
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG BÁO  
CÁO PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA  
THUỐC (ADR) TẠI MỘT SỐ BỆNH  
VIỆN ĐA KHOA TUYẾN TỈNH  
Chuyên ngành Tổ chức quản lý Dược  
Mã số : 62720412  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC  
Hà nội, năm 2017  
Công trình được hoàn thành tại :  
Trường Đại học Dược Hà Nội  
Người hướng dẫn khoa học :  
PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Hương  
PGS.TS.Nguyễn Hoàng Anh  
Phản biện 1 : ………………………………..........  
…………………………………………...................  
Phản biện 2 : ……………………………...............  
…………………………………………..................  
Phản biện 3 : ………………………………………  
…………………………………………...................  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận  
án cấp Trường họp tại : ……………………………...  
Vào hồi ….giờ……….ngày….....tháng…….. năm  
Có thể tìm hiểu luận án tại:  
Thư viện Quốc gia Việt Nam  
Thư viện Trường ĐH Dược HN  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Công tác theo dõi phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại Việt  
Nam đã được bắt đầu từ năm 1994. Báo cáo ADR từ nhân viên y tế  
hiện là phương pháp quan trọng nhất để giám sát phản ứng có hại của  
thuốc trong các cơ sở khám, chữa bệnh ở nước ta. Kể từ năm 2011,  
nhiều văn bản pháp quy được ban hành đã quy định cụ thể trách  
nhiệm báo cáo ADR cũng như hướng dẫn việc thực hiện công tác  
này trong các cơ sở khám, chữa bệnh. Căn cứ những tác động vĩ mô  
về mặt quản lý trên đây, từ cuối năm 2012, một số hoạt động hỗ trợ  
cho hoạt động báo cáo ADR thuộc dự án “Hỗ trợ hệ thống Y tế”, hợp  
phần 2.1 “Cảnh giác Dược” cũng đã được triển khai. Các giải pháp  
đã thực hiện tại các cơ sở khám, chữa bệnh có hiệu quả hay không và  
hiệu quả ở mức độ nào? Đến nay chưa có một nghiên cứu nào tại  
Việt Nam đánh giá một cách tổng thể hoạt động báo cáo ADR về  
thực trạng và hiệu quả của các giải pháp can thiệp. Trong mạng lưới  
cơ sở khám, chữa bệnh của nước ta hiện nay, hệ thống bệnh viện đa  
khoa tuyến tỉnh có số lượng báo cáo ADR gửi về Trung tâm  
DI&ADR Quốc gia cao hơn so với các bệnh viện chuyên khoa và các  
tuyến khác. Do đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Nghiên cứu hoạt  
động báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại một số bệnh  
viện đa khoa tuyến tỉnh” nhằm đánh giá hiệu quả của các giải pháp  
tác động vào hoạt động báo cáo ADR với các mục tiêu cụ thể sau:  
1. Phân tích thực trạng hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc  
tại ba bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010-2012.  
2. Đánh giá hiệu quả một số can thiệp đến hoạt động báo cáo phản  
ứng có hại của thuốc tại các bệnh viện trên.  
Từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động báo  
cáo phản ứng có hại của thuốc trong giai đoạn tiếp theo.  
1
Chương 1. TỔNG QUAN  
1.1. Cảnh giác Dược, phản ứng có hại của thuốc và hệ thống báo  
cáo tự nguyện  
Cảnh giác Dược (Pharmacovigilance), theo Tổ chức Y tế thế  
giới (WHO), được định nghĩa là môn khoa học và hoạt động chuyên  
môn liên quan đến việc phát hiện, đánh giá, hiểu và phòng tránh tác  
dụng có hại hoặc bất kỳ một vấn đề nào khác liên quan đến thuốc.  
Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction - ADR)  
được định nghĩa là phản ứng độc hại, không được định trước và xuất  
hiện ở liều thường dùng cho người để phòng bệnh, chẩn đoán bệnh  
hoặc chữa bệnh, hoặc làm thay đổi một chức năng sinh lý.  
Hệ thống báo cáo tự nguyện là hệ thống thu thập các báo cáo  
đơn lẻ về phản ứng có hại của thuốc và các vấn đề liên quan đến sử  
dụng thuốc, được các nhân viên y tế cũng như các công ty sản xuất  
kinh doanh dược phẩm báo cáo một cách tự nguyện về cơ quan có  
thẩm quyền quản lý về các phản ứng có hại của thuốc.  
1.2. Các phương pháp nghiên cứu và đánh giá thực hiện trong  
nghiên cứu về báo cáo ADR.  
1.2.1. Phương pháp nghiên cứu  
Mô tả thực trạng hoạt động báo cáo ADR và các yếu tố ảnh  
hưởng đến hoạt động này được các nhà nghiên cứu tiếp cận theo  
nhiều cách khác nhau. Dựa vào bản chất của nghiên cứu, có thể phân  
loại cách tiếp cận vấn đề thành hai phương pháp: định tính và định  
lượng, trong đó phương pháp định lượng được sử dụng trong phần  
lớn các nghiên cứu.  
2
1.2.2. Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo  
Một hệ thống báo cáo ADR tự nguyện hoạt động có hiệu quả  
phải đảm bảo được cả 2 yếu tố: số lượng và chất lượng báo cáo. Một  
số công cụ đã được xây dựng để đánh giá chất lượng các báo cáo tự  
nguyện về phản ứng có hại của thuốc. Trong đó phương pháp đánh  
giá chất lượng báo cáo ADR theo khuyến cáo năm 2013 của Trung  
tâm WHO-UMC có tính toàn diện cao, đơn giản trong việc thực hiện  
và tương đối phù hợp với đặc thù cơ sở dữ liệu ADR của Việt Nam.  
1.3. Thực trạng báo cáo ADR tự nguyện  
1.3.1. Thực trạng về kiến thức và thái độ của nhân viên y tế đối với  
hoạt động báo cáo ADR  
Dựa trên các quan điểm của Inman, nhiều nghiên cứu đã thực  
hiện khảo sát kiến thức và thái độ của NVYT đối với hoạt động báo  
cáo ADR bằng phương pháp phỏng vấn theo bộ câu hỏi có nhiều lựa  
chọn hoặc tính điểm theo thang đo Likert. Tuy nhiên các nghiên cứu  
cũng chỉ ra rằng không phải tất cả các lý do do Inman đưa ra đều  
hoàn toàn chính xác.  
1.3.2. Thực trạng chất lượng và số lượng báo cáo  
Hiện tượng số lượng và chất lượng báo cáo thấp hơn so với thực  
tế (under-reporting) vốn là một thách thức lớn của hệ thống báo cáo  
ADR tự nguyện ở khắp nơi trên thế giới. Tỷ lệ các ADR xảy ra trên  
thực tế lâm sàng được báo cáo với các ADR nghiêm trọng chỉ  
khoảng 10%-15%. Nội dung trong báo cáo thiếu các dữ liệu chính,  
thiếu kiểm soát và chưa hợp lý có thể là do nhân viên y tế thiếu thời  
gian để ghi chép, quên thông tin hoặc mắc sai số nhớ lại. Tại Việt  
Nam, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ báo cáo thấp hơn thực tế  
về số lượng ở các bệnh viện còn đang rất cao. Hiện tượng này gây  
3
khó khăn trong việc phát hiện và hình thành giả thuyết về các nguy  
cơ an toàn một cách đầy đủ và toàn diện.  
1.4. Giải pháp và hiệu quả của các giải pháp nâng cao hoạt động  
báo cáo ADR  
Bảng 1.7. Tổng hợp một số kết quả về đề xuất các biện pháp  
nâng cao hoạt động báo cáo ADR của NVYT  
Các biện pháp được đề xuất  
Kết quả  
32,9%  
Hỗ trợ của khoa Dược/Phối hợp giữa các NVYT  
67,0%  
59,2%  
Báo cáo trực tuyến hoặc báo cáo qua điện thoại  
Phản hồi thông tin cho người báo cáo  
45,9%  
22,0%  
79%  
Tăng cường nhận thức của NVYT về vai trò của  
82,4%-92,1%  
63,3%  
báo cáo ADR  
Đào tạo, tập huấn kiến thức về ADR/ báo cáo  
79,5%  
ADR  
66,7%  
76,0%  
95,9%  
Tổng hợp một số kết quả về đánh giá tác động của các giải pháp  
can thiệp được tóm tắt ở bảng 1.8.  
Bảng 1.8. Hiệu quả của một số tác động đến hoạt động  
báo cáo ADR ghi nhận từ y văn  
Biện pháp can thiệp,  
Đánh giá can thiệp  
thời gian  
Gửi bản tin an toàn thuốc - Số lượng báo cáo tăng 49,2% so với  
1 tháng/lần trong 10 tháng  
thời điểm trước can thiệp  
4
Hỗ trợ tài chính (10 Euro Nhóm can thiệp: Số lượng báo cáo  
cho 1 báo cáo ADR) - 6 tăng 59% (40% báo cáo nghiêm  
tháng  
trọng)  
Nhóm chứng: số lượng báo cáo  
không thay đổi (32% báo cáo nghiêm  
trọng)  
Gửi bản tin về thông tin So sánh số lượng báo cáo của 2 nhóm  
ADR  
chứng và nhóm can thiệp (p=0,34)  
Chất lượng báo cáo của nhóm can  
thiệp cao hơn nhóm chứng (p=0,048)  
Trung vị (tứ phân vị 25%-75%) số  
lượng báo cáo trong khi can thiệp là  
224 (98-248) so với trước can thiệp  
là 40 (23-55)  
Hỗ trợ tài chính  
Đào tạo  
Đào tạo - 13 tháng  
Số lượng báo cáo ở nhóm can thiệp  
tăng 65,4% sau 8 tháng can thiệp,  
tăng cao nhất trong 4 tháng đầu.  
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
- Báo cáo ADR của 3 bệnh viện nghiên cứu (Bệnh viện đa khoa tỉnh  
Quảng Ninh, Bệnh viện đa khoa Đà Nẵng, Bệnh viện Nhân dân Gia  
Định) đã gửi về và được lưu trữ tại Cơ sở dữ liệu của Trung tâm DI  
& ADR Quốc gia từ ngày 1/1/2010 đến 31/12/2015.  
- Sổ theo dõi ADR của khoa Dược các bệnh viện trên  
- Bác sĩ, điều dưỡng tại các Khoa lâm sàng và dược sĩ tại Khoa Dược  
của 3 Bệnh viện trên.  
5
- Các bệnh viện này được mã hóa theo các chữ số 1, 2, 3 trong  
nghiên cứu.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu  
- Mô tả cắt ngang  
+ Hồi cứu  
+ So sánh trước và sau can thiệp:  
Giai đoạn trước can thiệp (TCT): năm 2010-2012  
Giai đoạn sau can thiệp (SCT): năm 2013-2015  
+ Kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính.  
2.2.2. Chỉ tiêu nghiên cứu  
Bảng 2.13-2.15. Các chỉ tiêu nghiên cứu  
Chỉ tiêu về thực trạng tổ chức hoạt động và quản lý  
TT  
trong báo cáo ADR  
1
2
Tỷ lệ điểm đánh giá về cơ cấu tổ chức cho hoạt động CGD  
và ADR  
Tỷ lệ điểm đánh giá về cơ sở vật chất và nhân lực cho hoạt  
động CGD và ADR  
3
4
Tỷ lệ điểm đánh giá về các biểu mẫu liên quan ADR  
Tỷ lệ điểm đánh giá về hoạt động nghiên cứu liên quan đến  
an toàn thuốc trong bệnh viện  
5
Tỷ lệ điểm đánh giá về hoạt động thông tin và truyền thông  
Chỉ tiêu về thực trạng kiến thức, thái độ của NVYT đối  
với hoạt động báo cáo ADR  
6
7
8
Kiến thức của NVYT về định nghĩa ADR của WHO  
Kiến thức của NVYT về các trường hợp cần báo cáo ADR  
Thái độ của NVYT về vai trò của báo cáo ADR  
6
9
Thái độ của NVYT về nguyên nhân chưa báo cáo ADR  
10 Thái độ của NVYT về các khó khăn trong hoạt động báo  
cáo ADR  
11 Thời điểm gửi báo cáo ADR của NVYT  
12 Nơi gửi báo cáo ADR  
Chỉ tiêu về thực trạng báo cáo ADR  
13 Số lượng báo cáo  
14 Tỷ lệ báo cáo/1000 bệnh nhân nội trú  
15 Tỷ lệ báo cáo ADR nghiêm trọng  
16 Tỷ lệ báo cáo thiếu  
17 Tỷ lệ NVYT tham gia báo cáo  
18 Tỷ lệ khoa phòng tham gia báo cáo  
19 Tỷ lệ mức độ quy kết mối liên quan thuốc-ADR  
20 Tỷ lệ báo cáo chất lượng tốt  
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1.Thực trạng hoạt động báo cáo ADR tại 3 bệnh viện từ năm  
2010-2012  
3.1.1.Tổ chức hoạt động và quản lý trong báo cáo ADR  
Tổng hợp điểm đánh giá các yếu tố về tổ chức quản lý, nguồn  
lực và các yếu tố khác tác động đến hoạt động báo cáo ADR được  
thể hiện trong hình 3.5.  
7
BV1  
Cơ cấu tổ chức  
100,0  
80,0  
60,0  
40,0  
20,0  
0,0  
Hoạt động thông  
tin và truyền thông  
Cơ sở vật chất và  
nhân lực  
Hoạt động nghiên  
Biểu mẫu liên quan  
cứu  
ADR  
BV2  
Cơ cấu tổ chức  
100,0  
80,0  
60,0  
40,0  
20,0  
0,0  
Hoạt động thông  
tin và truyền thông  
Cơ sở vật chất và  
nhân lực  
Hoạt động nghiên  
cứu  
Biểu mẫu liên quan  
ADR  
8
BV3  
Cơ cấu tổ chức  
100,0  
80,0  
60,0  
40,0  
20,0  
0,0  
Hoạt động thông tin  
và truyền thông  
Cơ sở vật chất và  
nhân lực  
Biểu mẫu liên quan  
Hoạt động nghiên cứu  
ADR  
Hình 3.5. Tổng hợp điểm đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động,  
quản lý trong báo cáo ADR tại 3 bệnh viện  
Các BV đều đã thành lập Đơn vị Thông tin thuốc song chưa có  
bệnh viện nào thành lập đơn vị hoặc bộ phận liên quan đến an toàn  
thuốc. BV3 và BV1 đã ban hành quy trình chuẩn về báo cáo ADR.  
BV1 chưa có hệ thống ghi chép các câu hỏi về Thông tin thuốc.  
BV1 và BV3 đã triển khai được các mẫu báo cáo khác liên quan  
đến thuốc như chất lượng thuốc và sai sót trong sử dụng thuốc. Tuy  
nhiên, không bệnh viện nào trong số BV được khảo sát có mẫu báo  
cáo ADR dành cho người bệnh và mẫu báo cáo thất bại điều trị.  
BV2 và BV3 đều đạt tiêu chí về thực hiện việc thông tin các vấn  
đề an toàn thuốc tới NVYT, đảm bảo về khoảng thời gian thực hiện  
song chưa có BV nào có chương trình giáo dục truyền thông về an  
toàn thuốc cho bệnh nhân.  
9
3.1.2. Thực trạng về kiến thức, thái độ và thực hành báo cáo ADR  
của NVYT  
Số lượng nhân viên y tế hiểu đầy đủ về ADR theo định nghĩa  
của WHO chiếm tỷ lệ thấp (26,7%), trong đó, dược sĩ có tỷ lệ hiểu  
đầy đủ về ADR là 54,2%. “Bất cứ biến cố bất lợi nào” là trường hợp  
cần báo cáo được lựa chọn nhiều nhất (58,0%).  
Bảng 3.24.Thái độ của NVYT về vai trò của báo cáo ADR  
Số lượng  
Tỷ lệ %  
Tiêu chí  
NVYT trả lời  
(n=1248)  
Đảm bảo an toàn cho bệnh nhân  
1034  
82,9  
Xác định vấn đề liên quan an toàn  
thuốc  
879  
876  
868  
70,4  
70,2  
69,6  
Xác định và phát hiện ADR mới  
Chia sẻ thông tin ADR với đồng  
nghiệp  
Là một phần của công việc  
chuyên môn  
862  
686  
69,1  
55,0  
Xác định tần suất gặp ADR  
3.1.3.Thực trạng về báo cáo ADR giai đoạn 2010-2012  
Số lượng báo cáo ADR và báo cáo nghiêm trọng  
Bảng 3.27. Số lượng báo cáo và tỉ lệ báo cáo nghiêm trọng  
Báo cáo nghiêm trọng  
Số lượng Tỷ lệ (%)  
Tỉ lệ số báo  
cáo/1000  
Bệnh  
viện  
Số lượng  
báo cáo  
bệnh nhân nội trú  
BV1  
BV2  
BV3  
354  
267  
115  
317  
81  
90,1  
31,8  
63,5  
3,59  
1,25  
0,42  
73  
10  
Tỷ lệ báo cáo thiếu  
Bảng 3.28. Tỷ lệ báo cáo ADR thiếu ghi nhận tại Trung tâm  
DI&ADR Quốc gia so với bệnh viện  
Bệnh viện  
Số lượng  
BC tại TT  
110  
Số lượng BC  
tại BV  
223  
Chênh  
lệch  
113  
32  
Tỷ lệ  
thiếu  
BV1  
BV2  
BV3  
50,7%  
21,6%  
44,1%  
116  
148  
57  
102  
45  
Chất lượng báo cáo  
Chất lượng báo cáo ADR của 3 bệnh viện được đánh giá bằng  
cách tính điểm theo thang VigiGrade.  
100,0%  
80,0%  
60,0%  
40,0%  
20,0%  
0,0%  
1
0,969  
0,85  
0,8  
0,6  
0,4  
0,2  
0
0,761  
96,5%  
55,4%  
50,0%  
BV1  
BV2  
BV3  
Tỷ lệ báo cáo chất lượng tốt  
Điểm trung bình báo cáo  
Hình 3.8. Điểm trung bình báo cáo và tỷ lệ báo cáo chất lượng tốt  
tại 3 bệnh viện  
3.2. Đánh giá hiệu quả một số giải pháp nâng cao hoạt động báo  
cáo ADR  
3.2.1. Đánh giá tác động của các giải pháp nâng cao hoạt động báo  
cáo ADR  
Tổ chức hoạt động và quản lý trong báo cáo ADR  
11  
Kết quả đánh giá sự thay đổi về chỉ số này của 3 BV cho  
thấy các tiêu chí đánh giá về tổ chức hoạt động và quản lý của 3 BV  
thay đổi không đáng kể. BV2 đã ban hành quy trình báo cáo ADR do  
đó tỷ lệ điểm đánh giá cơ cấu tổ chức tăng từ 0% lên 18,2%. Cả 3  
bệnh viện đều có thay đổi điểm số về Cơ sở vật chất và nhân lực do  
đã cập nhật Hướng dẫn quốc gia về CGD.  
Kiến thức, thái độ của NVYT đối với hoạt động báo cáo ADR  
Kết quả cho thấy kiến thức về khái niệm ADR và cần báo cáo  
bất cứ biến cố bất lợi nào của thuốc có thay đổi rõ rệt ở cả 3 bệnh  
viện (p<0,05), trong đó ADR nghiêm trọng là loại báo cáo cần ưu  
tiên báo cáo thì chỉ có BV3 có tỷ lệ kiến thức hiểu biết tăng lên  
(71,4% giai đoạn 2 so với 58,8% giai đoạn 1, p<0,05).  
Đánh giá sự thay đổi về kiến thức và thái độ giữa các nhóm  
NVYT, nhóm dược sĩ không có sự thay đổi cả về kiến thức và thái độ  
đối với ADR và báo cáo ADR. Về kiến thức, tỷ lệ có kiến thức đúng  
đối với khái niệm ADR đều tăng trong giai đoạn SCT ở cả 2 nhóm  
bác sĩ và điều dưỡng, tỷ lệ có kiến thức đúng về cần thiết báo cáo  
ADR nghiêm trọng chỉ tăng lên ở nhóm điều dưỡng (64,9% so với  
59,2%). Về thái độ, cả 2 nhóm bác sĩ và điều dưỡng đều có tỷ lệ lựa  
chọn tăng lên (có ý nghĩa thống kê) ở hầu hết các khía cạnh về vai trò  
của báo cáo ADR ngoại trừ Chia sẻ thông tin ADR với đồng nghiệp.  
Số lượng báo cáo ADR  
Số lượng báo cáo ở cả 3 bệnh viện đều tăng lên trong giai đoạn  
SCT tuy nhiên trong giai đoạn 2010-2015, chỉ có BV2 và BV3 có xu  
hướng tăng (p<0,05); tỷ lệ báo cáo nghiêm trọng ở các bệnh viện  
TCT và SCT được trình bày ở bảng 3.34.  
12  
Bảng 3.341. So sánh tỷ lệ báo cáo nghiêm trọng và tỷ lệ báo  
cáo/1000 BN nội trú TCT và SCT  
Số lượng  
Tỷ lệ báo cáo nghiêm  
Tỷ lệ báo cáo/1000  
bệnh nhân nội trú  
Giá trị  
báo cáo  
trọng (%)  
Bệnh  
viện  
Giá  
TCT SCT TCT SCT  
TCT SCT  
p
trị p  
354  
267  
115  
367 90,1  
330 31,8  
285 63,5  
90,8 0,724 3,59 3,33 0,313  
45,1 0,001 1,25 1,41 0,138  
58,9 0,405 0,42 1,50 0,000  
BV1  
BV2  
BV3  
Bảng 3.35. Kết quả kiểm định xu hướng thay đổi số lượng báo  
cáo tại 3 bệnh viện  
Xu hướng tăng  
Bệnh viện  
Kendall’tau  
Giá trị p  
(p)  
BV1  
BV2  
BV3  
-0,079  
0,344  
0,250  
0,459  
0,003  
<0,01  
0,001  
<0,01  
Tỷ lệ báo cáo thiếu  
100,0%  
80,0%  
60,0%  
40,0%  
20,0%  
0,0%  
p=0,000  
50,7%  
TCT  
SCT  
p=0,000  
p=0,0045  
44,1%  
0,9%  
21,6%  
10,6%  
16,0%  
BV1  
BV2  
BV3  
Hình 3.121. Biểu đồ so sánh tỷ lệ báo cáo thiếu TCT và SCT  
13  
Chất lượng báo cáo  
Kết quả tổng hợp sự thay đổi về chất lượng báo cáo bao gồm  
tiêu chí về điểm chất lượng báo cáo, tỷ lệ báo cáo tốt và tỷ lệ các cặp  
thuốc-ADR có mối quan hệ nhân quả TCT và SCT được thể hiện  
trong bảng 3.37. Tỷ lệ báo cáo tốt ở BV2 và BV3 đều tăng lên ở giai  
đoạn SCT. Ngược lại, chỉ có 9,5% báo cáo được gửi từ BV1 có chất  
lượng tốt, giảm đi so với trước can thiệp (50%). Tuy nhiên tại BV2,  
tỷ lệ cặp thuốc-ADR có mối liên quan giảm từ 96,5% ở giai đoạn  
TCT xuống còn 83,9% ở giai đoạn SCT (p=0,000). Trong khi đó tỷ  
lệ này tăng ở BV1 và giảm ở BV3 song không có ý nghĩa thống kê.  
Bảng 3.372. So sánh chất lượng báo cáo  
tại 3 bệnh viện TCT và SCT  
Bệnh  
viện  
Giá  
Chỉ tiêu  
TCT  
SCT  
trị p  
Trung vị điểm báo cáo  
(25%;75%)  
0,7  
0,7  
(0,7-0,9) (0,7-0,7)  
Điểm báo cáo trung bình  
Tỷ lệ báo cáo tốt (%)  
Tỷ lệ các cặp thuốc-ADR  
được xác định có mối  
quan hệ nhân quả (%)  
Trung vị điểm báo cáo  
(25%;75%)  
0,761  
50,0  
0,669  
9,5  
BV1  
0,000  
0,285  
86,1  
1
87,7  
1
(0,7-1,0) (0,7-1,0)  
Điểm báo cáo trung bình  
Tỷ lệ báo cáo tốt (%)  
Tỷ lệ các cặp thuốc-ADR  
được xác định có mối  
quan hệ nhân quả (%)  
14  
0,850  
55,4  
0,839  
68,8  
BV2  
0,001  
0,000  
96,5  
83,9  
Điểm báo cáo trung bình  
Trung vị điểm báo cáo  
(25%;75%)  
0,969  
1,0  
0,999  
1,0  
(1,0;1,0) (1,0;1,0)  
BV3  
Tỷ lệ báo cáo tốt (%)  
Tỷ lệ các cặp thuốc-ADR  
được xác định có mối  
quan hệ nhân quả (%)  
96,5  
100  
0,002  
0,349  
95,5  
93,1  
3.2.2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các  
giải pháp can thiệp  
Tổ chức hoạt động và quản lý  
Khi tìm hiểu về các tác động của việc ban hành quy trình,  
quy định của bệnh viện, các ý kiến từ BV2 cho thấy các giải pháp đã  
thực hiện có hiệu quả tích cực như: số lượng báo cáo tăng, chất  
lượng báo cáo được cải thiện.  
“Khi xây dựng ra quy trình, điều dưỡng đã bắt đầu báo cáo  
và báo cáo nhiều hơn” (ĐDT - BV2)  
Bảng 3.38. Tổng hợp các ý kiến về khó khăn liên quan đến tổ  
chức hoạt động và quản lý trong báo cáo ADR  
Nội dung  
Bệnh viện  
Ý kiến  
BV2-TLN “Một báo cáo phản ứng dị ứng thuốc  
dài quá, mô tả hết thì làm sao mô tả  
được. Chỉ cần cái gì cần thiết thôi, để  
đánh giá có hay không có do thuốc”  
Mẫu báo cáo  
dài, nhỏ và  
phức tạp  
BV1-DS  
“Mẫu báo cáo khung nhỏ, phải viết  
nên giải trình không thoát ý”  
Không  
biết BV2-TLN “Nhà sản xuất thì có thể biết nhưng  
cách ghi các  
số lô mình không biết, phải đợi khoa  
15  
mục trong mẫu  
Dược đây”  
báo cáo  
BV3-TLN “Đã báo cáo cho Dược nhưng mà  
mình không biết là được sự phản hồi  
từ phía trên. Hoặc là những báo cáo  
nào được gửi đi và những báo cáo  
nào được trả lời”  
Không  
hồi, số lượng  
phản hồi ít  
phản  
BV2-TLN “So với số lượng báo cáo đã gửi thì  
số lượng thư phản hồi nhận có thể ít  
hơn”  
Nguồn lực  
Ở mỗi bệnh viện, sự phân công công việc cho cá nhân hoặc  
nhóm người chịu trách nhiệm về hoạt động báo cáo ADR khác nhau.  
Tuy nhiên toàn bộ hoạt động bộ phận này đều do bộ phận Dược lâm  
sàng của khoa Dược là đầu mối và giám sát. Tại bệnh viện đã có sự  
phân công trách nhiệm cho dược sĩ lâm sàng của các bệnh viện song  
thực tế họ vẫn còn kiêm nhiệm các công việc khác.  
Đối với điều dưỡng và dược sĩ trung học: Thiếu kinh nghiệm  
và trình độ chuyên môn nên chưa đáp ứng được yêu cầu công việc.  
“Dược sĩ Trung học và các cán bộ khác của Dược không làm được  
công tác đó” (PGĐ-BV1)  
Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng các giải pháp đã thực hiện  
cũng đã có tác động tích cực đối với kiến thức và thái độ của NVYT  
trong hoạt động báo cáo ADR.  
Về kiến thức của các NVYT, ý kiến từ một số cán bộ tham  
gia phỏng vấn tại BV2 cũng đã đánh giá các NVYT trong bệnh viện  
đã có khả năng thực hiện tốt công việc báo cáo ADR.  
16  
Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại về mặt kiến thức, thái độ  
của NVYT. Cả 3 bệnh viện đều nêu lên các khó khăn liên quan kiến  
thức của NVYT như xác định thuốc nghi ngờ ADR, ADR và khó  
khăn liên quan đến thái độ như Các ADR nhẹ không báo cáo. Ngoài  
ra, BV2 đề cập đến rào cản về Sợ quy kết trách nhiệm và thiếu thời  
gian báo cáo. Mặt khác, trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động báo cáo  
ADR và kê đơn thuốc còn nhiều hạn chế.  
Yếu tố khác  
Một yếu tố khác thu được từ kết quả nghiên cứu cho thấy  
hoạt động thông tin, truyền thông đã tác động đến hoạt động báo cáo  
ADR tại bệnh viện. Các thông tin về ADR, sử dụng thuốc an toàn  
trong bệnh viện được phổ biến, thông báo tới các NVYT có được  
thực hiện kịp thời mới thúc đẩy được hoạt động báo cáo ADR có  
hiệu quả. Trong đó hoạt động Xuất bản bản tin thông tin thuốc đã  
được BV2 triển khai thường qui. “Nguồn chính quy là thông tin  
thuốc hàng tháng của khoa Dược, bảng thông tin thuốc cập nhật  
những thuốc mới, những thuốc hay dị ứng chi đó, trong đó chủ biên  
là BGĐ, Trưởng khoa Dược. Hàng tháng mình (khoa Dược) sẽ phát  
cho toàn bệnh viện, cho các khoa” (DS-BV2)  
Ngoài ra BV1 thực hiện công tác truyền thông về hoạt động  
này thông qua hình thức: Thông báo của khoa Dược, bệnh viện và  
phổ biến trong giao ban, sinh hoạt khoa học. Bên cạnh đó, việc trao  
đôi thông tin trực tiếp giữa các NVYT cũng rất quan trọng, thông tin  
được truyền tải kịp thời hơn.  
Giải pháp  
Giải pháp liên quan tổ chức quản lý  
Liên quan đến mẫu báo cáo và hình thức báo cáo, các NVYT  
tại BV1 và BV2 đề xuất thay đổi mẫu để tạo được sự thuận tiện hơn  
17  
cho người báo cáo và tăng cường hình thức báo cáo trực tuyến. “Các  
khoa có thể báo cáo online sau đó gửi khoa Dược, khoa Dược chỉ cần  
copy vào báo cáo rồi gửi về Trung tâm” (DS-BV1)  
Giải pháp liên quan đến nguồn lực  
Để đảm bảo và tăng cường hoạt động báo cáo ADR nói riêng và  
sử dụng thuốc an toàn cho người bệnh, một số ý kiến cho rằng không  
chỉ bổ sung nhân lực Dược mà còn phải tăng cường đội ngũ điều  
dưỡng.  
Liên quan tới cơ sở vật chất cho hoạt động báo cáo ADR, các ý  
kiến đề xuất chủ yếu là các phần mềm hỗ trợ tra cứu hoặc tài liệu  
chuyên sâu “Có phần mềm để cho Dược hoặc là trên lâm sàng tra  
cứu những trường hợp ví dụ như thuốc sử dụng dài ngày xong bây  
giờ mới có ADR hay là nhiều thuốc không biết xác định là thuốc  
nào” (TLN-BV3)  
Giải pháp liên quan kiến thức, thái độ của NVYT  
Một vấn đề cần thiết để nâng cao hoạt động báo cáo ADR đó  
là thay đổi nhận thức của đội ngũ NVYT đặc biệt là những người  
trực tiếp.  
Để hỗ trợ cho các NVYT về kiến thức liên quan đến ADR và  
thay đổi thái độ của họ đối với hoạt động báo cáo ADR, giải pháp  
được đề xuất chủ yếu là Đào tạo, tập huấn. Hình thức và cách thức  
triển khai được các NVYT trình bày quan điểm bao gồm: tăng tần  
suất đào tạo, tổ chức đào tạo toàn viện hay theo khoa phòng chuyên  
môn thì sẽ chuyên sâu và mọi người tham gia đầy đủ hơn, đẩy mạnh  
việc đào tạo cho điều dưỡng đồng thời mở rộng các đối tượng tham  
gia đào tạo “Đào tạo mở rộng hơn cho nhân viên y tế, đối tượng bác  
sĩ và điều dưỡng mình với bài giảng của những chuyên gia thì theo  
em nghĩ nó sẽ hữu ích hơn.” (DS-BV3)  
Giải pháp hỗ trợ khác  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 21480 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Nghiên cứu hoạt động Báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_nghien_cuu_hoat_dong_bao_cao_phan_ung_co_hai.pdf