Luận văn Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC  
LÊ THÁI THANH  
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ  
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI BÌNH  
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY  
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC  
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục  
Mã số: 60 14 01 14  
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Viết Vượng  
HÀ NỘI - 2016  
LỜI CẢM ƠN  
Luận văn được thực hiện và hoàn thành với sự giúp đỡ, hướng dẫn của các  
thầy giáo, cô giáo, cán bộ trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội; sự  
giúp đỡ của Lãnh đạo và cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Bình.  
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy  
giáo, cô giáo, các cán bộ trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận  
tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu; xin được  
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Viết Vượng, người đã dành cho tác giả  
những lời chỉ dẫn ân cần cùng với những kiến thức quý giá trong quá trình thực  
hiện luận văn.  
Tác giả xin chân thành cảm ơn tập thể Lãnh đạo, chuyên viên các phòng, ban  
chuyên môn, nghiệp vụ Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Bình; Hiệu trưởng, Phó hiệu  
trưởng các trường THPT trong tỉnh đã động viên, đóng góp ý kiến, cung cấp thông  
tin, tư liệu cho tác giả trong quá trình điều tra, nghiên cứu. Xin gửi lời cảm ơn tới  
bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã tạo điều kiện, chia sẻ cùng tác giả trong quá  
trình học tập và nghiên cứu. Mặc dù đã nỗ lực, cố gắng song luận văn không thể  
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả kính mong nhận được sự chỉ dẫn quý báu của  
các thầy giáo, cô giáo và sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp để luận văn  
được hoàn thiện tốt hơn./.  
Xin chân thành cảm ơn!  
Thái Bình, ngày 20 tháng 11 năm 2016  
Tác giả  
Lê Thái Thanh  
 
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
CBQL  
Cán bộ quản lý  
CBQLGD  
CĐ  
Cán bộ quản lý giáo dục  
Cao đẳng  
CNTT  
CSTĐ  
Công nghệ thông tin  
Chiến sỹ thi đua  
CNH-HĐH  
CSVC  
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
Cơ sở vật chất  
ĐH  
Đại học  
NT  
Nhà trường  
KT-XH  
KTTHHN  
PCGDTH  
PCGDTHCS  
PHT  
Kinh tế - xã hội  
Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp  
Phổ cập giáo dục Tiểu học  
Phổ cập giáo dục Trung học phổ thông  
Phó hiệu trưởng  
PCGDTHCS  
QLNT  
QLHCNN  
GDTX  
GD&ĐT  
GDTX HN  
TCCB  
Phổ cập giáo dục Trung học cơ sở  
Quản lý nhà trường  
Quản lý hành chính Nhà nước  
Giáo dục thường xuyên  
Giáo dục và đào tạo  
Giáo dục thường xuyên hướng nghiệp  
Tổ chức cán bộ  
TCCN  
THCS  
Trung cấp chuyên nghiệp  
Trung học cơ sở  
THPT  
TH  
Trung học phổ thông  
Tiểu học  
UBND  
XHHGD  
Uỷ ban nhân dân  
Xã hội hóa giáo dục  
 
MỤC LỤC  
 
DANH MỤC BẢNG  
 
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ  
 
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Bước vào thế kỷ XXI, sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi  
mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục trong các nhà trường, đồng thời đòi hỏi  
giáo dục phải cung cấp được nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội, do vậy  
công cuộc đổi mới giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò, vị trí  
rất quan trọng. Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà  
nước ta đặc biệt coi trọng nhân tố con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là  
động lực của sự phát triển.  
Ngày11/10/2005 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 09/2005/QĐ-  
TTg, về việc phê duyệt đề án “Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán  
bộ quản lýgiáo dục giai đoạn 2005-2010”, với mục tiêu tổng quát là: “Xây dựng đội  
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, bảo đảm  
đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị,  
phẩm chất đạo đức lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà  
giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy  
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước’’.  
Thông báo số 242-TB/TW - Kết luận của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục  
thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục  
và đào tạo đến năm 2020, trong đó xác định: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ  
quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng”.  
Nghị quyết Đại hội XI xác định: Đổi mới giáo dục theo hướng “chuẩn hóa,  
hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”, trong đó “đổi mới cơ  
chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then  
chốt”.  
Để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại,  
chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến hàng loạt các yếu tố tác động đến cả hệ thống  
giáo dục. Một trong những yếu tố đó là đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục  
(CBQL).Vị trí của họ vô cùng quan trọng trong quá trình điều hành hệ thống  
giáo dục ngày càng mở rộng và phát triển.  
Ở nhà trường, cán bộ quản lý giáo dục có vai trò quyết định đối với toàn bộ  
hoạt động của nhà trường. Việc tạo ra sự thay đổi và quản lý được sự thay đổi trong  
1
 
nhà trường, huy động được mọi nguồn lực và sử dụng chúng một cách hiệu quả để phát  
triển nhà trường chính là mục tiêu của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục. Vì vậy, việc xây  
dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục được coi là một trong những giải  
pháp hàng đầu để giải quyết bài toán chất lượng giáo dục hiện nay. Đó cũng là một  
trong những quyết sách của Đảng, Nhà nước nhằm tạo được bước đột phá quan trọng  
trong phát triển giáo dục.  
Trong những năm qua, ngành giáo dục Thái Bình đã có nhiều nỗ lực trong việc  
xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn  
hóa và trên chuẩn. Cũng như cả nước nói chung, đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh  
Thái Bình đều được lựa chọn từ lực lượng giáo viên có trình độ chuyên môn giỏi,  
được trưởng thành và ghi nhận từ công tác chuyên môn. Tuy nhiên, việc chuyển đổi  
từ vai trò giáo viên sang vai trò quản lý trong khi chưa được bồi dưỡng về quản lý nhà  
nước, quản lý trường học; sự hạn chế về trình độ ngoại ngữ, tin học, tuổi đời còn trẻ,  
thiếu kinh nghiệm trong quản lý đã ít nhiều gây ra những khó khăn trong thực thi  
trách nhiệm và quyền hạn, đặc biệt khi được Nhà nước tăng cường quyền tự chủ, tự  
chịu trách nhiệm.Bên cạnh đó, công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh  
Thái Bình vẫn còn nhiều bất cập, chưa khắc phục được những mâu thuẫn mới nảy  
sinh giữa yêu cầu tiếp cận và đổi mới theo phương thức quản lý trường học hiện đại  
với trình độ, năng lực của đội ngũ CBQL còn hạn chế. Do đó chất lượng và hiệu  
quả giáo dục THPT chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Vì vậy, nghiên  
cứu để đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT trên  
địa bàn tỉnh Thái Bình là vấn đề có tính cấp thiết. Từ những chủ trương, chính sách  
của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục, trong đó đề cập đến vai trò, vị trí của đội  
ngũ cán bộ quản lý giáo dục, xuất phát từ tình hình thực tiễn như trên, với mong muốn  
góp phần vào sự nghiệp phát triển giáo dục THPT tỉnh Thái Bình trong thời kỳ mới tác  
giả chọn đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông  
tỉnhThái Bình trong giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng đội ngũ CBQL, luận  
văn đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT trong giai đoạn  
hiện nay ở tỉnh Thái Bình.  
2
3. Nhiệm vụnghiên cứu  
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ CBQL trường THPT.  
- Khảo sát thực trạng đội ngũ CBQL các trường THPT của tỉnh Thái Bình.  
- Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT trong giai  
đoạn hiện nay.  
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu  
4.1. Khách thể nghiên cứu  
Đội ngũ CBQL trường THPT của tỉnh Thái Bình  
4.2. Đối tượng nghiên cứu  
Biện pháp phát triển đội ngũ CBQL giáo dục trường THPT  
5. Câu hỏi nghiên cứu  
- Thực trạng đội ngũ CBQL các trường THPT của tỉnh Thái Bnh hiện nay  
như thế nào ?  
- Cần lựa chọn cách tiếp cận nào để phát triển đội ngũ CBQL các trường  
THPT ?  
- Cần có các biện pháp nào để phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT  
tỉnh Thái Bình đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay ?  
6. Giả thuyết khoa học  
Đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT tỉnh Thái Bình còn có những hạn chế về  
cơ cấu và chất lượng, các biện pháp phát triển đội ngũ còn nhiều bất cập. Nếu bám  
sát mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong thời kì công  
nghiệp hoá, hiện đại hoá, để đề xuất những biện pháp quản lý phát triển CBQL phù  
hợp, sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của cấp học này.  
7. Phạm vi nghiên cứu  
Đề tài nghiên cứu biện pháp phát triển đội ngũ CBQL cho các trường THPT  
trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Số liệu sử dụng từ năm hoc 2011-2012 đến nay.  
8. Phương pháp nghiên cứu  
8.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận  
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu lý thuyết, các văn  
kiện, văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu của Đảng, Nhà nước có liên quan đến  
vấn đề nghiên cứu.  
8.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
3
8.2.1. Phương pháp quan sát  
Quan sát các hoạt động quản lý giáo dục ở các trường THPT tỉnh Thái Bình  
với các hình thức: Tham quan cơ sở vật chất, trang thiết bị nhà trường; dự các buổi  
họp hội đồng giáo dục (kế hoạch, các văn bản chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ  
của CBQL).  
8.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi  
Xây dựng bảng hỏi, phiếu đánh giá dành cho đội ngũ CBQL trường THPT, cho  
cán bộ quản lý cấp Sở.  
8.2.3.Phương pháp phỏng vấn  
Tiếp xúc, trao đổi, phỏng vấn với CBQL của Sở Giáo dục và Đào tạo, CBQL  
trường THPT, giáo viên, để tìm hiểu về trình độ, năng lực của CBQL các trường.  
8.3. Các phương pháp hỗ trợ  
- Phương pháp thống kê toán học, phân tích số liệu  
- Phương pháp chuyên gia; trưng cầu ý kiến các chuyên gia để khảo nghiệm tính  
cần thiết và khả thi của biện pháp đề xuất trong đề tài.  
9. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  
9.1 Ý nghĩa lý luận  
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận việc phát triển đội ngũ CBQL các  
trường THPT  
9.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Đề xuất biện pháp nhằm phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Thái  
Bình góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của cấp học này.  
10. Cấu trúc luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo,  
luận văn được trình bày trong 3 chương:  
Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT  
Chương 2. Thực trạng phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Thái Bình  
Chương 3. Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT tỉnh  
Thái Bình  
4
CHƯƠNG 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN  
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề  
Thuyết quản lý theo khoa học của F.W.Taylor đang được truyền bá rộng rãi  
từ Mỹ sang châu Âu với ảnh hưởng lớn suốt nửa đầu thế kỷ XX, thì ở Pháp xuất  
hiện một thuyết mới thu hút sự chú ý - Henri Fayol (1841 – 1915). Ông đã tiếp cận  
vấn đề quản lý ở tầm rộng hơn và xem xét dưới góc độ tổ chức - hành chính. Với  
thuyết này, ông đã được coi là người đặt nền móng cho lý luận quản lý cổ điển, là  
“một Taylor của châu Âu” và là “người cha thực sự của lý thuyết quản lý hiện đại”.  
Qua đó, ông xác định nội hàm quản lý gồm 5 chức năng cơ bản sau: lập kế hoạch,  
tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Theo ông, người quản lí có đủ phẩm chất  
và năng lực kết hợp nhuần nhuyễn với các chức năng thì thực hiện được mục tiêu  
quản lí, mục tiêu của tổ chức đạt hiệu quả.  
Những năm cuối thập niên 60 của thế kỉ XX, khi các khái niệm “vốn con người”  
(Human Capital), “nguồn lực con người” (Human Resources) xuất hiện ở Hoa Kì, sau đó  
thịnh hành trên thế giới thì vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lí cũng được giải quyết  
với tư cách là phát triển một nguồn lực thuộc ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, nội dung và  
cách giải quyết vấn để có sự khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện thực tế của mỗi quốc  
gia, mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể.  
Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, xuất hiện những nhân tố mới trong tư  
duy quản lý, nó giải đáp về nguyên nhân sự thành công của doanh nghiệp. Hai  
chuyên gia tư vấn của công ty McKinsey là Tom Peters và Robert Waterman đã  
nghiên cứu một nhóm công ty hàng đầu tại Mỹ, như: Kodak, HP, IBM, Procter &  
Gamble, 3M ... và năm 1982 họ xuất bản quyển sách với tiêu đề “In Search of  
Excellence” bao gồm 7 yếu tố. Do 7 yếu tố trong tiếng Anh được viết bắt đầu từ chữ  
cái S, vì vậy mô hình tìm ra được đặt tên là mô hình 7-S. Trong 7 yếu tố này được chia  
thành nhóm yếu tố cứng và nhóm yếu tố mềm. Nhóm yếu tố cứng bao gồm: Structure  
(cơ cấu), Strategy (chiến lược), System (hệ thống); nhóm yếu tố mềm bao gồm: Skill  
(kỹ năng), Style (phong cách), Shared Values (Giá trị chung), đặc biệt là Staff (Đội  
5
       
ngũ) đã xuất hiện. Đôi ngũ được xác định là “số một”, khâu quan trọng nhất. Vì vậy,  
xây dựng và phát triển đôi ngũ ở mỗi đơn vị là việc làm thường xuyên liên tục.  
Trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu lý luận về quản lý giáo  
dục, các giải pháp phát triển giáo dục và phát triển đôi ngũ cán bô quản lý giáo dục.  
- Tác giả Đặng Quốc Bảo đề cập đến “Những vấn đề cơ bản về lãnh đạo -  
quản lý và sự vận dụng vào điều hành nhà trường” [3] đã giới thiệu và tổng hợp các  
yếu tố, phẩm chất, năng lực mỗi CBQL giáo dục cần có và cần đạt được; các vấn đề  
cốt lõi của lãnh đạo và quản lý cũng như việc thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý  
trong các nhà trường.  
- Cuốn sách “Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI - Chiến  
lược phát triển” Nxb Gáo dụ, Hà Nội, 2003 của Đặng Bá Lãm đã có những phân  
tích khá sâu sắc về giải pháp quản lý giáo dục [28, tr.283].  
- Tác giả Trần Khánh Đức trong cuốn "Giáo dục và phát triển nguồn nhân  
lực trong thế kỷ XXI” đã trình bày quan điểm, mục tiêu và biện pháp phát triển giáo  
dục và hệ thống giáo dục, làm rõ thêm nhận thức về chiến lược phát triển giáo dục  
cũng như phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI [21] .  
- Tác giả Nguyễn Tiến Đạt đã nghiên cứu những kinh nghiệm và thành tựu  
phát triển giáo dục và đào tạo trên thế giới, thông qua đó người đọc có thể so sánh,  
đối chiếu và nhận thấy được vai trò của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục  
ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, hiện đại [20], ngoài ra còn nhiều tài liệu khác  
đề cập đến vấn đề này.  
Về nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ  
CBQL giáo dục có một số luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục về đề tài quản lý giáo  
dục như:  
- “Biện pháp phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THCS ở huyện Sơn Động,  
tỉnh Bắc Giang” của Nguyễn Đức Dụng (2010).  
- “Biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc của  
Nguyễn Quang Tuấn (2011).  
-
“Các giải pháp xây dựng, phát triển giáo viên và đội ngũ CBQL  
trường THPT tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006-2010” của tác giả Phạm Đình Ly.  
6
Các tác giả đã dựa trên thực trạng kinh tế xã hội của từng địa phương nghiên  
cứu, phân tích vai trò, vị trí của CBQL trường THPT và đề xuất các giải pháp phù  
hợp, đóng góp đáng kể về lý luận và thực tiễn cho công tác quản lý trong nhà trường.  
Tuy nhiên, việc áp dụng các kết quả nghiên cứu trên để phát triển đội ngũ cán  
bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Thái Bình chưa thật sự đạt kết quả như  
mong đợi. Cho đến thời điểm 5 năm trở lại đây, tỉnh Thái Bình chưa có công trình nào  
nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ thông của  
tỉnh. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ quản lý giáo dục  
trường trung học phổ thông của tỉnh Thái Bình là cần thiết.  
1.2. Một số lý luận cơ bản về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên  
1.2.1. Quản lý  
Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm, để thực hiện mục tiêu  
mà họ không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ, thì cách QL đã là một yếu tố  
cần thiết để đảm bảo sự phối hợp của những cá nhân. Vì chúng ta ngày càng dựa  
vào sự nỗ lực chung, nhiều nhóm có tổ chức trở nên rộng lớn hơn, cho nên nhiệm  
vụ QL ngày càng quan trọng. Hoạt động QL bắt nguồn từ sự phân công lao động,  
mục đích của hoạt động quản lý nhằm tăng năng suất lao động, cải tạo cuộc sống.  
Để đạt được mục tiêu trên cơ sở kết hợp các yếu tố con người, phương tiện... thì cần  
có sự tổ chức và điều hành chung, đó chính là quá trình quản lý. Hiện nay vẫn còn  
tồn tại khá nhiều những khái niệm, định nghĩa về quản lý.  
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, tác giả người Mỹ  
H.Kootz đã đưa ra khái niệm “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối  
hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi  
nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt  
được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân  
ít nhất” .  
Theo W.Taylor (1856 -1915): Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác điều  
bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một  
cách tốt nhất và rẻ nhất [21, tr327].  
Mary Parker Follett định nghĩa: Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc  
thông qua con người[2, tr11].  
7
   
Tác giả Phạm Viết Vượng trong cuốn Quản lí hành chính nhà nước và quản lí ngành  
giáo dục đào tạo coi “Quản lí là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí lên đối tượng  
quản lí nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân  
hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [35, tr40].  
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh  
điển nhất về quản lí (có thể áp dụng trực tiếp cho phát triển đội ngũ) là: Quá trình tác  
động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể (đối  
tượng quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích  
của mình.[10, tr1].  
Như vậy, quản lí ở đâu và lúc nào cũng nhằm tới sự ổn định và phát triển của hệ  
thống, của sự vật.  
Xét dưới góc độ hoạt động thì quản lí có 4 chức năng cơ bản sau:  
- Chức năng lập kế hoạch: Xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức, dự kiến các hoạt  
động của một quá trình, một giai đoạn hoạt động hợp lí, các con đường, biện pháp, cách  
thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó, cụ thể là:  
+ Những hoạt động gì mà một người hay một tổ chức muốn làm  
+ Những hoạt động đó được thực hiện như thế nào  
+ Khi nào những hoạt động đó được thực hiện  
+ Ai là người thực hiện những hoạt động đó  
+ Nguồn lực gì là cần thiết để thực hiện những hoạt động đó  
+ Những hoạt động đó được diễn ra ở đâu  
Trong nhà trường, người CBQL trường học cần xác định được các mục tiêu  
phát triển của nhà trường và chương trình hành động phải được cụ thể hóa trước khi  
tiến hành thực hiện. Kế hoạch GD trong nhà trường bao gồm:  
+ Kế hoạch chiến lược dài hạn thực hiện trong một nhiệm kỳ 5 năm (những  
định hướng lớn, thể hiện hình ảnh hiện thực trong tương lai mà nhà trường mong  
muốn đạt tới và các giải pháp chiến lược để đạt được trên cơ sở khả năng hiện tại);  
+ Kế hoạch năm học (định ra cho toàn bộ các mặt công tác, các hoạt động của  
nhà trường trong một năm học);  
+ Kế hoạch tác nghiệp cho một thời kỳ ngắn (kế hoạch ngày, tuần, tháng, quý).  
8
- Chức năng tổ chức: Sự phân công, phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ  
chức để thực hiện các mục tiêu đã được đặt ra. Nhờ việc tổ chức hiệu quả, người quản lí  
có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các các nguồn lực. Có thể nói, thành tựu của một tổ  
chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lí.  
Quá trình của việc tổ chức bao gồm các bước sau đây:  
+ Xem xét những kế hoạch và mục tiêu: Điều này giúp nhà quản lý tổ chức  
con người và nhiệm vụ để đạt được những mục tiêu đã định.  
+ Xác định các hoạt động cần thiết để thực hiện các mục tiêu.  
+ Phân loại và nhóm các mục tiêu vào các đơn vị quản lý công việc mà luôn  
được tiến hành bằng cách kết hợp những kỹ năng với hoạt động cụ thể.  
+ Phân công công việc và nguồn lực: Đây là bước quan trọng trong quá trình  
của việc tổ chức, bởi vì người nào phải kết hợp với công việc đó và phải cung cấp  
được các nguồn lực để thực hiện những nhiệm vụ đã được phân công.  
- Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo): Khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình  
thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức.  
Đó là sự hướng dẫn, tác động để bộ máy hoạt động, là quá trình tác động của chủ thể  
quản lí. Thực hiện chức năng này, người quản lí phải biết quy tụ và gắn kết các thành  
viên trong tổ chức lại với nhau, khéo động viên, khích lệ để họ hoàn thành nhiệm vụ, đạt  
được mục tiêu của tổ chức.  
Khi thực hiện chức năng lãnh đạo/chỉ đạo, cần bám sát quá trình thực hiện kế  
hoạch, thu thập thông tin chính xác, biết phân tích, xử lý các nguồn thông tin và đưa  
ra kết luận đúng đắn để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa kế hoạch để đạt hiệu quả tối  
ưu cho hoạt động giáo dục từ đó nâng cao uy tín của người lãnh đạo nhà trường. Chú  
ý đảm bảo nguyên tắc phù hợp với pháp luật của Nhà nước, thực hiện nghiêm túc  
các văn bản pháp quy, quy chế của ngành giáo dục và đào tạo.  
- Chức năng kiểm tra: Đây là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lí. Lãnh đạo  
mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo. Kiểm tra nhằm nắm tình hình hoạt động  
của tổ chức, từ đó có sự điều chỉnh hoạt động của bộ máy theo mong muốn của nhà lãnh  
đạo để đạt được mục đích.  
Kiểm tra còn là một trong những điều kiện cơ bản để nâng cao hiệu quả quản  
lý quá trình giáo dục trong nhà trường. Việc kiểm tra, đánh giá phải dựa trên các tiêu  
9
chuẩn được xây dựng từ mục tiêu. Nhờ vậy, việc kiểm tra, đánh giá mới chính xác,  
khách quan. Kết quả của việc kiểm tra là khẳng định điều làm được hoặc chưa làm được  
theo kế hoạch. Từ đó, CBQL có các quyết định chỉ đạo tiếp để đạt được mục tiêu.  
Khi tiến hành kiểm tra, người CBQL cần phối hợp nhiều cách thức khác nhau  
như thông qua hồ sơ, sổ sách, trao đổi với giáo viên, cha mẹ học sinh, bản thân học  
sinh, với các tổ chức trong nhà trường để thu được thông tin khách quan, đáng tin  
cậy, toàn diện, đầy đủ và kịp thời. Việc kiểm tra phải hướng vào mục tiêu là nâng cao  
chất lượng giáo dục học sinh; Không nên quá chú trọng vào kết quả thu được của sự  
việc mà cần chú ý phân tích nguyên nhân sinh ra nó. Hình thức kiểm tra cần đa dạng  
như kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ và kiểm tra thường xuyên, kiểm tra theo  
chuyên đề…  
KẾ HOẠCH  
KIỂM TRA  
THÔNG TIN  
TỔ CHỨC  
CHỈ ĐẠO  
Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lí  
Bản chất của hoạt động quản lý:  
Quản lý về bản chất bao gồm quá trình “quản” và quá trình “lý”. Xét về ý  
nghĩa kinh tế - xã hội thì hoạt động quản lý bao gồm hai mặt gắn bó với nhau: Quản  
và Lý. Quản là coi sóc giữ gìn: duy trì sự ổn định của hệ. Lý là sửa sang, sắp xếp:  
đổi mới tạo ra sự phát triển của hệ. Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu hệ sẽ suy  
thoái. Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu sẽ dẫn đến rối ren.Quản lý nhằm ngăn  
chặn mọi sự suy thoái và rối ren. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản”  
tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên nếu chỉ quan tâm  
tới việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt nên tảng của  
sự ổn định, thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Trong “quản” phải có “lý”  
trong “lý” phải có” quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động, hệ vận động phù  
hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong với  
các nhân tố bên ngoài.  
10  
 
Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối  
hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua  
việc lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát.  
Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó; điều tiết được  
nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận. Quản lý là một hệ thống mở  
mà bản chất của nó là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực  
hiện các chức năng quản lý. Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa  
mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi, …  
chúng là những mặt đối lập trong một hệ thống nhất. Đó là biện chứng và bản chất  
của hoạt động quản lý”  
Như vậy: “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật; là  
khoa học vì nó là những tri thức được hệ thống hoá và là đối tượng nghiên cứu  
khách quan đặc biệt. Quản lý là khoa học nghiên cứu, lý giải các mối quan hệ, đặc  
biệt là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý. Là nghệ thuật bởi nó là hoạt  
động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và vận dụng linh hoạt trong việc sử dụng  
những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã được đúc kết nhằm tác động  
một cách có hiệu quả nhất tới khách thể quản lý.  
1.2.2. Quản lý giáo dục  
Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống có ý thức, hợp quy luật của chủ  
thể quản lý ở các cấp khác nhau lên tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm  
đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả  
về số lượng cũng như chất lượng. Hay nói cách khác: quản lý giáo dục là hệ thống  
những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể  
giáo viên, nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài  
nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục.  
Trong QLGD, chủ thể quản lí chính là bộ máy quản lí các cấp; đối tượng  
quản lí chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, kĩ thuật và các hoạt động thực hiện  
các chức năng của quá trình giáo dục, đào tạo.  
QLGD có những đặc trưng chủ yếu sau:  
+ Sản phẩm giáo dục là nhân cách, do đó QLGD trọng tâm là quản lí quá  
trình GD.  
11  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 115 trang yennguyen 10920 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_phat_trien_doi_ngu_can_bo_quan_ly_truong_trung_hoc.pdf