Luận văn Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của giáo viên tại các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Vũng Tàu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
BIỆN PHƢƠNG THẢO LINH  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÕNG CÔNG VIỆC  
CỦA GIÁO VIÊN TẠI CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC  
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
------------------  
BIỆN PHƢƠNG THẢO LINH  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÕNG CÔNG VIỆC  
CỦA GIÁO VIÊN TẠI CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC  
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU  
Chuyên ngành:  
Quản lý công  
Mã số:  
8340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGÔ THỊ ÁNH  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan rằng luận văn “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công  
việc của giáo viên tại các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Vũng Tàu” là  
bài nghiên cứu khảo sát của cá nhân tôi tìm tòi tham khảo nhiều tài liệu. Ngoài  
những tài liệu tham khảo đƣợc trích dẫn trong bài luận văn này, các thông tin số liệu  
thu thập cùng kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và hợp  
pháp. Các thông tin nghiên cứu của ngƣời khác đƣợc sử dụng và trích dẫn theo đúng  
quy định, nguồn gốc rõ ràng và đƣợc phép công bố.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 4 năm 2018  
Học viên thực hiện  
Biện Phƣơng Thảo Linh  
 
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
DANH MỤC HÌNH  
TÓM TẮT  
 
Tài liệu tham khảo  
PHỤ LỤC 5: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA SAIRA NAZ (2017)  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Bà Rịa Vũng Tàu  
BRVT:  
ĐN :  
Đồng nghiệp  
Giáo dục và Đào tạo  
Giáo viên  
GDĐT:  
GV:  
GVTH:  
HL:  
Giáo viên Tiểu học  
Hài lòng  
LĐ:  
Lãnh đạo  
TH:  
Tiểu học  
 
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
TÓM TẮT  
Nghiên cứu đƣợc thực hiện nhằm là xác định các yếu tố tác động vào sự hài  
lòng công việc của giáo viên trong các trƣờng Tiểu học công lập trên địa bàn tỉnh  
Bà Rịa Vũng Tàu, thông qua cách đặt các giả thiết, xây dựng và đánh giá thang đo  
đo lƣờng chúng. Mô hình lý thuyết này đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về  
sự hài lòng của giáo viên, các yếu tố tác động vào nó, cách thức nghiên cứu, đo  
lƣờng nó tại một số trƣờng học trên thế giới và nghiên cứu khám phá tại các trƣờng  
Tiểu học trên địa bàn thành phố Vũng Tàu, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm  
nâng cao sự hài lòng công việc của giáo viên trong các trƣờng Tiểu học trên địa bàn  
thành phố Vũng Tàu.  
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 5 yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của giáo viên  
các trƣờng Tiểu học trên địa bàn thành phố Vũng Tàu bao gồm : Hỗ trợ mục tiêu,  
Sự tự tin, Điều kiện làm việc, Mục tiêu công việc, Hiệu ứng tích cực Trong đó, yếu  
tố Hỗ trợ mục tiêu có tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của các trƣờng Tiểu học  
trên địa bàn thành phố Vũng Tàu và yếu tố Hiệu ứng tích cực có ảnh hƣởng thấp  
nhất. Qua đó, tác giả đề xuất năm nhóm kiến nghị nhằm góp phần nâng cao sự hài  
lòng của các trƣờng Tiểu học trên địa bàn thành phố Vũng Tàu nói riêng và các giáo  
viên các trƣờng mầm non nói chung bao gồm : Nâng cao sự hài lòng của giáo viên  
Tiểu học thông qua yếu tố Hỗ trợ mục tiêu; Nâng cao sự hài lòng của giáo viên Tiểu  
học thông qua yếu tố Sự tự tin; Nâng cao sự hài lòng của giáo viên Tiểu học thông  
qua yếu tố Điều kiện làm việc; Nâng cao sự hài lòng của giáo viên Tiểu học thông  
qua yếu tố Mục tiêu công việc; Nâng cao sự hài lòng của giáo viên Tiểu học thông  
qua yếu tố Hiệu ứng tích cực.  
1
CHƢƠNG 1: MỞ ĐẦU  
Trong chƣơng 1, tác giả nêu ra tổng quan nghiên cứu. Tổng quan này đề cập  
đến tính cấp thiết của đề tài đã chọn, đồng thời đƣa ra mục tiêu và câu hỏi nghiên  
cứu. Phạm vi nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu cũng đƣợc tác giả làm rõ trong  
chƣơng 1 này. Cuối cùng, tác giả nêu ra bố cục của luận văn.  
1.1 Tính cấp thiết của đề tài:  
Sự nghiệp ngành Giáo dục và Đào tạo đóng một vị trí quan trọng trong chiến  
lƣợc phát triển Kinh tế - Xã hội, xây dựng nhân lực của đất nƣớc. Theo Nghị quyết  
của Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nêu trọng tâm những nhiệm  
vụ của ngành trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc là:  
“Tiếp tục nâng cao giáo dục chất lƣợng toàn diện, đổi mới nội dung, phƣơng pháp  
dạy và học, hệ thống trƣờng lớp và hệ thống quản lý giáo dục”. Muốn tạo ra đƣợc  
bƣớc chuyển hóa cơ bản về chất lƣợng của giáo dục thì trƣớc hết đó là tạo sự gắn  
kết của đội ngũ giáo viên. Bởi vì đội ngũ giáo viên đƣợc xem là nhân tố tất yếu  
hàng đầu quyết định đến chất lƣợng Giáo dục và Đào tạo. Do vậy, việc nghiên cứu  
những yếu tố ảnh hƣởng tới sự gắn kết công việc của giáo viên viên tiểu học trên  
địa bàn thành phố Vũng Tàu luôn là yêu cầu cấp bách đáng để quan tâm.  
Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban chấp hành trung ƣơng ngày 04/01/2013 về đổi  
mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập  
quốc tế theo chủ trƣơng của, đã đƣa ra nhiều yêu cầu, thách thức cho các giáo viên  
nói chung, và giáo viên tiểu học nói riêng. Do những hoạt động và các điều kiện  
Giáo dục Sƣ phạm hiện nay theo một cơ chế “độc quyền”: Thứ nhất là chỉ có một  
tài liệu để dạy học; Thứ hai chỉ có một đƣờng hƣớng chuyên môn về Giáo dục; và  
cuối cùng đó là chỉ có duy nhất một cơ quan đƣợc quyền quyết định tất cả những  
vấn đề về chiến lƣợc giáo dục. Mọi chỉ thị triển khai từ Bộ Giáo dục và Đào tạo về  
Sở Giáo dục và Đào tạo, chuyển về các phòng Giáo dục và Đào tạo, tiếp theo về  
   
2
trƣờng, sau đó mới tới ngƣời giáo viên. Trong khi đó, chính họ những ngƣời trực  
tiếp đứng trên bục giảng mới là nhân vật trải nghiệm đƣợc nhiều nhất mọi bất cập  
đang tồn tại trong giáo dục. Thậm chí, khi có một sự thay đổi nào đó về chính sách  
đổi mới trong giáo dục, thì những ngƣời có quyền quyết định cũng chỉ nghe từ phía  
dƣ luận, chứ không tiếp thu ý kiến từ các giáo viên - những ngƣời đã trực tiếp đứng  
trên bục giảng. Dẫu biết rằng giáo dục hiện nay đánh mạnh đến yêu cầu đổi mới căn  
bản toàn diện, giáo viên phải dạy cho ngƣời học có tính sáng tạo, chủ động , nhƣng  
chính họ lại không thể đƣợc chủ động, sáng tạo thì cũng vô tác dụng. Cơ chế giáo  
viên bám chƣơng trình trong sách, bài bắt buộc, thời gian o ép, điều này khiến họ  
suy nghĩ ngôi trƣờng là nơi hoạt động theo phƣơng thức đƣợc pha chế sẵn hơn là  
việc tạo điều kiện cho giáo viên chủ động tự thực hành. Ngoài ra, theo nghiên cứu  
của Phó Giáo sƣ - Tiến sĩ Ngô Minh Oanh, Viện trƣởng của Viện nghiên cứu giao  
dục cho thấy, ngày nay các giáo viên phải chịu 86,6% áp lực từ nguyên nhân từ giấy  
tờ, sổ sách quá nhiều nhƣ theo thông tƣ 30/2014/TT-BGDĐT vào ngày 28/8/2014  
ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo  
viên phải thƣờng xuyên ghi chép vào nhiều giấy tờ sổ sách bằng những câu từ sao  
cho phù hợp học sinh thay cho điểm số thông thƣờng, khiến họ bị áp lực ảnh hƣởng  
rất nhiều đến thời gian chuyên môn giảng dạy.  
Có thể thấy Bậc Tiểu học đƣợc xem là bậc học rất vất vả nhất, các giáo viên  
tiểu học phải tiếp nhận mọi thứ về sự thay đổi mới giáo dục liên tục của Bộ đầu  
tiên, từ đó phải truyền đạt và dạy dỗ quán xuyến 45 cháu/lớp mỗi ngày. Nhƣng điều  
kiện đãi ngộ vẫn nhƣ xƣa, công việc nhiều hơn, cực hơn. Trong ba bậc cấp học:  
Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông thì cấp bậc Tiểu học là giáo viên  
không đƣợc cấp giấy phép dạy thêm học thêm, nói cách khác là bị cấm theo quy  
định pháp luật (tại khoản 2, Điều 4, Thông tƣ số 17/2012/TT-BGDĐT ngày  
16/5/2012 quy định không dạy thêm đối với học sinh Tiểu học), điều này vô hình  
dung làm nguồn thu nhập thêm của giáo viên Tiểu học không thể thực hiện. Không  
thể phủ nhận công việc của họ ngày càng nhiều hơn, cực nhọc hơn, nhƣng những  
3
điều kiện đãi ngộ lƣơng thƣởng thì vẫn nhƣ xƣa không thay đổi. Chính những nhân  
tố này đã ảnh hƣởng không hề nhỏ tới sự hài lòng trong công việc của Giáo viên  
Tiểu học ở địa bàn thành phố Vũng Tàu hiện nay, khiến họ chán nản, không tâm  
huyết và tập trung vào giảng dạy cho các học sinh - những mầm non tƣơng lai của  
đất nƣớc. Do vậy, để phát triển ngành Giáo dục Tiểu học thành phố Vũng Tàu nhu  
cầu phát triển nguồn lực giáo viên là nhiệm vụ cấp bách. Việc nghiên cứu tìm hiểu  
sự hài lòng đối với công việc của giáo viên tiểu học tại thành phố Vũng Tàu nhằm  
tìm ra các giải pháp mang tính chiến lƣợc từng bƣớc ổn định và phát triển nguồn lực  
giáo viên là công việc cần thiết. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên nên tôi  
quyết định chọn đề tài: “Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng công việc của giáo  
viên tại các trƣờng tiểu học trên địa bàn thành phố Vũng Tàu”.  
1.2 Mục tiêu nghiên cứu  
Nghiên cứu này nhằm xác định đƣợc mức độ hài lòng trong công việc của  
những giáo viên các trƣờng Tiểu học thành phố Vũng Tàu, đƣa ra các kiến nghị  
nhằm nâng cao sự hài lòng đối với công việc của giáo viên. Nói một cách cụ thể  
hơn, bài nghiên cứu này đƣợc thực hiện nhằm đạt đƣợc ba mục tiêu chính sau đây:  
- Xác định đƣợc các yếu tố có ảnh hƣởng đến sự hài lòng của Giáo viên Tiểu  
học đối với công việc.  
- Xác định mức độ ảnh hƣởng của từng yếu tố đến sự hài lòng trong công việc  
của giáo viên Tiểu học.  
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao sự hài lòng cho giáo viên các  
trƣờng Tiểu học thành phố Vũng Tàu.  
1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tƣợng nghiên cứu: Giáo viên tiểu học tại các trƣờng tiểu học trên địa bàn  
thành phố Vũng Tàu.  
- Phạm vi về mặt nội dung : nghiên cứu tìm hiểu đến sự hài lòng của Giáo viên  
tiểu học trên địa bàn thành phố Vũng Tàu trong công việc.  
   
4
- Phạm vi về không gian: thành phố Vũng Tàu bao gồm 16 phƣờng: 1, 2, 3, 4,  
Tam và 1 xã đảo Long Sơn. Hệ thống giáo dục các trƣờng học đƣợc công bố đều  
trên các khu dân cƣ trong thành phố. Theo thống kê hiện tại, trên địa bàn thành phố  
Vũng Tàu có 24 trƣờng tiểu học.  
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp nghiên cứu các nguồn từ những công văn,  
báo cáo, tờ trình của Phòng Giáo dục thành phố Vũng Tàu, Sở Giáo dục và Đào tạo  
tỉnh BRVT, Tỉnh ủy, UBND tỉnh BRVT, Sở nội vụ,… để miêu tả về tình hình thực  
trạng chất lƣợng đội ngũ giáo viên hiện đang công tác tại các trƣờng Tiểu học trên  
địa bàn thành phố Vũng Tàu. Dữ liệu sơ cấp đƣợc thu thập trong quá trình điều tra,  
khảo sát thực tế trong năm học 2015-2016 và 2016-2017. Trong năm học 2016-  
2017, thời gian thực hiện nghiên cứu, phân tích, đánh giá từ tháng 12/2017 đến  
04/2017  
1.4 Phƣơng pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu đƣợc thực hiện theo trình tự tổng hợp các vấn đề lý thuyết có liên  
quan đến sự hài lòng trong công việc đối với giáo viên, đánh giá thực trạng quá  
trình làm việc của giáo viên tiểu học tại thành phố Vũng Tàu hiện nay, trên cơ sở  
nền tảng của lý thuyết và khảo sát thực trạng xây dựng mô hình nghiên cứu và đề  
xuất các kiến nghị khả thi nhằm cải thiện thực trạng hiện tại. Đề tài này sử dụng  
những những phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ sau:  
Phƣơng pháp nghiên cứu định tính: Tác giả thực hiện phƣơng pháp định tính  
thông qua phỏng vấn chuyên gia. Để có những đánh giá sơ bộ về bảng câu hỏi,  
thang đo và các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của Giáo viên Tiểu học của  
Thành phố Vũng Tàu đối với công việc; tác giả xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn  
chuyên gia. Trƣớc khi thảo luận nhóm tác giả xác định rõ các mục tiêu, những ý  
kiến trao đổi, trong khi thảo luận nhóm ghi chép cẩn thận lắng nghe và tiếp thu ý  
kiến chuyên gia để có những hiệu chỉnh nhất định đối với mô hình nghiên cứu hoặc  
 
5
thang đo trƣớc khi khảo sát nghiên cứu định lƣợng. Đối tƣợng chuyên gia đƣợc  
thảo luận nhóm là: lãnh đạo Sở Giáo dục Bà Rịa – Vũng Tàu, Trƣởng/phó phòng  
phụ trách chuyên môn giáo dục tiểu học, Trƣởng/ phó phòng Giáo dục Thành phố  
Vũng Tàu, Hiệu trƣởng và giáo viên của một số trƣờng Tiểu học trên địa bàn thành  
phố Vũng Tàu.  
Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng: Thực hiện phƣơng pháp định lƣợng  
thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi khảo sát, sử dụng thang đo Likert  
5 mức độ cho quá trình nghiên cứu. Mẫu điều tra trong nghiên cứu chính thức đƣợc  
chọn lựa bằng cách lấy mẫu thuận tiện. Các dữ liệu đƣợc làm sạch, mã hoá các biến  
quan sát, nhập dữ liệu và lƣu trữ trên phần mềm Mircrosoft Excel 2007. Sau đó,  
phần mềm SPSS 20 đƣợc sử dụng để phân tích, kiểm định mô hình và các giả  
thuyết nghiên cứu.  
1.5 Ý nghĩa của đề tài  
Ý nghĩa về mặt lý luận  
- Nghiên cứu này đã phần nào khẳng định hệ thống thang đo các yếu tố ảnh  
hƣởng tới sự hài lòng đối với công việc nói chung và sự hài lòng của giáo viên tiểu  
học đối với công việc nói riêng.  
- Thông qua việc sử dụng các kết quả nghiên cứu của nƣớc ngoài có điều  
chỉnh và bổ sung các thang đo cho phù hợp với môi trƣờng giáo dục đào tạo ở Tp.  
Vũng Tàu là cần thiết. Qua đó, kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho các  
nghiên cứu sau về đo lƣờng sự hài lòng cùa giáo viên tiểu học đối với công việc  
giảng dạy.  
Ý nghĩa về mặt thực tiễn  
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cho các cấp lãnh đạo ngành giáo dục địa  
phƣơng, ban giám hiệu nhà trƣờng nhận ra các yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến sự  
hài lòng của giáo viên đối với công việc, và rồi từ đó quyết định đƣợc các giải pháp  
 
6
quản lý tốt nhất để nâng cao sự hài lòng của giáo viên sao cho hiệu quả hơn, qua đó  
nâng tầm đƣợc chất lƣợng đào tạo giáo dục, phát triển nhà trƣờng học tốt hơn.  
1.6 Kết cấu của luận văn  
Nội dung chính của luận văn có kết cấu gồm 5 chƣơng.  
Chƣơng 1. Mở đầu  
Chƣơng 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
Chƣơng 3. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Chƣơng 4. Kết quả nghiên cứu  
Chƣơng 5. Kết luận và kiến nghị  
 
7
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
Chƣơng 2 trình bày cơ sở lý thuyết và định hƣớng mô hình nghiên cứu cho  
luận văn. Tác giả đề cập đến các khái niệm liên quan, đƣa ra tổng quan các nghiên  
cứu trƣớc đây và cuối cùng đề xuất một mô hình nghiên cứu phù hợp để áp dụng  
đƣa đến kết quả nghiên cứu.  
2.1 Các khái niệm liên quan  
2.1.1 Khái niệm sự hài lòng trong công việc  
Nhiều chuyên gia đã nghiên cứu về vấn đề hài lòng công việc và đã đƣa ra các  
định nghĩa về sự hài lòng trong công việc. Mặc dù sử dụng rộng rãi trong nghiên  
cứu khoa học, cũng nhƣ trong cuộc sống hàng ngày, vẫn chƣa có khái niệm thống  
nhất về sự hài lòng công việc. Ngoài ra, thực tế cũng không có định nghĩa cuối cùng  
về công việc. Vì vậy trƣớc khi có thể đƣa ra một định nghĩa về sự hài lòng trong  
công việc, cần phải xem xét bản chất và tầm quan trọng của công việc làm cho tác  
giả khác nhau có các cách tiếp cận khác nhau để xác định sự hài lòng trong công  
việc. Các định nghĩa đƣợc đề cập nhiều nhất về sự hài lòng công việc nhƣ sau:  
Anderson (2001) định nghĩa sự hài lòng công việc là một trạng thái tình cảm  
thú vị hoặc tích cực do kết quả của quá trình gắn bó công việc hoặc kinh nghiệm  
làm việc của một ngƣời. Anderson (2001) ghi nhận rằng định nghĩa này kết hợp cả  
nhận thức và cảm xúc, Anderson cho rằng các kết quả sự hài lòng của công việc là  
do sự tƣơng tác của nhận thức lẫn ảnh hƣởng của suy nghĩ và cảm xúc. Robbins  
(2005) đồng quan điểm với với Anderson (2001) khi xác định sự hài lòng công việc  
nhƣ một tập hợp các cảm xúc mà một cá nhân nắm giữ đối với công việc của mình.  
Một ngƣời có mức độ hài lòng công việc cao sẽ có những cảm xúc tích cực đối với  
công việc trong khi một ngƣời không hài lòng với công việc của mình sẽ giữ những  
cảm xúc tiêu cực đối với nó. Do đó việc làm hài lòng là kết quả của phản ứng tổng  
thể đối với một công việc.  
     
8
Sự hài lòng công việc đƣợc nhìn nhận trong phạm vi sự khác biệt giữa những  
gì mong đợi so với những gì thực tế đƣợc trong môi trƣờng làm việc. Hewstone và  
Stroebe (2001) xác định sự hài lòng trong công việc nhƣ một phản ứng từ sự so  
sánh thực tế của các kết quả thực tế với kết quả mong muốn. Về khía cạnh này, việc  
thực hiện công việc đòi hỏi phải đáp ứng đƣợc những mong đợi và nguyện vọng của  
cá nhân về các vấn đề khen thƣởng và hoàn thành xuất sắc. Nếu những nhu cầu này  
đƣợc đáp ứng, nhân viên sẽ hài lòng với kết quả của công việc và sự hài lòng cao  
hơn sẽ khuyến khích nhân viên thực hiện nhiệm vụ của họ hiệu quả hơn, do đó làm  
tăng năng suất của tổ chức.  
Saiyadain (2007) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là trạng thái cuối  
cùng của cảm giác, cảm giác đƣợc trải nghiệm sau khi một nhiệm vụ đƣợc hoàn  
thành. Cảm giác này có thể là tiêu cực hoặc phụ thuộc vào kết quả của công việc  
đƣợc thực hiện. Tƣơng tự, sự hài lòng công việc là tập hợp cảm xúc và niềm tin mà  
mọi ngƣời có về công việc hiện tại của họ. Mức độ hài lòng công việc có thể đi từ  
sự hài lòng cực kỳ đến sự hoàn toàn không hài lòng. Con ngƣời cũng có thể có thái  
độ về các khía cạnh khác nhau của công việc của họ nhƣ là công việc họ làm, đồng  
nghiệp, ngƣời giám sát hoặc cấp dƣới và mức lƣơng của họ (George, J.M. và Jones  
G.R 2008)  
Darboe (2003) đã xác định sự hài lòng trong công việc khi mà nhân viên mang  
các cảm xúc tích cực hoặc tích cực về công việc hay môi trƣờng làm việc trong khi  
Faragher, Cass và Copper (2005) đã thêm một chiều hƣớng khác; bằng cách xác  
định nó nhƣ là mặt phản ứng sự tích cực về thái độ và cảm xúc của các cá nhân đối  
với công việc của họ.  
Sự hài lòng trong công việc có nghĩa là trạng thái tình cảm dễ chịu của cảm  
giác đó là kết quả của việc thực hiện công việc (Simatwa, 2011). Nhân viên hoạt  
động ở các mức độ hài lòng công việc khác nhau. Ngƣời nhân viên có mức độ hài  
lòng công việc cao cam kết thời gian, năng lực và nỗ lực làm việc của họ mang lại  
hiệu quả cao (Scott, 2004).  
9
Tƣơng tự nhƣ vậy, Schmidt (2007) nhận thấy rằng sự hài lòng công việc liên  
quan đến sự hiểu biết của một cá nhân về mức độ hấp dẫn của một công việc nếu cả  
kết quả tích cực và tiêu cực đƣợc cân nhắc với nhau. Đó là một phản ứng tình cảm  
đối với một công việc mà kết quả từ sự so sánh của ngƣời đó với những kết quả  
thực tế với kết quả mong muốn, mong đợi hoặc xứng đáng (Okpara, 2006).  
Sự hài lòng trong công việc là cảm giác thành công trong công việc. Nhìn chung nó  
đƣợc nhìn nhận là có liên quan trực tiếp đến năng suất cũng nhƣ phúc lợi cá nhân.  
Sự hài lòng trong công việc có nghĩa là làm một công việc hoàn thành tốt và đƣợc  
khen thƣởng cho những nỗ lực đó. Sự hài lòng trong công việc còn hàm ý sự nhiệt  
tình và hạnh phúc với công việc của một ngƣời. Sự hài lòng trong công việc là một  
thành phần quan trọng dẫn đến sự công nhận, thu nhập, thăng tiến, và đạt đƣợc các  
mục đích khác dẫn đến cảm giác hoàn thành (Kaliski, 2007). Sự hài lòng trong công  
việc cũng có thể đƣợc định nghĩa là mức độ mà một ngƣời lao động hài lòng với  
những phần thƣởng họ đạt đƣợc trong công việc của mình (Statt, 2004).  
Ngoài ra, sự hài lòng công việc có các thành phần cảm xúc, nhận thức và hành  
vi (Bernstein & Nash, 2008). Thành phần cảm xúc đề cập đến những cảm giác liên  
quan đến công việc, chẳng hạn nhƣ chán nản, lo lắng, hoặc phấn khích. Thành phần  
nhận thức của sự hài lòng công việc liên quan đến niềm tin liên quan đến công việc  
của một ngƣời, ví dụ, cảm thấy rằng công việc của một ngƣời là đòi hỏi tinh thần và  
thách thức. Cuối cùng, thành phần hành vi bao gồm hành động của con ngƣời liên  
quan đến công việc của họ, có thể bao gồm việc đi trễ, ở muộn, hoặc giả vờ bị ốm  
để tránh làm việc (Bernstein & Nash, 2008).  
Có hai loại sự hài lòng công việc dựa trên mức độ cảm xúc của nhân viên về  
công việc của họ. Loại đầu tiên, và đƣợc nghiên cứu nhiều nhất, là sự hài lòng công  
việc tổng thể, đề cập đến cảm giác tổng thể của nhân viên về công việc của họ (ví  
dụ: "Nhìn chung, tôi yêu công việc của tôi") (Mueller & Kim, 2008). Thứ hai là hài  
lòng về khía cạnh công việc, có nghĩa là cảm nhận về các khía cạnh công việc cụ  
thể, chẳng hạn nhƣ tiền lƣơng, lợi ích và chất lƣợng mối quan hệ với đồng nghiệp  
10  
của bạn (ví dụ: "Nhìn chung, tôi yêu công việc của mình, nhƣng lịch trình của tôi rất  
khó quản lý") (Mueller & Kim, 2008). Sự hài lòng công việc của giáo viên là sự hài  
lòng của giáo viên trong khi giảng dạy và mối quan hệ nhận thức giữa mong muốn  
và cung cấp cho một giáo viên (Zambylas và Papanastasiou, 2004).  
Sự hài lòng trong công việc là một biến phức tạp và bị ảnh hƣởng bởi các yếu  
tố tình huống của công việc cũng nhƣ các đặc điểm của cá nhân (Sharma & Ghosh:  
2006). Đó là một khái niệm phức tạp và đa chiều có thể có các ý nghĩa khác nhau  
tùy mỗi ngƣời. Sự hài lòng trong công việc thƣờng liên quan đến động cơ, nhƣng  
bản chất của mối quan hệ này không rõ ràng. Sự hài lòng không giống nhƣ động cơ.  
Sự hài lòng trong công việc là nhiều hơn về một thái độ. Ví dụ, nó còn liên quan  
đến cảm giác cá nhân về thành tựu mang tính định lƣợng hoặc định tính (Mullins,  
2005).  
Trên cơ sở các định nghĩa trên, trong nghiên cứu này, khái niệm về sự hài  
lòng công việc của giáo viên đề cập đến thái độ, nhận thức và cảm xúc của giáo  
viên đối với công việc của họ; nếu giáo viên có thái độ tích cực hoặc cảm xúc tốt về  
công hoặc cảm xúc tốt về công việc của họ, những phẩm chất này sẽ đƣợc dùng để  
mô tả một chiều hƣớng hài lòng.  
2.1.2 Khái niệm giáo viên tiểu học  
Giáo viên là ngƣời giảng dạy, giáo dục cho học sinh, lên kế hoạch, tiến hành  
các tiết dạy học, thực hành và phát triển các chƣơng trình học nằm trong lịch giảng  
dạy của nhà trƣờng không chỉ về mặt tri thức mà còn tƣ duy đạo đức. Đồng thời  
cũng là ngƣời đánh giá chất lƣợng từng học trò thông qua các bài kiểm tra, bài thi  
bằng cách ra đề, chấm điểm khách quan nhất. Những giáo viên giới tỉnh nữ đƣợc  
gọi là cô giáo, còn giáo viên giới tính nam thƣờng đƣợc gọi là thầy giáo. Trƣờng  
tiểu học là một cơ sở giáo dục của cấp tiểu học, là cấp học nền tảng của hệ thống  
giáo dục quốc dân. Trƣờng tiểu học có các lớp từ lớp 1 đến lớp 5 và có tƣ cách pháp  
nhân và con dấu riêng. Giáo viên tiểu học là những ngƣời có trình độ, kiến thức  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 129 trang yennguyen 10200 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của giáo viên tại các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Vũng Tàu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_cac_yeu_to_anh_huong_den_su_hai_long_cong_viec_cua.pdf