Luận văn Sự nhận thức và thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
------------------  
TRẦN THANH HÕA  
SỰ NHẬN THỨC VÀ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NGƢỜI DÂN VEN BIỂN  
HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
------------------  
TRẦN THANH HÕA  
SỰ NHẬN THỨC VÀ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NGƢỜI DÂN VEN BIỂN  
HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU  
Chuyên ngành: Quản lý công  
Mã số: 8340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS. TS. NGUYỄN HỮU DŨNG  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đề tài: “Sự nhận thức và thích ứng với biến đổi khí hậu trong  
sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa -  
Vũng Tàu” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận  
văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác./.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018  
Ngƣời thực hiện luận văn  
Trần Thanh Hòa  
   
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt Diễn giải tiếng Anh  
Diễn giải tiếng Việt  
Biến đổi khí hậu  
BĐKH  
ĐBSCL  
ĐBSH  
GTSX  
IPCC  
Đồng bằng sông Cửu Long  
Đồng bằng sông Hồng  
Giá trị sản xuất  
Intergovernmental Panel on Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi  
Climate Change  
khí hậu  
SXNN  
UNDP  
Sản xuất nông nghiệp  
United Nations Development Chương trình Phát triển Liên Hiệp  
Programme  
Quốc  
UNFCCC  
USAID  
United Nations Framework  
Công ước khung của Liên Hiệp  
Convention on Climate Change Quốc về Biến đổi khí hậu  
United States Agency for Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ  
International Development  
 
DANH MỤC HÌNH  
Hình 2.1 Khung phân tích sự nhận thức và thích ứng với BĐKH trong SXNN ......24  
Hình 3.2 Quy trình nghiên cứu của luận văn ............................................................36  
   
TÓM TẮT  
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những vấn đề đang được nhiều quốc  
gia trên thế giới quan tâm bao gồm cả Việt Nam và ngày càng có những tác động  
mạnh mẽ tới sản xuất nông nghiệp (SXNN). Các hiện tượng thời tiết cực đoạn như  
bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn kéo dài, hạn hán, xói lở bờ biển,… đã tác động rất  
lớn đến các hoạt động SXNN của người dân nhất là tại khu vực ven biển. Xuyên  
Mộc là huyện ven biển có tiềm năng phát triển SXNN của tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu,  
tuy nhiên lĩnh vực SXNN tại huyện luôn chứa đựng nhiều rủi ro và rất nhạy cảm  
trước các yếu tố cực đoan của BĐKH.  
Luận văn này góp phần đánh giá bước đầu về sự nhận thức và thích ứng với  
BĐKH trong SXNN của người dân ven biển huyện Xuyên Mộc, qua đó đưa ra  
những kiến nghị thích hợp nhằm nâng cao nhận thức và thích ứng với BĐKH trong  
SXNN cho người dân. Phương pháp phân tích được sử dụng chủ yếu là thống kê  
mô tả thông qua các nguồn số liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập tại địa bàn  
nghiên cứu là 03 xã ven biển Phước Thuận, Bưng Riềng và Bình Châu. Qua quá  
trình nghiên cứu, một số kết quả chính có được như sau: (i) Các biểu hiện về BĐKH  
tại Xuyên Mộc thể hiện như sau: Nhiệt độ trung bình từ năm 1980 đến năm 2016  
tăng 0,0220C/năm, độ ẩm tăng 0,08%/10năm nhưng khôn  
0,325  
cm/năm, tình hình thời tiết có những biến đổi thất thường theo hướng tiêu cực, các  
hiện tượng thời tiết cực đoạn xảy ra ngày càng nhiều; (ii) BĐKH có những tác động  
rất rõ đến các hoạt động SXNN của người dân, đa số người dân cho rằng các hiện  
tượng như bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn kéo dài, nắng nóng bất thường,… gây  
thiệt hại lớn đến năng suất, sản lượng các loại cây trồng, vật nuôi, làm hư hỏng  
chuồng trại, cơ sở hạ tầng phục vụ trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, dịch  
bệnh có nguy cơ bùng phát, thủy sản nuôi bị chết hàng loạt, nguồn lợi thủy sản ven  
bờ suy giảm,…; (iii) Người dân ven biển Xuyên Mộc đã áp dụng những biện pháp  
thích ứng với BĐKH trong SXNN như thay đổi giống cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật  
canh tác, cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi sang nghề nông nghiệp phù  
hợp hơn, nâng cấp, tu sửa cơ sở hạ tầng,…; (iv) Nghiên cứu cũng cho thấy được vai  
trò của chính quyền địa phương trong ứng phó với BĐKH để đảm bảo SXNN của  
người dân. Từ những kết quả trên, đề xuất các giải pháp cần phải thực hiện đồng bộ  
nhằm giúp người dân ven biển nâng cao nhận thức về BĐKH để có thể chủ động  
thích ứng với những tác động mà BĐKH gây ra cho SXNN.  
1
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU  
Chương này trình bày các nội dung tổng quát của đề tài, đặt vấn đề nghiên  
cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương  
pháp nghiên cứu của đề tài.  
1.1 Đặt vấn đề  
Việt Nam được cảnh báo thuộc nhóm 5 nước trên thế giới bị tác động nặng  
nề nhất của BĐKH. Trong 5 nước này, Việt Nam nằm trong số hai nước có nguy cơ  
nhất cùng với Bangladesh. Thực tế trong 50 năm qua nhiệt độ trung bình ở Việt  
Nam tăng khoảng 0,7oC, mực nước biển dâng cao khoảng 20 cm. Thiên tai và các  
hiện tượng BĐKH đã tác động đến nước ta ngày càng khốc liệt. Ảnh hưởng của  
BĐKH ngày càng rõ rệt mà không còn là dự đoán nữa, cường độ triều cường, bão lũ  
liên tiếp xảy ra và không theo quy luật. BĐKH trong thời gian tới sẽ tác động rất  
lớn tới các nguồn nước, dòng chảy có xu hướng thấp đi, nhưng mùa lũ, có thể lại dữ  
dội hơn so với nhiều năm trước. Như vậy sự khắc nghiệt ngày càng gia tăng đối với  
nguồn tài nguyên nước của Việt Nam. Nước biển dâng, kèm theo bão tố, triều  
cường làm xâm nhập mặn, ngập lụt, xói lở sẽ ngày càng nghiêm trọng1.  
Bà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh ven biển được đánh giá sẽ chịu tác động mạnh của  
BĐKH và nước biển dâng. Thực tế hơn 10 năm qua Bà Rịa - Vũng Tàu đã chịu tác  
động khá rõ của BĐKH với 02 cơn bão lớn kế tiếp (tháng 11-1997) và (tháng 12-  
2006) gây thiệt hại đáng kể về người và của mà theo thống kê trước đây, trung bình  
gần 100 năm Bà Rịa - Vũng Tàu mới có một cơn bão lớn. Với dải ven bờ dài  
156km (không kể Côn Đảo) là khu vực hết sức nhạy cảm với tác động của BĐKH.  
Nước biển dâng cùng với triều cường, sóng lớn và gió bão, chỉ sau một đêm làm xói  
lở và biến mất cả một dải đồi cát cao 3 - 4m rộng hàng chục mét và dài hàng trăm  
mét (khu vực cửa Lộc An năm 1997). Biến động bất thường của biển đã từng gây ra  
những hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với vùng ven bờ, bồi lấp luồng lạch các  
cửa sông, ven biển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Các khu vực đáng lo ngại nhất về  
xói lở và bồi lấp đã được nghiên cứu, xác định là khu vực Long Sơn thuộc thành  
phố Vũng Tàu; khu vực Cửa Lấp, Phước Tỉnh thuộc huyện Long Điền; Các khu vực  
cửa Lộc An thuộc huyện Đất Đỏ, khu vực Hồ Tràm, Hồ Cốc và khu vực Bình Châu  
1 http://baobariavungtau.com.vn/chinh-tri/201102/bien-doi-khi-hau-tac-dong-sau-sac-den-ba-ria-vung-tau-  
221485/  
   
2
thuộc huyện Xuyên Mộc. Như vậy, chắc chắn các ngành nông nghiệp, nuôi trồng  
thủy hải sản và nghề đánh bắt ven bờ, du lịch, các công trình xây dựng, cảng, đường  
giao thông và cư dân sinh sống ven bờ sẽ chịu ảnh hưởng lớn (Sở Tài nguyên và  
Môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, 2013).  
Nông nghiệp là lĩnh vực nhạy cảm đối với các yếu tố khí hậu như: Nhiệt độ,  
số ngày nắng, lượng mưa,… Vì vậy, BĐKH tác động rất lớn đến nông nghiệp. Đặc  
biệt là cuộc sống của người nông dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi mức độ xâm  
thực ngày càng lớn, đất nông nghiệp bị thu hẹp dần, cơ sở hạ tầng, hệ thống giao  
thông, thủy lợi bị hư hại.  
Xuyên Mộc là một huyện ven biển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có tiềm năng  
phát triển SXNN của tỉnh (có diện tích đất nông nghiệp chiếm 35% toàn tỉnh, giá trị  
sản xuất (GTSX) nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 chiếm trên 40% GTSX nông  
nghiệp toàn tỉnh, lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm  
40% toàn tỉnh). Tuy nhiên, việc SXNN lại lệ thuộc rất lớn vào điều kiện thiên nhiên  
mà nhất là hiện nay tình hình bão, lụt, hạn hán, nước biển dâng, xói lở bờ biển,…  
diễn ra ngày càng gây gắt do ảnh hưởng của BĐKH đã gây ảnh hưởng lớn đến  
SXNN và cuộc sống của người dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói chung và huyện  
Xuyên Mộc nói riêng.  
Do đó, việc thực hiện đề tài “Sự nhận thức và thích ứng với biến đổi khí  
hậu trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển huyện Xuyên Mộc, tỉnh  
Bà Rịa - Vũng Tàu” là việc làm có ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh hiện tại của  
huyện. Việc nhận thức và thích ứng với BĐKH trong SXNN của các nông hộ ven  
biển góp phần ổn định thu nhập, cuộc sống và phát triển nông nghiệp bền vững của  
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói chung và tại huyện Xuyên Mộc nói riêng.  
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu  
Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài đánh giá sự nhận thức và thích ứng với BĐKH  
trong SXNN của người dân ven biển huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, từ  
đó đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao nhận thức và thích ứng với  
BĐKH trong SXNN cho người dân ven biển trong thời gian tới. Các mục tiêu  
nghiên cứu cụ thể bao gồm:  
 
3
(i) Đánh giá thực trạng nhận thức về BĐKH cũng như những tác động của nó  
đến hoạt động SXNN của người dân ven biển huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa -  
Vũng Tàu.  
(ii) Đánh giá thực trạng về sự thích ứng với BĐKH trong SXNN của người  
dân ven biển huyên Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.  
(iii) Đề xuất các giải pháp phù hợp với bối cảnh địa phương nhằm nâng cao  
nhận thức và khả năng thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân ven biển  
huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.  
Câu hỏi nghiên cứu: Để đạt được 03 mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi  
nghiên cứu được đặt ra cụ thể như sau:  
Câu hỏi 1: Thực trạng nhận thức về BĐKH cũng như những tác động của nó  
đến hoạt động SXNN của người dân ven biển huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa -  
Vũng Tàu như thế nào?.  
Câu hỏi 2: Người dân ven biển huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu  
đã thực hiện những biện pháp gì để thích ứng với BĐKH trong SXNN?.  
Câu hỏi 3: Cần có những giải pháp nào để nâng cao khả năng nhận thức và  
thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân ven biển huyện Xuyên Mộc, tỉnh  
Bà Rịa - Vũng Tàu?.  
1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhận thức và  
thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân ven biển tại huyện Xuyên Mộc,  
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.  
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện Xuyên  
Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trong đó tập trung nghiên cứu sâu tại các xã ven biển  
có SXNN chịu tác động của BĐKH gồm: Phước Thuận, Bưng Riềng và Bình Châu.  
Ngoài ra, các thông tin, dữ liệu còn được thu thập tại các xã thuộc huyện Xuyên  
Mộc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Văn phòng Thường trực Ban Chỉ  
huy phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường  
tỉnh,… trong thời gian từ năm 2010 đến 2016.  
 
4
1.4 Phƣơng pháp nghiên cứu  
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định tính, thống kê mô tả và so sánh,  
đối chiếu với ý kiến khảo sát của người dân và phân tích tình huống thực tế để đưa  
ra các đánh giá và trả lời các câu hỏi nghiên cứu.  
1.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu  
Đề tài nghiên cứu tại các xã ven biển thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa -  
Vũng Tàu, gồm: Phước Thuận, Bưng Riềng và Bình Châu. Mỗi xã chọn thuận tiện  
35 hộ để nghiên cứu điều tra, phỏng vấn.  
1.4.2 Phương pháp thu thập số liệu  
Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ các cơ quan nghiên cứu, các cấp cơ quan  
quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.  
Số liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua phiếu khảo sát điều tra, phỏng vấn  
tại các xã nghiên cứu, mỗi xã điều tra 35 hộ.  
1.5 Bố cục luận văn  
Các nội dung nghiên cứu của đề tài được viết trong luận văn gồm 5 chương.  
Chương 1, trình bày vấn đề nghiên cứu đề tài và giới thiệu tổng quát về câu  
hỏi, đối tượng, phạm vi và cách thu thập, phân tích số liệu nghiên cứu, phương pháp  
nghiên cứu.  
Chương 2, trình bày chi tiết về cơ sở lý luận và thực tiễn về sự nhận thức và  
thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân.  
Chương 3, thể hiện các quy trình, phương pháp nghiên cứu được áp dụng  
trong quá trình thực hiện đề tài.  
Chương 4, phân tích kết quả nghiên cứu về những biểu hiện BĐKH và ảnh  
hưởng của nó đến hoạt động SXNN, đồng thời thể hiện được nhận thức của người  
dân về BĐKH cũng như những biện pháp mà người dân ven biển đã áp dụng trong  
hoạt động SXNN để thích ứng với BĐKH.  
   
5
Chương 5, đưa ra kết luận và đề xuất các kiến nghị để nâng cao khả năng  
nhận thức và thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân ven biển huyện  
Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.  
6
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
Nội dung của chương này nhằm mục đích giới thiệu những cơ sở lý luận và  
thực tiễn liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự nhận thức và thích  
ứng với BĐKH trong SXNN của người dân ven biển. Phần thứ nhất, giới thiệu  
những khái niệm về BĐKH, thích ứng với BĐKH, SXNN, vùng ven biển, các biểu  
hiện của BĐKH và ảnh hưởng của nó đến SXNN, cũng như nêu khái niệm về sự  
thích ứng với BĐKH trong SXNN. Phần thứ hai, trình bày những kinh nghiệm về  
sự nhận thức và thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân vùng ven biển  
của một số nước trên thế giới cũng như tại các tỉnh của Việt Nam. Phần thứ ba của  
chương, tác giả lược khảo một số nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài, từ đó đề  
xuất khung phân tích của đề tài.  
2.1 Cơ sở lý luận  
2.1.1 Biến đổi khí hậu (climate change)  
Theo Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC)  
thì “Biến đổi khí hậu là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người gây ra  
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và  
do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so  
sánh được” (United Nations, 1992).  
Theo Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2007) thì BĐKH là  
sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể nhận biết qua sự biến đổi về  
trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian  
dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên  
bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt  
tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển.  
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) định nghĩa BĐKH là sự biến đổi trạng  
thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong  
một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn.  
2.1.2 Thích ứng với biến đổi khí hậu  
Để ứng phó với BĐKH, thế giới đang thực hiện cùng lúc 02 chiến lược:  
Giảm thiểu BĐKH và thích ứng với BĐKH. Các thách thức đối với 02 chiến lược  
       
7
này đều rất lớn. Tuy nhiên, những thách thức này có thể được giải quyết thông qua  
những chính sách chủ động và phù hợp về khí hậu (Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài  
Thu, 2012).  
Năng lực thích ứng thường được xem xét trong bối cảnh thay đổi về môi  
trường để gắn kết giữa năng lực thích ứng với những vấn đề về quản trị môi trường.  
Gần đây, năng lực thích ứng được xem xét trong bối cảnh BĐKH toàn cầu. Năng  
lực thích ứng với BĐKH được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:  
IPCC (2007) định nghĩa thích ứng với BĐKH là khả năng tự điều chỉnh của  
một hệ thống trước sự biến đổi của khí hậu để làm giảm nhẹ các thiệt hại tiềm tàng,  
tận dụng các cơ hội, hoặc đương đầu với các hậu quả.  
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), thì thích ứng với BĐKH là sự  
điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc kinh tế - xã hội đối với hoàn cảnh hoặc môi  
trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và  
BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dung các cơ hội do nó mang lại.  
Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID, 2009) cho rằng thích ứng với  
BĐKH là năng lực của xã hội để thay đổi theo cách làm cho xã hội được trang bị tốt  
hơn để có thể quản lý những rủi ro hoặc nhạy cảm từ những ảnh hưởng của BĐKH.  
Mặt khác, theo Quyen Dinh Ha (2013) thì thích ứng với BĐKH còn có nghĩa  
là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổng thương.  
Cây cối động vật, và con người không thể tồn tại một cách đơn giản như trước khi  
có BĐKH nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình để thích ứng và  
giảm thiểu các rủi ro từ những thay đổi đó.  
Như vậy, có thể thấy rằng, năng lực thích ứng với BĐKH phản ánh khả năng  
của một hệ thống hoặc xã hội trong việc điều chỉnh hoặc ứng phó với BĐKH nhằm  
đạt được 3 mục tiêu: (i) giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH gây ra, (ii) giảm  
nhẹ các thiệt hại có thể xảy ra, và (iii) tận dụng các cơ hội mới do BĐKH mang lại.  
2.1.3 Sản xuất nông nghiệp  
Theo Vũ Đình Thắng (2006) thì nông nghiệp là một trong những ngành kinh  
tế quan trọng và phức tạp, vì cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm  
năng sinh học – cây trồng, vật nuôi. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa rộng bao gồm  
 
8
cả ngành lâm nghiệp, diêm nghiệp và thủy sản. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa  
hẹp là chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ. Trong đó, trồng  
trọt và chăn nuôi là hai ngành sản xuất chính của nông nghiệp.  
Ben G (2014) nêu khái niệm nông nghiệp là ngành có liên quan đến nuôi  
trồng và chăn nuôi gia súc. Thuật ngữ "nông nghiệp" có thể được định nghĩa là:  
Nghệ thuật và khoa học của cây trồng, cây trồng khác và vật nuôi nhằm cung cấp  
thực phẩm cho con người hoặc mang lại các lợi ích kinh tế khác. Nông nghiệp là cả  
một nghệ thuật và khoa học, nó có hai bộ phận chính: Thực vật hoặc trồng trọt và  
động vật hoặc chăn nuôi. Mục đích cuối cùng của nông nghiệp là để sản xuất thực  
phẩm, đáp ứng nhu cầu của con người quần áo, thuốc men, dụng cụ, nhà ở, hoặc  
cho lợi ích kinh tế hay lợi nhuận.  
Theo quan điểm của Đặng Thị Hoa (2017) thì SXNN là ngành sản xuất vật  
chất với đối tượng sản xuất chủ yếu là cây trồng, vật nuôi nhằm cung cấp các sản  
phẩm cho con người và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp.  
Với quan điểm này, tùy theo phạm vi và mục tiêu nghiên cứu mà SXNN có  
thể được hiểu theo nghĩa rộng (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp)  
hay nghĩa hẹp (trồng trọt, chăn nuôi).  
2.1.4 Vùng ven biển  
Ngân hàng phát triển tây Châu Phi (BOAD – Banque Ouest Africaine De  
Developpement, 1973) cho rằng không có định nghĩa chính xác về vùng ven biển.  
Họ cho rằng vùng ven biển bao gồm vùng nước, vùng biển, cửa sông và một số  
phần đất dọc bờ biển nơi có hoạt động của con người và các quá trình tự nhiên. Giới  
hạn của những vùng đất khác nhau được xác định không chỉ bằng sinh thái và địa  
chất, đặc điểm mà còn được xác định dưới góc độ chính trị và quản lý hành chính.  
Theo Scialabba and Nadia (1998), vùng ven biển được định nghĩa là giao  
diện hoặc các khu vực chuyển tiếp giữa đất liền và biển, bao gồm cả các hồ nội địa  
lớn. Vùng ven biển không giống như các lưu vực sông, không có ranh giới tự nhiên  
chính xác, rõ ràng để khoanh định khu vực ven biển.  
Đặng Thị Hoa (2017) định nghĩa vùng ven biển là các mảng không gian nằm  
chuyển tiếp giữa lục địa và biển, luôn chịu tác động tương hỗ giữa lục địa và biển,  
 
9
hệ tự nhiên và hệ nhân văn, các ngành và người sử dụng tài nguyên vùng bờ theo cả  
cấu trúc dọc và cấu trúc ngang, giữa cộng đồng dân địa phương và các thành phần  
kinh tế khác.  
Như vậy, vùng ven biển là dải tương đối hẹp của nước, đất đai và các yếu tố  
tự nhiên có tính năng là bãi biển, vùng đất ngập nước, cửa sông, đầm phá, các rạn  
san hô và cồn.  
2.1.5 Thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp  
Dựa trên những khái niệm, quan điểm về BĐKH, về thích ứng với BĐKH,  
về SXNN, và theo Đặng Thị Hoa và Chu Thị Thu (2013) thì thích ứng với BĐKH  
trong SXNN là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoạt động  
canh tác nông nghiệp nhằm giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH gây ra và có thể  
tận dụng các cơ hội do BĐKH mang lại cho SXNN.  
Như vậy, bản chất của thích ứng với BĐKH trong SXNN chính là thay đổi  
nhận thức, là thay đổi hành vi ứng xử của người dân nhằm ứng phó với các điều  
kiện khí hậu, thời tiết cực đoan ở hiện tại hoặc tiềm ẩn trong tương lai để giảm thiểu  
thiệt hại và có thể tận dụng các cơ hội của nó nếu có cho SXNN. Thích ứng với  
BĐKH trong SXNN là cách mà người dân làm để ngày càng giảm thiểu được thiệt  
hại do BĐKH gây ra cho SXNN, để hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, làm muối, nuôi  
trồng thủy sản,… ít bị tổn thương, giữ được năng suất cao và ổn định,… từ đó góp  
phần nâng cao kết quả và hiệu quả trong SXNN cho gia đình (Đặng Thị Hoa và Chu  
Thị Thu, 2013).  
Cũng theo nghiên cứu của Đặng Thị Hoa và Chu Thị Thu (2013) thì: (i)  
Nghiên cứu thích ứng với BĐKH trong SXNN bao gồm những nghiên cứu thích  
ứng với khí hậu hiện tại cũng như với khí hậu trong tương lai; (ii) Thích ứng diễn ra  
ở cả trong tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội. Tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội  
đều phải thích ứng ở mức độ nhất định với BĐKH, và ngay cả sự thích ứng này  
cũng thay đổi để phù hợp với các điều kiện mới của BĐKH; (iii) Thích ứng với  
BĐKH trong SXNN là đầu tư tập trung dài hạn và quy mô lớn (như đắp đập, các dự  
án tưới tiêu, bảo vệ vùng ven biển, cầu và hệ thống thoát nước mùa bão) và nếu  
được quan tâm tính đến trong giai đoạn đầu khi mới quyết định đầu tư thì chi phí  
đầu tư thích ứng sẽ ít tốn kém hơn nhiều so với điều chỉnh sau khi xây dựng. Vì thế,  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 97 trang yennguyen 16480 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Sự nhận thức và thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_su_nhan_thuc_va_thich_ung_voi_bien_doi_khi_hau_tron.pdf