Tóm tắt Luận án Nghiên cứu quản lý bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Ba trong bối cảnh biến đổi khí hậu

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. Hồ Chí Minh  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA  
--------------------  
LÊ ĐỨC THƯỜNG  
NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN NƯỚC  
LƯU VỰC SÔNG BA TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT  
Tp. Hồ Chí Minh, 2015  
Công trình này được hoàn thành tại Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG-HCM  
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS NGUYỄN THỐNG  
Người hướng dẫn khoa học 2: GS.TS TRẦN THỤC  
Người hướng dẫn khoa học 3: TS. CHÂU NGUYỄN XUÂN QUANG  
Phản biện độc lập 1:……………………………………………..  
Phản biện độc lập 2:……………………………………………..  
Phản biện 1:……………………………………………………..  
Phản biện 2:……………………………………………………..  
Phản biện 3:……………………………………………………..  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án họp tại  
........................................................................................................ ………………….  
........................................................................................................ ………………….  
Vào lúc …. giờ … ngày…. tháng…. năm…  
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:  
- Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM  
- Thư viện Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG-HCM  
MỞ ĐẦU  
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN  
Để góp phần thúc đẩy phát triển KTXH, phát triển bền vững TNN lưu LVS Ba  
trong bối cảnh BĐKH, cần thiết phải tiến hành tích hợp BĐKH trong quản lý tổng hợp tài  
nguyên nước (QLTHTNN) một cách khoa học và có hệ thống. Do đó, nghiên cứu đánh giá  
hiện trạng các hoạt động khai thác TN thiên nhiên nói chung và TNN nói riêng, tính toán,  
phân tích diễn biến TNN trong bối cảnh phát triển KTXH và tác động của BĐKH để từ đó  
xây dựng luận chứng khoa học giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách xác  
định các giải pháp quản lý với mục tiêu PTBV TNN cho lưu vực là hết sức cần thiết.  
2. MỤC TIÊU CỦA LUẬN ÁN  
- Xác định được cơ sở khoa học cho việc quản lý bền vững TNN LVS Ba trong bối  
cảnh BĐKH;  
- Đề xuất được các giải pháp quản lý bền vững TNN LVS Ba trong bối cảnh BĐKH.  
3. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN  
Luận án đã có những đóng góp mới như sau:  
(1) Đã đánh giá được hiện trạng TNN LVS Ba, tổng lượng nước đến và nhu cầu dùng  
nước của các vùng trên lưu vực. Theo đó:  
- Tổng lượng nước cần dùng cho các ngành trên toàn lưu vực trong giai đoạn hiện  
tại (2011) là 2.061.106 m3 và tăng lên 4.066.106 m3 vào năm 2020;  
- Với phương án hiện trạng thiếu nước cục bộ vào mùa khô thường xảy ra tại một số  
nơi như các đập dâng nhỏ Tây Nam An Khê có mức đảm bảo chỉ đạt 75,66%, các hồ đập  
vùng thượng Đồng Cam có mức đảm bảo 84,69%. Các khu vực phía sau đập thủy điện An  
Khê tình trạng thiếu nước cục bộ vào mùa khô giai đoạn 2000-2011 thường xuyên xảy ra  
hơn so với giai đoạn 1980 -1999;  
- Ở phương án 2020 nhu cầu dùng nước tăng lên nhưng do tác dụng điều tiết nước  
vào mùa cạn của các hồ chứa nên nhu cầu dùng nước trên toàn lưu vực được đáp ứng với  
mức đảm bảo khá cao, hiện tượng thiếu nước cục bộ vào mùa khô tại khu vực các đập  
dâng nhỏ Tây Nam An Khê có mức đảm bảo thấp nhất chỉ đạt 55,44%.  
(2) Đã định lượng khá đầy đủ những biến động TNN dưới tác động của BĐKH. Theo đó:  
- BĐKH và mực nước biển dâng đã đang và sẽ ảnh hưởng lớn đến TNN LVS Ba, lũ  
lụt có xu hướng hung giữ hơn, mặn xâm nhập sâu hơn. Kết quả tính toán cho thấy dòng  
chảy của LVS Ba có xu thế giảm và chỉ tăng vào mùa lũ. Ở thượng lưu, dòng chảy năm  
trung bình giảm từ 1,53-3,1%, dòng chảy mùa lũ trung bình tăng từ 0,26-3,99%, dòng chảy  
mùa cạn trung bình giảm từ 6,87-16,45%. Ở hạ lưu, dòng chảy năm trung bình giảm từ  
1
1,73-2,6%, dòng chảy mùa lũ trung bình tăng từ 0,53-4,27%, dòng chảy mùa cạn trung  
bình giảm từ 7,43-17,18%. BĐKH khiến lượng mưa mùa khô giảm dẫn đến giảm lượng  
dòng chảy mùa cạn làm cho mặn xâm nhập sâu vào trong sông, khoảng cách xâm nhập độ  
mặn lớn nhất 1‰ có thể tăng thêm khoảng 4,2 km, độ mặn cũng tăng lên đáng kể; Khoảng  
cách XNM độ mặn 4‰ có thể tăng thêm khoảng 3,7 km. BĐKH làm cho lượng mưa mùa  
mưa tăng dẫn đến gia tăng dòng chảy lũ gây ngập lụt ở khu vực hạ lưu có khả năng nghiêm  
trọng hơn. Kết quả tính toán cho thấy mực nước lũ tại Phú Lâm tăng từ 0,59-0,66 m; Lưu  
lượng đỉnh lũ 1% có thể tăng 16,72% ở thượng lưu và 21,8% ở hạ lưu; Diện tích ngập lụt  
tăng từ 1,42-2,85% ở kịch bản B1, từ 1,56-4,16% ở kịch bản B2 và từ 1,32-6,69% ở kịch  
bản A2. Tác động của BĐKH đã làm tăng đáng kể nhu cầu sử dụng nước của các ngành,  
nhất là nước cho nhu cầu tưới trong nông nghiệp. Vì vậy, thiếu nước cục bộ trên LVS Ba  
ngày càng trầm trọng hơn, đặc biệt vào mùa khô, nhu cầu tưới tăng lớn nhất có thể lên đến  
25,45%, lượng nước thiếu có thể tăng lớn nhất đến 37,09% so với KBN;  
- Từ kết quả đánh giá tác động của BĐKH đến TNN LVS Ba, luận án đã xác định  
các giải pháp thích ứng nhằm giảm thiểu tác hại do BĐKH gây ra với mục tiêu phát triển  
bền vững TNN được trình bày tại Bảng 4.10 của luận án.  
(3) Đã phân tích, đánh giá tương đối đầy đủ thực trạng phát triển TNN, xác định được các  
vấn đề còn tồn tại trong KTSD và QLTNN dưới các áp lực gia tăng dân số, phát triển  
KTXH, cũng như tác động của BĐKH đến TNN LVS Ba. Theo đó:  
- Việc khai thác TNN trên lưu vực còn nhiều hạn chế và bất cập, hiệu quả sử dụng  
các công trình về TNN còn thấp. Các nội dung của quy hoạch LVS Ba chưa rõ ràng và  
chưa đầy đủ, quy hoạch còn mang tính đơn ngành, đơn mục tiêu. Năng lực QLTNN còn  
nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế;  
- QLTHTNN chưa được thực hiện cho toàn lưu vực, tình trạng suy thoái TNN trên  
lưu vực ngày càng trầm trọng và có xu hướng tăng nhanh. Phương thức khai thác TNN  
trên lưu vực chưa thực sự bền vững, tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm nguồn nước ngầm, gia  
tăng ô nhiễm MT nước mặt lẫn nước ngầm. Trong quá trình KTSD TNN đã phát sinh mâu  
thuẫn giữa các địa phương với nhau, giữa trung thượng lưu với hạ lưu, giữa tưới và phát  
điện…các mâu thuẫn này ngày càng phức tạp.  
(4) Đã xác định được chỉ số dễ bị tổn thương TNN LVS Ba, từ đó đánh giá sự cần thiết  
phải tiến hành tích hợp vấn đề BĐKH trong QLTHTNN cho LVS Ba. Theo đó:  
- Chỉ số dễ bị tổn thương TNN LVS Ba là khá cao ở giai đoạn hiện trạng (VI =  
0,585), tăng đột biến đối với kịch bản tương lai khi có xét điến tác động của BĐKH (0,701;  
0,719) và giảm đáng kể tại kịch bản tương lai khi vấn đề BĐKH được tích hợp trong kế  
hoạch phát triển (0,575);  
2
- Từ chỉ số dễ bị tổn thương TNN đã xác định cho thấy rằng, mặc lưu vực có điều  
kiện tốt để PTBV nguồn nước, nhưng TNN trên LVS Ba đang đối mặt với nhiều thách  
thức như: Suy thoái do khai thác chưa hợp lý, quản lý chưa hiệu quả, chưa có giải pháp  
quản lý phù hợp. Để TNN trên LVS Ba PTBV cần được hỗ trợ không những về mặt kỹ  
thuật mà còn cả về mặt xây dựng năng lực quản lý.  
(5) Đã xây dựng quy trình tích hợp vấn đề BĐKH trong công tác QLTHTNN lưu vực  
sông, trên cơ sở đó kiến nghị việc lồng ghép các các giải pháp thích ứng với BĐKH trong  
QLTNN LVS Ba. Theo đó, quy trình tích hợp vấn đề BĐKH trong công tác QLTHTNN  
LVS với 7 bước: Bước 1: Sàng lọc tình trạng dễ bị tổn thương của TNN; Bước 2: Đánh giá  
chi tiết tình trạng dễ bị tổn thương của TNN do BĐKH; Bước 3: Xác định và lựa chọn các  
giải pháp thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực TNN; Bước 4: Rà soát các quy hoạch  
QLTNN, xác định mục tiêu QLTHTNN; Bước 5: Tích hợp vấn đề BĐKH vào QLTHTNN;  
Bước 6: Thực hiện QLTHTNN có tích hợp BĐKH; Bước 7: Giám sát và đánh giá.  
(6) Đã đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện việc QLTHTNN trong điều kiện BĐKH  
như: Xây dựng tổ chức LVS có cơ cấu phù hợp với đặc thù LVS Ba (trình bày tại Hình  
4.7); Đề xuất giải pháp thực hiện QLTNN theo nhu cầu; Điều chỉnh một số quy hoạch dựa  
trên các giải pháp thích ứng đã được tích hợp.  
4. CẤU TRÚC LUẬN ÁN  
Ngoài các phần mở đầu, kết luận kiến nghị và phụ lục, nội dung của luận án được  
trình bày trong 4 chương: Chương 1: Tổng quan về quản lý tổng hợp tài nguyên nước;  
Chương 2: Đánh giá tài nguyên nước lưu vực sông Ba; Chương 3: Cơ sở khoa học quản lý  
tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Ba; Chương 4: Kết quả và thảo luận.  
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC  
1.1  
KHÁI NIỆM QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC  
QLTHTNN là một quá trình sắp xếp, phân bổ và kiểm soát việc sử dụng nguồn  
nước trên nguyên tắc xem xét tổng hợp các mục tiêu KTXH và MT (Hình 1.1).  
Hình 1.1. Các thành phần và mối quan hệ của quản lý tổng hợp tài nguyên nước  
(Nguồn: Koudstaal, Rijsberman, Savenije)  
3
1.2  
QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở  
VIỆT NAM  
1.2.1 Quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên thế giới  
Trên thế giới đã có rất nhiều mô hình quản lý LVS như: Mô hình quản lý LVS của  
Morocco, của Pháp, của Mexico, của Mozambique và Australia... Việc học tập mô hình  
của các nước là cần thiết, tuy nhiên, khi áp dụng phải xem xét đến các điều kiện cụ thể của  
đất nước, của địa phương của từng khu vực trên lưu vực, có như vậy chúng ta mới hoạch  
định được một chiến lược QLTNN thực sự bền vững.  
1.2.2 Quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam  
Việt Nam là thành viên của Mạng lưới Cộng tác vì Nước toàn cầu và mạng lưới  
cộng tác vì nước khu vực Đông Nam Á (SEATAC – nay là SEARWP) từ những năm  
1997-1998. Mạng lưới Cộng tác vì Nước của Việt Nam (VNWP) được thành lập năm  
2000 và từ đó đến nay đã có nhiều hội thảo quốc gia và quốc tế được tổ chức. Sự ra đời của  
Luật TNN (1998), các văn bản liên quan như Nghị định 01/2008/NĐ-CP, Nghị định  
25/2008/NĐ-CP, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ  
NN&PTNT và Bộ TN&MT, chiến lược quốc gia về TNN đến năm 2020 được chính phủ  
phê duyệt năm 2006, mới đây nhất là Luật TNN sửa đổi (2013)…Hệ thống văn bản nói  
trên đã đưa ra được khuôn khổ chung về định chế cho việc thực hiện QLTHTNN và  
QLLVS ở nước ta, như vậy có thể khẳng định rằng Việt Nam đang tiệm cận với  
QLTHTNN, đây là bước tiến quan trọng để cải thiện tình hình QLTNN ở Việt Nam.  
1.3  
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC  
SÔNG BA VÀ CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN  
1.3.1 Các nghiên cứu về Tài nguyên nước lưu vực sông Ba  
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu sử  
dụng hợp lý TNN và bảo vệ MT. Nhìn chung, các nghiên cứu này đã thu được nhiều kết  
quả có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn, đã góp phần không nhỏ vào việc phòng chống,  
giảm nhẹ thiên tai, KTSD hợp lý TN và bảo vệ MT trên LVS Ba. Các công trình khoa học  
này sẽ là nguồn tư liệu quý để phục vụ mục tiêu của luận án.  
1.3.2 Những tồn tại trong nghiên cứu về Tài nguyên nước lưu vực sông Ba  
-
Phần lớn các nghiên cứu đã thực hiện đều tập trung vào lĩnh vực KTSD nguồn  
nước đáp ứng NCSDN, chưa xem xét đầy đủ các tác nhân có thể ảnh hưởng đến TNN cũng  
như chưa phân tích các yếu tố BĐKH lên nhu cầu và khả năng cấp nước của lưu vực;  
-
Các giải pháp về quản lý và bảo vệ nguồn nước của hầu hết các nghiên cứu mới  
chỉ dừng lại ở việc điều chỉnh trước mắt, chưa xem xét tích hợp vấn đề BĐKH trong việc  
đề xuất các giải pháp.  
4
1.3.3 Hướng tiếp cận và nội dung nghiên cứu của luận án  
Trên cơ sở phân tích, đánh giá đã thực hiện, luận án chọn hướng nghiên cứu với  
tiếp cận tổng hợp vừa mang tính kế thừa có chọn lọc, vừa mang tính sáng tạo và ứng dụng  
trong QLTNN với mục tiêu phát triển bền vững TNN. Sơ đồ tiếp cận nghiên cứu được biểu  
thị tại Hình 1.2.  
Hình 1.2. Sơ đồ tiếp cận nghiên cứu  
Nội dung cần thực hiện của luận án:  
1/ Nghiên cứu đánh giá hiện trạng TNN, sự biến động TNN, hiện trạng KTSD TNN;  
2/ Nghiên cứu xác định cơ sở khoa học thực hiện QLTHTNN LVS Ba;  
3/ Nghiên cứu xác định các giải pháp và công cụ tăng cường nhằm thực hiện QLTHTNN  
LVS Ba.  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1  
QLTHTNN là yêu cầu cấp thiết, đã, đang và sẽ thực hiện tại các LVS trên thế giới  
và ở Việt Nam. Tổng quan về vấn đề này, luận án đã tiến hành thu thập số liệu, tài liệu và  
những thông tin cần thiết liên quan đến nội dung nghiên cứu, từ đó tiến hành phân tích  
tổng quan về QLTHTNN ở Việt Nam và trên thế giới. Các kết quả nghiên cứu và kinh  
nghiệm thực tiễn trong việc QLTNN các LVS trên thế giới là nguồn tư liệu quý, có thể  
tham khảo ứng dụng cho các LVS ở nước ta.  
5
CHƯƠNG 2  
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA  
2.1 TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG BA  
2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội:  
Sông Ba là một trong những con sông lớn của cả nước và là con sông lớn nhất khu  
vực ven biển miền Trung. Phần lớn lưu vực nằm trong phạm vi ranh giới hành chính của 3  
tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Phú Yên. Dòng chính sông Ba bắt nguồn từ đỉnh núi cao Ngọc  
Rô 1.549 m của dải Trường Sơn. Từ thượng nguồn đến An Khê, sông chảy theo theo  
hướng Tây Bắc - Đông Nam sau đó chuyển hướng Bắc Nam, đến cửa sông Hinh chảy theo  
hướng gần như Tây - Đông rồi đổ ra biển Đông tại cửa Đà Rằng. Chiều dài sông chính là  
374 km, mật độ lưới sông 0,22 km/km2. Đại bộ phận diện tích LVS Ba nằm ở phía Đông  
Nam dãy Trường Sơn, nhưng ảnh hưởng của dãy đến khu vực này đã yếu dần và được thay  
thế bằng phông chung của nền cấu trúc khối tảng cao nguyên. Cùng với điều kiện phát sinh  
và hình thành cũng như các quá trình thoái hóa đất đã tạo nên một lớp phủ thổ nhưỡng đa  
dạng với 30 loại đất khác nhau, chính sự đa dạng về thổ nhưỡng này kết hợp với điều kiện  
địa hình và khí hậu thuận lợi làm cho thảm thực vật rừng trên LVS Ba phát triển mạnh, đây  
là khu vực có độ đa dạng sinh học khá cao ở nước ta.  
LVS Ba là LVS kém phát triển so với các lưu vực lân cận. Kinh tế trên lưu vực  
chủ yếu là nông nghiệp, với 80% dân số sống dựa vào nông nghiệp, tính đến 31/12/2011  
tổng dân số là 1.313.593 người, trong đó dân số sống trong khu vực thành thị là 299.410 người,  
khu vực nông thôn là 1.014.183 người, mật độ dân số phân bố không đều, trình độ dân trí  
chưa cao, có sự chênh lệch giữa đồng bằng và miền núi. Hạ tầng xã hội còn nhiều hạn chế  
và phân bổ không đều là tác nhân kiềm hãm sự phát triển. Tuy nhiên, trong những năm gần  
đây cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí có sự cải thiện đáng kể, tốc độ phát triển công nghiệp  
của các địa phương trên lư vực đã có những chuyển biến mạnh mẽ với tỷ trọng GDP ngành  
công nghiệp trong cơ cấu kinh tế ngày càng tăng lên.  
2.2  
HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA  
2.2.1 Số liệu quan trắc khí tượng thủy văn  
Mạng lưới trạm đo mưa tương đối nhiều nhưng phân bố không đồng đều trong các  
vùng trên lưu vực. Thời gian chuỗi số liệu quan trắc mưa của các trạm đo mưa nói chung còn  
ngắn và còn bị gián đoạn. Trên lưu vực có một số trạm đo mưa có thời gian quan trắc dài,  
trong đó vị trí một số trạm có những biến đổi qua các thời kỳ lịch sử đã ảnh hưởng đến tính  
đồng nhất của chuỗi số liệu quan trắc gây khó khăn cho việc sử dụng trong tính toán.  
Mạng lưới trạm khí tượng thuỷ văn hiện có trên LVS Ba vẫn còn quá ít và thưa  
thớt. So với nhiều năm về trước, số lượng các trạm khí tượng thuỷ văn trong lưu vực  
6
không những không tăng thêm mà còn bị giảm đi. Một số trạm thủy văn bị bỏ không tiếp  
tục quan trắc nữa như Krông H’năng, Sông Hinh… nên cũng có ảnh hưởng nhất định làm  
hạn chế độ chính xác của tính toán.  
2.2.2 Tài nguyên nước mặt  
Mưa năm: Mưa trên LVS Ba biến động lớn theo thời gian. Lượng mưa bình quân nhiều năm  
trên toàn LVS Ba khoảng 1760 mm, nhưng phân bố rất không đều ở các nơi trên lưu vực.  
Dòng chảy năm: Lượng dòng chảy năm trên LVS Ba không lớn với module dòng chảy Mo  
đạt 22,8 l/s.km2, hàng năm sông Ba đổ ra biển Đông khoảng gần 10 tỷ m3 nước.  
2.2.3 Tài nguyên nước dưới đất  
Tổng trữ lượng khai thác tiềm năng trên LVS Ba khoảng 18,3 triệu m3/ngày, trong đó,  
các tầng chứa nước lỗ hổng khoảng 1,4 triệu m3/ngày, bằng 8%; Các tầng chứa nước khe nứt  
khoảng hơn 16,9 triệu m3/ngày, bằng 92% tổng trữ lượng tiềm năng trong vùng.  
2.3  
BIẾN ĐỘNG CỦA TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA  
Mùa mưa và mùa khô: Chế độ mưa của LVS Ba khá phức tạp. Khi vùng thượng  
và trung du đã là mùa mưa nhưng ở vùng hạ du lại đang còn là thời kỳ khô hạn, khi thượng  
và trung du đã kết thúc mùa mưa nhưng vùng hạ du vẫn trong thời kỳ mưa lớn. Mùa mưa ở  
vùng thượng và trung du thường đến sớm từ tháng V và kết thúc vào tháng X hoặc tháng  
XI. Trong khi đó mùa mưa ở vùng hạ du đến muộn và kết thúc sớm, chỉ kéo dài từ 3 - 4  
tháng khoảng tháng IX đến tháng XII.  
Mùa lũ và mùa cạn: Sự phân phối dòng chảy sông Ba diễn biến rất phức tạp về mùa  
cũng như thành phần lượng nước các tháng trong năm.  
2.4  
HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC  
SÔNG BA VÀ NHỮNG TỒN TẠI  
2.4.1 Đánh giá nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực sông Ba  
Tính đến năm 2020 với mức tăng dân số đến 1.597.378 người mức đảm bảo nguồn  
TNN mặt tính theo đầu người từ 7252m3/ người năm giảm xuống còn 6251 m3/người năm,  
giảm 13,8%, trong khi đó nhu cầu dung nước vào năm 2020 tăng xấp xỉ 2 lần hiện tại  
(2011), như vậy hai xu thế ngược chiều nhau sẽ dẫn đến sự thiếu hụt TNN trong tương lai.  
2.4.2 Hiện trạng khai thác, sử dụng Tài nguyên nước  
TNN LVS Ba hiện chỉ được sử dụng chủ yếu cho tưới, phát điện và một phần nhỏ  
cung cấp cho sinh hoạt và công nghiệp. Các lĩnh vực dùng nước khác sử dụng nước còn rất  
ít, nước cho HST gần như bị lãng quên không được quan tâm tới. Lượng nước cấp cho nhu  
cầu sử dụng này chủ yếu lấy từ nguồn nước mặt các sông, hồ. Nước ngầm có sử dụng  
nhưng tương đối hạn chế, chủ yếu cấp cho sinh hoạt và một phần để tưới cho cây công  
nghiệp ở khu vực trung và thượng du. Việc khai thác và quản lý nước ngầm trên lưu vực  
7
hiện nay còn rất tuỳ tiện chưa được quy hoạch bài bản. Phương thức khai thác nguồn nước  
trên LVS Ba hiện chưa đảm bảo bền vững.  
2.4.3 Những tồn tại trong khai thác, sử dụng và quy hoạch phát triển tài nguyên  
nước lưu vực sông Ba  
1/ Khai thác và sử dụng tài nguyên nước:  
Khai thác sử dụng (KTSD) TNN trên LVS Ba còn một số tồn tại như sau: Phương  
thức KTSD nước hiện tại còn chưa bền vững; KTSD TNN chưa có sự phối hợp giữa các  
ngành, chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng tổng hợp TNN; Hiệu quả KTSD nước của nhiều  
công trình còn thấp; Trong KTSD TNN mới quan tâm tới lợi ích kinh tế, chưa quan tâm  
đến hệ sinh thái và MT; Khai thác nước dưới đất còn tùy tiện, chưa phối hợp chặt chẽ với  
khai thác sử dụng nước mặt;  
2/ Quy hoạch phát triển tài nguyên nước: Trên LVS Ba đã có các quy hoạch sử dụng  
nước của các ngành như quy hoạch thủy lợi, quy hoạch thủy điện, quy hoạch cấp nước sinh  
hoạt đô thị và nông thôn, quy hoạch nuôi trồng thủy sản. Hầu hết các quy hoạch này chỉ là  
quy hoạch đơn ngành đơn mục tiêu, mặc dù có một số quy hoạch có đề cập đến sử dụng  
tổng hợp TNN nhưng chưa có quy hoạch nào giải quyết thỏa đáng yêu cầu sử dụng tổng  
hợp TNN.  
2.5  
ĐÁNH GIÁ CÁC VẤN ĐỀ THÁCH THỨC TRONG KHAI THÁC, SỬ  
DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA  
2.5.1 Đánh giá khả năng suy thoái tài nguyên nước lưu vực sông Ba  
LVS Ba đang bước vào thời kỳ phát triển với những chuyển dịch rõ rệt. Áp lực  
gia tăng dân số, áp lực của phát triển KTXH, tác động của BĐKH…đã ảnh hưởng trực  
tiếp đến tính bền vững, làm suy thoái TN thiên nhiên nói chung và TNN nói riêng. Khả  
năng suy thoái TNN LVS Ba bao gồm các nội dung sau: Khả năng gia tăng các tai biến  
thiên nhiên liên quan đến TNN; Khả năng suy thoái nguồn nước ngầm; Khả năng suy  
thoái chất lượng nước và thiếu nước cục bộ.  
2.5.2 Đánh giá mâu thuẫn về sử dụng tài nguyên nước lưu vực sông Ba  
Trong quá KTSD TNN trên LV sông Ba, đã nảy sinh các mâu thuẫn sau: Mâu  
thuẫn giữa trung thượng lưu với hạ lưu; Mâu thuẫn giữa nhu cầu dùng nước với nguồn  
nước; Mâu thuẫn về nước giữa tưới và phát điện; Mâu thuẫn về nước giữa môi trường với  
các ngành khác; Vấn đề chuyển nước sông Ba sang sông Kone và sông Bàn Thạch  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2  
Chương 2 của luận liên quan của các đặc điểm này đến QLTHTNN LVS Ba. Các  
kết quả phân tích, đánh giá được thực hiện trong chương 2 góp phần xây dựng cơ sở khoa  
học cho việc đề xuất chiến lược QLTHTNN LVS Ba trong bối cảnh BĐKH tại các  
chương tiếp theo của luận án.  
8
CHƯƠNG 3  
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ TỔNG HỢP  
TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA  
NHỮNG VẤN ĐỀ KHÔNG BỀN VỮNG TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN  
NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA  
3.1  
3.1.1 Tồn tại trong quản lý tài nguyên nước lưu vực sông Ba  
QLTNN LVS Ba còn tồn tại những vấn đề như: QLTNN chưa có sự phối  
hợp liên ngành, liên địa phương, chưa mang tính tổng hợp, chưa có cơ chế hợp lý để thực  
hiện QLTNN theo LVS; Năng lực QLTNN của các địa phương còn nhiều hạn chế, chưa  
đáp ứng yêu cầu thực tế; Quản lý vận hành các công trình lớn trên hệ thống sông chưa có  
sự phối hợp trong toàn hệ thống; Trong QLTNN chưa kết hợp phát triển TNN với việc  
phân phối, chia sẻ, sử dụng tổng hợp TNN; QLTNN trên lưu vực vẫn là quản lý cung cấp  
nước, chưa có các cơ sở để thực hiện QLNCSDN; Người sử dụng nước chưa được tham  
gia một cách đầy đủ vào việc quản lý và bảo vệ TNN trên lưu vực, đồng thời chưa có cơ  
chế thuận lợi để cộng đồng tham gia QLTNN; Phương pháp quản lý và vận hành hệ thống  
TNN trên lưu vực còn nhiều hạn chế.  
3.1.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến quản lý bền vững tài nguyên nước lưu vực  
sông Ba  
Trên LVS Ba tác động của BĐKH đến quản lý bền vững TNN có những vấn đề  
như sau: BĐKH làm tăng tính khắc nghiệt của các hiện tượng cực đoan như bão lũ, hạn  
hán. Các thiên tai do nước gây ra sẽ khó dự đoán hơn khi có BĐKH; Dự báo tác động dài  
hạn về BĐKH toàn cầu chưa thực sự ổn định còn thay đổi nhiều, do đó việc định lượng các  
tác động của BĐKH đến TNN còn gặp nhiều khó khăn, làm cản trở việc hoạch định chiến  
lược quản lý bền vững TNN trên LVS Ba; Khu vực hạ lưu chưa có giải pháp hài hòa giải  
quyết ngập lụt và XNM, vấn đề này trở nên phức tạp hơn dưới tác động của BĐKH; Công  
tác lồng ghép các vấn đề nổi cọm về TNN liên quan đến BĐKH và MNBD vào chiến lược,  
quy hoạch, kế hoạch cũng như các nội dung KTSD, bảo vệ, phát triển TNN hiện nay vẫn  
chưa được thực hiện, nếu có cũng mới chỉ chung chung chưa có định hướng rõ ràng. Tác  
động của BĐKH trên LVS Ba đã làm cho mâu thuẫn trong KTSD TNN giữa khu vực trung  
thượng lưu và hạ lưu trở nên gay gắt hơn; Năng lực QLTNN trên LVS Ba hiện nay còn  
thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, điều này càng trở nên bức xúc hơn dưới tác động của  
BĐKH; BĐKH diễn biến phức tạp làm cho nhận thức của các cấp chính quyền, các tổ  
9
chức, doanh nghiệp và người dân trên LVS Ba về BĐKH chưa đầy đủ, chưa thống nhất.  
Đây là một trong những nhân tố tác động không nhỏ đến công tác QLTNN trên lưu vực.  
3.2  
PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN CÂN BẰNG NƯỚC HỆ THỐNG LƯU  
VỰC SÔNG BA  
3.2.1 Phân vùng cân bằng nước: Dựa trên nguyên tắc phân vùng CBN, đặc điểm địa  
hình, thuỷ văn, nguồn nước, điều kiện KTXH, tập tục canh tác, LVS Ba được chia thành 8  
vùng CBN bao gồm: (1) Vùng thượng nguồn sông Ba; (2) Vùng Ia Yun; (3) Vùng Krông  
Pa (khu giữa 1); (4) Vùng Krông HNăng; (5) Vùng khu giữa 2; (6) Vùng sông Hinh; (7)  
Vùng thượng Đồng Cam (khu gữa 3); (8) Vùng hạ Đồng Cam (khu giữa 4).  
3.2.2 Phương pháp tính và sơ đồ tính toán cân bằng nước: Để xem xét khả năng  
cung cấp nước của LVS Ba với nhu cầu dùng nước trên lưu vực, luận án tiến hành tính  
toán CBN cho các tiểu lưu vực trên LVS Ba trong giai đoạn hiện nay (2011) và 2020.  
Công cụ tính toán được sử dụng là: Mô hình NAM và Mô hình MIKE BASIN.  
3.2.3  
Các phương án tính toán  
1/ Phương án hiện trạng: Phương án này chia làm hai giai đoạn: Là giai đoạn 1980 –  
1999 và giai đoạn 2000 – 2011. Trong giai đoạn 1980-1999, trên lưu vực sông Ba chưa có  
sự tham gia của hai hồ thủy điện Ayun Hạ, Kanak - An Khê, Krông HNăng, Sông Ba Hạ  
và Sông Hinh, trong giai đoạn 2000-2011 đã có sự tham gia của 5 hồ thủy điện này.  
2/ Phương án 2020: Trong phương án này, tính toán CBN được xác định trên cơ sở nguồn  
nước đến từ các công trình thủy lợi đã có và dự kiến xây dựng, bổ sung với nhu cầu sử  
dụng nước đến năm 2020 được xác định dựa trên định hướng phát triển KTXH của các địa  
phương trên lưu vực.  
3.3  
PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN  
TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA  
Cơ sở phương pháp tính  
3.3.1  
1/ Mô hình thủy văn: Mô hình NAM được sử dụng để khôi phục số liệu và tính toán dòng  
chảy, đồng thời là công cụ để đánh giá tác động của BĐKH đến chế độ dòng chảy LVS Ba.  
2/ Mô hình thủy lực: Mô hình MIKE 11 được sử dụng để tính toán thủy lực, cũng như  
đánh giá tác động của BĐKH đến mực nước lũ và ngập lụt LVS Ba.  
3/ Mô hình phân phối nguồn nước: Mô hình MIKE BASIN được áp dụng để tính toán  
CBN, đồng thời đánh giá tác động của BĐKH đến nhu cầu tưới LVS Ba.  
3.3.2 Các kịch bản biến đổi khí hậu ở lưu vực sông Ba  
Các kịch bản BĐKH và NBD cho LVS Ba trong thế kỷ 21 đã được xây dựng dựa  
theo các kịch bản phát thải thấp B1, trung bình B2 và cao A2. Cho thấy, so với trung bình  
thời kỳ nền các thời kỳ của thế kỷ 21 có nhiệt độ trung bình tăng 0,4-1,20C ở kịch bản B1,  
10  
có nơi tăng đến 1,90C; ở kịch bản B2, nhiệt độ trung bình tăng 0,4-1,90C, có nơi tăng đến  
2,70C; ở kịch bản A2, nhiệt độ trung bình tăng 0,4-2,40C, có nơi tăng đến 3,20C. Bốc hơi  
tiềm năng tại hầu hết các vị trí trên LVS Ba đều tăng, mức độ tăng lớn nhất có thể lên tới  
25,65%. Lượng mưa năm có xu thế tăng, nhưng trong các tháng mùa khô, lượng mưa lại  
có xu thế giảm, ở kịch bản B1 lượng mưa năm trung bình tăng từ 0,7-2,2%, có nơi tăng  
đến 5,0%; kịch bản B2 tăng từ 0,7-3,2%, có nơi tăng đến 7,0%; kịch bản A2 tăng từ 0,7-  
4,1%, có nơi tăng đến 8,4%. Lượng mưa mùa mưa tăng nhiều nhất lên đến 11,2%. Lượng  
mưa mùa khô giảm nhiều nhất là 20%.  
3.4  
PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TÀI  
NGUYÊN NƯỚC  
Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương của TNN là một quá trình điều tra, khảo sát,  
phân tích hệ thống TNN, từ đó đánh giá khả năng nhạy cảm của hệ thống trước những  
thay đổi của các yếu tố tác động nhằm đề xuất các biện pháp giảm nhẹ rủi ro. Quá trình  
này bao gồm việc xem xét CBN giữa khả năng cung cấp và nhu cầu, xem xét các chính  
sách quản lý và bảo tồn nguồn nước, sự thay đổi của TNN dưới tác động của BĐKH và  
các nhân tố MT khác, xem xét các tác động của nhân tố xã hội, con người ảnh hưởng đến  
hệ thống TNN.  
3.5  
PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG QUẢN  
LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC  
3.5.1 Cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp  
1/ Cơ sở đề xuất các giải pháp  
Các giải pháp quản lý bền vững TNN LVS Ba được đề xuất dựa trên cơ sở: Yêu  
cầu và điều kiện PTBV TNN LVS; Chiến lược quốc gia về TNN đến năm 2020; Những  
vấn đề còn tồn tại cần phải được giải quyết trong QLTHTNN LVS Ba: Các giải pháp đề  
xuất nhằm khắc phục những vấn đề còn tồn tại trong QLTHTNN LVS Ba; Mục tiêu của  
QLTHTNN LVS Ba; Mục tiêu thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực TNN LVS Ba.  
2/ Định hướng cho việc đề xuất các giải pháp  
- Từ kết quả tính toán CBN cho lưu vực xác định các giải pháp cho từng khu vực cụ thể  
trên lưu vực để khắc phục tình trạng thiếu nước cục bộ;  
- Từ kết quả đánh giá mâu thuẫn về KTSD TNN trên lưu vực xác định các giải pháp nhằm  
phân bổ nguồn nước trên lưu vực một cách hợp lý;  
- Từ kết quả phân tích những tồn tại trong KTSD và QLTNN cũng như tác động của  
BĐKH đến công tác quản lý bền vững TNN trên lưu vực xác định được những giải pháp  
thiết yếu để khắc phục các tồn tại trong quản lý vận hành, đổi mới phương thức QLTNN,  
hướng tới quản lý theo nhu cầu nước để nâng cao hiệu quả KTSD TNN;  
11  
- Từ kết quả đánh giá tác động của BĐKH đến TNN xác định các giải pháp thích ứng trước  
những thay đổi do BĐKH gây ra trong lĩnh vực TNN;  
- Từ kết quả đánh giá khả năng dễ bị tổn thương TNN LVS tiến hành tích hợp xác định các  
giải pháp thích ứng nhằm thực hiện quản lý bền vững TNN cho LVS.  
3.5.2 Xây dựng quy trình tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu trong quản lý tổng hợp  
tài nguyên nước lưu vực sông Ba  
Luận án đã tiến hành xây dựng quy trình tích hợp cho QLTHTNN LVS cụ thể  
như sau:  
Bảng 2.1. Quy trình tích hợp biến đổi khí hậu trong QLTHTNN lưu vực sông  
UNDP (2010)  
USAID (2007)  
CARE Vietnam (2009)  
TÍCH HỢP BĐKH  
TRONG QLTHTNN  
Bước 1: Nâng cao  
nhận thức;  
Bước 2: Sàng lọc  
các rủi ro khí hậu và trạng dễ bị tổn  
tình trạng dễ bị tổn  
thương;  
Bước 1: Sàng lọc tình Bước 1: Sàng lọc các  
Bước 1: Sàng lọc tình  
trạng dễ bị tổn thương  
của TNN;  
hoạt động dự án rủi ro  
thương;  
trước BĐKH;  
Bước 3: Đánh giá  
rủi ro khí hậu chi  
tiết;  
Bước 2: Lựa chọn lộ  
trình tình trạng dễ bị tổn  
thương và thích ứng;  
Bước 2: Đánh giá chi  
tiết tình trạng dễ bị tổn  
thương của TNN do  
BĐKH;  
Bước 4: Xác định  
các lựa chọn thích  
ứng;  
Bước 2: XĐ các lựa  
chọn thích ứng;  
Bước 3: Xác định các  
biện pháp thích ứng;  
Bước 3: Xác định và  
lựa chọn các giải pháp  
thích ứng với BĐKH  
trong lĩnh vực TNN;  
Bước 5: Ưu tiên và  
lựa chọn biện pháp  
thích ứng;  
Bước 3: Thực hiện  
phân tích các lựa  
chọn thích ứng;  
Bước 4: Lựa chọn  
các biện pháp thích  
ứng;  
Bước 4: Ưu tiên các biện Bước 4: Rà soát các  
pháp thích ứng để ứng  
phó với tình trạng dễ bị  
tổn thương đã được xác  
định ở Bước 1;  
quy hoạch QLTNN,  
xác định mục tiêu  
QLTHTNN;  
Bước 5: Tích hợp vấn  
Bước 5: Lựa chọn các  
biện pháp thích ứng để  
thực hiện;  
đề  
BĐKH  
vào  
QLTHTNN;  
Bước 6: Thực hiện  
các biện pháp thích  
ứng, bao gồm phân  
bổ ngân sách;  
Bước 5: Thực hiện  
các biện pháp thích  
ứng;  
Bước 6: Thực hiện các  
biện pháp thích ứng;  
Bước 6: Thực hiện  
QLTHTNN có tích  
hợp BĐKH  
Bước 7: Giám sát và Bước 6: Đánh giá các Bước 7: Đánh giá các  
đánh giá. biện pháp thích ứng. biện pháp thích ứng.  
Bước 7: Giám sát và  
đánh giá  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3  
Chương 3 của luận án đã tiến hành nghiên cứu xác định cơ sở khoa học thực hiện  
QLTHTNN LVS Ba, đã đạt được một số kết quả như sau: Đã xác định những vấn đề còn  
tồn tại trong KTSD, quy hoạch phát triển cũng như thực trạng QLTNN và tác động của  
BĐKH đến công tác quản lý bền vững TNN LVS Ba, đánh giá khả năng suy thoái TNN,  
đánh giá mâu thuẫn trong KTSD TNN trên lưu vực một cách chi tiết. Đã xác định phương  
12  
pháp tính toán CBN hệ thống LVS Ba và các kịch bản BĐKH cũng như cơ sở phương  
pháp đánh giá tác động của BĐKH đến TNN, phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn  
thương TNN LVS Ba. Đã xây dựng quy trình tích hợp vấn đề BĐKH trong quản lý bền  
vững TNN cho LVS Ba. Các cơ sở khoa học nghiên cứu trong chương này sẽ được sử  
dụng cho việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp quản lý bền vững TNN LVS Ba trong  
chương sau của luận án.  
CHƯƠNG 4  
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
4.1  
KẾT QUẢ TÍNH CÂN BẰNG NƯỚC HỆ THỐNG LƯU VỰC SÔNG BA  
4.1.1 Kết quả tính cân bằng nước theo Phương án hiện trạng  
1/ Giai đoạn 1980-1999  
Trong giai đoạn 1980-1999, có tới trên 20% số nút tưới được cấp đủ nước với  
mức đảm bảo đạt 100%, trong số 24 nút tưới có 18 nút tưới xảy ra hiện tượng thiếu nước,  
tuy nhiên đa số các nút thiếu nước này có lượng nước thiếu cũng như số ngày thiếu nước  
rất nhỏ với mức đảm bảo đạt xấp xỉ 100%. Nút tưới xảy ra hiện tượng thiếu nước có mức  
đảm bảo thấp nhất là nút IRR3 (Các đập dâng nhỏ Tây Nam An Khê) có mức đảm bảo đạt  
75,66% với số ngày thiếu nước trung bình năm khoảng 89 ngày và tổng lượng nước thiếu  
khoảng 1.355.106 m3. Nút tưới xảy ra hiện tượng thiếu nước có lượng nước thiếu nhiều  
nhất là nút tưới DC-BT với số ngày thiếu nước trung bình năm khoảng 26 ngày và tổng  
lượng nước thiếu khoảng 19.73.106 m3. Tất cả 8 nút cung cấp nước cho sinh hoạt, chăn  
nuôi, công nghiệp, thủy sản đều được cung cấp đủ nước với mức đảm bảo đạt 100%.  
2/ Giai đoạn 2000-2011  
Trong số 25 nút tưới hầu như tất cả các nút tưới này đều thiếu nước, tuy nhiên số  
ngày thiếu nước cũng như tổng lượng nước thiếu rất nhỏ, có 20 nút có mức đảm bảo trên  
90%. Nút tưới xảy ra hiện tượng thiếu nước có mức đảm bảo thấp nhất là nút IRR19 (các  
hồ đập vùng thượng Đồng Cam), tuy nhiên nút này cũng có mức đảm bảo đạt tới 84,69%  
với số ngày thiếu nước trung bình năm khoảng 34 ngày và tổng lượng nước thiếu khoảng  
1.315.106 m3. Nút tưới xảy ra hiện tượng thiếu nước có lượng nước thiếu nhiều nhất là nút  
tưới DongCam với số ngày thiếu nước trung bình năm khoảng 17 ngày và tổng lượng  
nước thiếu khoảng 7.365.106 m3. Tất cả 8 nút cung cấp nước cho sinh hoạt, chăn nuôi,  
công nghiệp, thủy sản đều được cung cấp đủ nước với mức đảm bảo đạt xấp xỉ 100%.  
Trong giai đoạn này còn có thêm 5 nút thủy điện là TD_AYUNHA và  
TD_S.HINH, TD_ANKHE, TD_KRONGHNANG, TD_BAHA trong đó chỉ có nút  
TD_BAHA xảy ra hiện tượng thiếu nước với mức đảm bảo chỉ đạt 90,05%.  
4.1.2 Kết quả tính cân bằng nước theo Phương án 2020  
13  
Kết quả tính toán cho thấy, trong số 29 nút tưới, chỉ có 4 nút được cung cấp đủ  
nước là các nút IRR11, IRR15, IRR20, SH-BT với mức đảm bảo đạt 100%. Ngoài ra còn  
có 4 nút tưới tuy có xảy ra hiện tượng thiếu nước nhưng không đáng kể là các nút AyunHa,  
IRR8, IRR18 và IRR22, trong suốt thời kỳ tính toán, các nút này chỉ thiếu nước có 2 ngày  
với lượng nước thiếu rất nhỏ, do đó có thể coi như không thiếu nước. Trong số 21 nút thiếu  
nước có khá nhiều nút có mức đảm bảo cao, có tới 8 nút có mức đảm bảo đạt trên 82% và  
11 nút có mức đảm bảo đạt trên 90%. Nút có số ngày thiếu nước trung bình năm lớn nhất  
cũng như có mức đảm bảo thấp nhất là nút IRR3 với số ngày thiếu nước là 163 ngày,  
lượng nước thiếu là 29.20.106 m3 và mức đảm bảo là 55,44% và nút IRR14A với số ngày  
thiếu nước là 163 ngày, lượng nước thiếu là 5.221.106 m3 và mức đảm bảo là 55,30%. Nút  
có tổng lượng nước thiếu trung bình năm lớn nhất là nút IRR3.  
Trong số 8 nút cung cấp nước cho sinh hoạt, chăn nuôi, công nghiệp, thủy sản thì  
chỉ có nút WSP_KG2 đảm bảo cấp nước 100%, các nút WSP_KG1, WSP_KRONG  
HNANG, có số ngày thiếu nước 1 ngày với mức đảm bảo thấp nhất đạt 99,74% với lượng  
nước thiếu nhiều nhất 0,074.106 m3, nút WSP_TNSB có mức đảm bảo thấp nhất đạt  
93,85% có số ngày thiếu nước xấp xỉ 23 ngày với lượng nước thiếu lớn nhất 2.242.106 m3.  
Trong số 5 nút thủy điện chỉ có duy nhất nút TD_AYUNHA, TD_S.HINH có 3  
ngày thiếu nước trong suốt thời kỳ tính toán, do đó nút này cũng có thể coi như được cung  
cấp đủ nước. Trong số các nút thiếu nước, nút thiếu nhiều nhất là TD_BAHA với mức  
đảm bảo chỉ đạt 86,12%.  
4.1.3 Nhận xét chung  
Từ kết quả tính toán CBN cho phương án hiện trạng và phương án phát triển tương  
lai 2020 có thể rút ra một số nhận xét như sau:  
- Tổng lượng nước cần dùng cho các ngành trên toàn lưu vực trong giai đoạn hiện  
tại (2011) là 2061. 106 m3 và tăng lên 4066. 106 m3 vào năm 2020. Như vậy, tổng lượng  
nước cần dùng năm 2020 tăng xấp xỉ 2 lần năm 2011, so với tổng lượng dòng chảy sông  
suối trên toàn lưu vực thì lượng nước cần dùng chiếm một tỉ lệ tương đối nhỏ. Từ nay đến  
năm 2020, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính trên lưu vực nên lượng nước cần dùng  
trong nông nghiệp chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng lượng nước cần dùng, mặc dù vậy tỉ  
trọng này có xu hướng giảm từ nay đến 2020 và các năm về sau, do cơ cấu kinh tế trên  
toàn lưu vực có sự chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghiệp và dịch vụ (95,59% năm 2011,  
93,92% năm 2020).  
- Trong giai đoạn hiện tại (2011) do KTXH phát triển chưa cao, nhu cầu dùng nước  
chưa nhiều nên nguồn nước của sông suối trên toàn lưu vực đều có thể đáp ứng đủ nhu cầu  
dùng nước với mức đảm bảo xấp xỉ 100%, tuy nhiên tình trạng thiếu nước cục bộ vào mùa  
khô cũng xảy ra tại một số nơi như vị trí các đập dâng nhỏ Tây Nam An Khê có mức đảm  
14  
bảo chỉ đạt 75,66%, các hồ đập vùng thượng Đồng Cam có mức đảm bảo đạt tới 84,69%.  
Các khu vực phía sau đập thủy điện An Khê tình trạng thiếu nước cục bộ vào mùa khô giai  
đoạn 2000-2011 thường xuyên xảy ra hơn so với giai đoạn 1980 -1999.  
- Trong giai đoạn 2020 tuy nhu cầu dùng nước tăng lên nhưng do tác dụng điều tiết  
nước vào mùa cạn của các hồ chứa trên lưu vực nên các nhu cầu dùng nước trên toàn lưu  
vực được đáp ứng với mức đảm bảo khá cao, cũng tương tự như giai đoạn 2011 khu vực  
các đập dâng nhỏ Tây Nam An Khê có mức đảm bảo thấp nhất chỉ đạt 55,44%.  
- Mặc dù sông Ba là lưu vực có tiềm năng về nguồn nước thuộc loại trung bình khu  
vực Miền Trung – Tây Nguyên, nhưng do nhu cầu sử dụng chưa cao nên đủ khả năng cung  
cấp nước cho nhu cầu ở giai đoạn hiện tại 2011 và tương lai 2020 trên toàn lưu vực.  
Tuy nhiên, đây là kết quả tính toán CBN cho toàn hệ thống với việc đánh giá tổng  
lượng nước đến và nhu cầu dùng nước trên các vùng, nếu xét chi tiết cho các khu vực và  
các nhu cầu cụ thể thì tình trạng thiếu nước xảy ra trầm trọng tại một số nơi như khu vực  
phía sau đập thủy điện An Khê, khu vực Cheo Reo, Phú Túc một số vùng thuộc huyện  
Krông Pa những vấn đề này sẽ tiếp tục được làm rõ tại các mục sau của luận án.  
4.2  
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU  
VỰC SÔNG BA  
4.2.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến chế độ dòng chảy  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dòng chảy của LVS Ba có xu thế giảm và chỉ tăng  
vào mùa lũ. Ở thượng lưu, dòng chảy năm trung bình giảm từ 1,53-3,1%, dòng chảy mùa  
lũ trung bình tăng từ 0,26-3,99%, dòng chảy mùa cạn trung bình giảm từ 6,87-16,45%. Ở  
hạ lưu, dòng chảy năm trung bình giảm từ 1,73-2,6%, dòng chảy mùa lũ trung bình tăng từ  
0,53-4,27%, dòng chảy mùa cạn trung bình giảm từ 7,43-17,18%.  
4.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến dòng chảy mùa lũ và ngập lụt  
Dưới tác động của BĐKH mực nước đỉnh lũ tại Phú Lâm tăng từ 0,59-0,66 m; Lưu  
lượng đỉnh lũ 1% có thể tăng 16,72% ở thượng lưu và 21,8% ở hạ lưu; Diện tích ngập lụt  
tăng từ 1,42-2,85% ở kịch bản B1, từ 1,56-4,16% ở kịch bản B2 và từ 1,32-6,69% ở kịch  
bản A2.  
4.2.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến nhu cầu tưới  
Trong cùng điều kiện khí hậu của thời kỳ nền, với sự phát triển KTXH, nhu cầu sử  
dụng nước trong kịch bản phát triển tương lai đã tăng lên rất nhiều so với kịch bản nền. Do  
đó, hầu hết các vùng CBN trên LVS Ba đều có mức đảm bảo trong kịch bản phát triển  
tương lai giảm đi nhiều so với kịch bản nền. Tuy nhiên, do trong kịch bản phát triển tương  
lai có sự tham gia của các hồ thủy điện, khiến cho lượng nước trong sông giảm vào mùa lũ  
và tăng lên vào mùa kiệt nên một số vùng cân bằng có mức đảm bảo cao hơn so với kịch  
15  
bản nền. Kết quả tính toán toán cho thấy, nhu cầu tưới tăng lớn nhất có thể lên đến  
25,45%, đồng thời lượng nước thiếu có thể tăng lớn nhất đến 37,09% so với kịch bản nền.  
4.2.4  
Tác động của nước biển dâng đến xâm nhập mặn trong sông  
Kết quả tính toán cho thấy, ở thời kỳ cuối của thế kỷ 21, mặn xâm nhập khá sâu  
vào trong sông, khoảng cách xâm nhập độ mặn lớn nhất 1‰ có thể tăng thêm khoảng 4,2  
km, độ mặn cũng tăng lên đáng kể; Khoảng cách XNM độ mặn 4‰ có thể tăng thêm  
khoảng 3,7 km.  
4.3  
KHẢ NĂNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC  
SÔNG BA  
Từ kết quả tính toán, chúng ta nhận thấy, giai đoạn hiện tại LVS Ba có chỉ số khả  
năng dễ bị tổn thương TNN khá cao (VI = 0,585). Xét với phương án tương lai 2020,  
tương lai có BĐKH, tương lai có BĐKH nhưng đã được tích hợp thì chỉ số dễ bị tổn  
thương TNN trên LVS Ba tăng lên đột biến và giảm đáng kể khi thực hiện quá trình tích  
hợp BĐKH cụ thể lần lượt là 0,701, 0,719 và 0,575. Điều đó chứng tỏ rằng, mặc dù không  
bị sức ép về thiếu hụt nguồn nước, nhưng việc khai thác chưa hợp lý, biện pháp quản lý  
chưa hiệu quả, năng lực quản lý còn nhiều hạn chế, chưa có giải pháp phù hợp để giảm  
thiểu sự phân hoá về TNN trên lưu vực, nên TNN trên LVS Ba đang đứng trước nguy cơ  
suy thoái nghiêm trọng. Để QLTNN LVS Ba hiệu quả và bền vững cần phải sớm xây dựng  
kế hoạch QLTNN, hoạch định các chính sách theo hướng nâng cao năng lực quản lý sẵn có  
chú trọng tích hợp vấn đề BĐKH và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.  
4.4  
TÍCH HỢP VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG KHAI THÁC SỬ  
DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA  
Từ quy trình tích hợp đã xác định, luận án đề xuất điều chỉnh một số nội dung  
trong các quy hoạch KTSD TNN trên LVS Ba đã được phê duyệt như sau:  
4.4.1 Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Ba  
Để thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực TNN cần phải điều chỉnh một số nội dung  
trong “Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Ba“ đã được phê  
duyệt như sau:  
1/ Quy hoạch khai thác dòng chính: Các CT trên dòng chính và dòng nhánh lớn sông Ba  
có nhiệm vụ cấp nước, phát điện, chống lũ, điều tiết nước cho hạ du trong mùa kiệt, cải  
thiện MT.  
2/ Quy hoạch tưới: Phía hạ lưu sông Ba chia thành 3 vùng tưới đồng thời cần bổ sung các  
vấn đề sau: Vùng sông Hinh: Đầu tư sửa chữa, nâng cấp và khai thác có hiệu quả các công  
trình thủy lợi hiện có, đồng thời đẩy nhanh tiến độ xây dựng mới một số công trình thủy  
lợi; Vùng thượng Đồng Cam: Cần phải sớm duy tu, sửa chữa, nâng cấp các công trình  
sẵn có, đồng thời tiến hành xây mới một số công trình thủy lợi khác; Vùng hạ lưu đập  
16  
Đồng Cam: Duy tu sửa chữa các công trình hiện có trong vùng, sớm hoàn thiện hệ thống  
kênh Tây và Đông của đập sông Con. Xây dựng hồ điều hòa nước của nhánh sông Đồng  
Bò. Nghiên cứu xây dựng từ 1-2 đập dâng trên sông Bàn Thạch.  
3/ Quy hoạch cấp nước sinh hoạt - công nghiệp  
Đối với quy hoạch cấp nước sinh hoạt - công nghiệp cần bổ sung các nội dung:  
- Các khu công nghiệp và đô thị thị xã An Khê: Sử dụng nước hồ thuỷ điện An Khê –  
KaNăk, riêng khu công nghiệp cần triệt để áp dụng mô hình cấp nước tiên tiến nhằm tiết  
kiệm nước. Tại một số khu vực Tx. An Khê kết hợp khai thác các đập dâng, hồ chứa nhỏ  
trên địa bàn để cung cấp nước sinh hoạt;  
- Tp.Tuy Hoà: Sử dụng nước ngầm tầng nông ven hạ lưu sông Ba, tiến đến xây dựng hệ  
thống đường ống giáp nối các cụm công trình khai thác nước dưới đất trong bãi bồi dọc  
theo hạ lưu sông Ba với các cụm khai thác nước trong các tầng chứa nước Holocen,  
Pleistocen thuộc đồng bằng Tuy Hòa, dải cồn cát ven biển, tạo thành những hệ thống cấp  
nước tập trung lớn đủ khả năng cung cấp nước cho Tp. Tuy Hòa trong tương lai;  
- Các khu công nghiệp và đô thị Thị xã A Yun Pa, khu dân cư thuộc huyện Chư Sê: Sử  
dụng nguồn nước hồ A Yun hạ và nước sông Ayun.  
- Khu kinh tế Nam Phú Yên – Bắc Khánh Hòa: Sử dụng nguồn nước sau thủy điện sông  
Hinh chuyển sang sông Bàn Thạch qua hệ thống kênh Đông của đập sông Con.  
- Các khu vực khác chủ yếu là khai thác nguồn nước ngầm bằng các hình thức giếng  
khoan, đào và nguồn nước mặt sông suối, các công trình thủy lợi.  
4/ Quy hoạch tiêu úng, chống lũ  
Đối với quy hoạch tiêu úng, chống lũ cần bổ sung, điều chỉnh các nội dung:  
Tiêu úng: Vùng Ayun Pa: Nạo vét các trục tiêu đã có để tăng cường khả năng  
tiêu tự chảy vào sông Ayun; Vùng hạ lưu Đồng Cam: Nạo vét các trục tiêu Bảo Đại, Hòa  
Tân, Hòa Thành, kiên cố hóa rạch Bầu Hạ trong nội thành Tp.Tuy Hòa, hoàn thành tuyến  
rạch nhân tạo khu đô thị Nam Tuy Hòa phục vụ tiêu thoát nước khu vực phường Phú Lâm,  
Phú Thạnh, Phú Đông.  
Phòng chống lũ:  
- Giải pháp phi công trình cần bổ sung một số nội dung: Khu vực hạ lưu sông Ayun Pa cần  
phải đặc biệt quan tâm đến giải pháp phi công trình như: Thay đổi lịch thời vụ, trồng và  
bảo vệ rừng đầu nguồn, di dời dân lên vùng cao; Nâng cao chất lượng dự báo và tăng  
cường xây dựng hệ thống thông tin liên lạc; Tăng cường công tác giáo dục nhận thức  
người dân về phòng chống lũ lụt nhất là người dân sinh sống trong hành lang thoát lũ; Rà  
soát sắp xếp lại lưới điểm khu dân cư trên toàn lưu vực; Tăng cường công tác bảo vệ rừng  
và trồng rừng đầu nguồn; Xây dựng bản đồ ngập lụt và cảnh báo lũ cho các khu vực  
thường xuyên xảy ra; Nghiên cứu cập nhật bổ sung quy trình vận hành liên hồ đã được  
17  
duyệt; Tăng cường quản lý quy hoạch, thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo  
phòng chống thiên tai, thích ứng với BĐKH, NBD.  
- Giải pháp công trình cần bổ sung những nội dung: Chỉnh trị cửa sông Đà Rằng và sông  
Bàn Thạch, nghiên cứu di chuyển của sông Bàn Thạch đến vị trí phù hợp; Xây dựng kè mỏ  
hàng phía ngoài cửa Đà Rằng; Nâng cấp tuyến kè Bạch Đằng, kè khu đô thị Nam Tuy Hòa;  
Mở rộng cửa tiêu nước tại cầu Vạn Kiếp, hoàn thiện cửa tiêu thoát nước khu phố 6,  
phường Phú Đông; Kiên cố hóa sông Chùa; Hoàn chỉnh hệ thống tiêu thoát nước với khẩu  
độ cống phù hợp cho khu vực nội thành Tp.Tuy Hòa; Nâng cao trình các tuyến đường quốc  
lộ 25, quốc lộ 29 đảm bao an toàn hành lang thoát lũ cho hạ lưu, điều chỉnh quy hoạch các  
quy hoạch đã phê duyệt, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động phát triển dân sinh kinh tế trong  
hành lang thoát lũ; Xây dựng hệ thống quan trắc, giám sát công trình thủy lợi.  
4.4.2  
Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba  
Để Quy trình mang lại hiệu quả hơn nữa trong quá trình vận hành cần phải điều  
chỉnh, bổ xung một số vấn đề như sau: Quy trình vận hành liên hồ chứa không nên chỉ dựa  
vào dự báo để vận hành mà phải đưa phần cứng vào vận hành, sau đó mới kết hợp với cảnh  
báo, dự báo để an toàn hơn; Cần phải tiến hành xây dựng bổ sung quy trình vận hành các  
hồ chứa vừa và nhỏ ở các chi lưu, nhằm khai thác ổn định TNN, phòng tránh thiên tai hiệu  
quả; Cần bổ sung thêm các điều về vận hành hồ giảm lũ cho hạ du, nhằm tránh hiện tượng  
“sốc” nước do lưu lượng đột ngột tăng, sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho hạ du; Phải xem  
xét đánh giá lại nhiệm vụ của cả hồ chứa thủy điện và thủy lợi; Việc cung cấp thông tin, số  
liệu cần tiến đến sử dụng hệ thống vệ tinh, để đảm bảo truyền tin nhanh chống, chính xác  
và an toàn trong mọi tình huống; Tập trung đầu mối điều hành; Bổ sung nội dung tuyên  
truyền lịch lấy nước, nâng cao nhận thức của người dân trên LV về TNN.  
4.5  
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU  
VỰC SÔNG BA  
4.5.1 Các giải pháp thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Ba.  
Luận án đã xác định các giải pháp ứng phó thực hiện QLTHTNN LVS Ba như sau:  
(1) Thiếu nước cục bộ  
- Thực hiện nghiêm túc quy trình vận hành liên hồ chứa vào mùa cạn đã được phê duyệt,  
tiếp tục bổ sung, điều chỉnh quy trình phù hợp với điều kiện phát triển và tác động của  
BĐKH trên lưu vực;  
- Phủ xanh toàn bộ đất trống đồi núi trọc khu vực thượng nguồn, duy chuyển một số nhà  
máy trên thượng nguồn vào vị trí hợp lý, áp dụng sơ đồ cấp nước phù hợp. Các khu công  
nghiệp tại TX. An Khê, triệt để áp dụng mô hình cấp nước tiến tiến phù hợp với điều kiện  
thực tế của địa phương, triệt để khai thác các đập dâng, hồ chứa nhỏ trên địa bàn, đồng thời  
có biện pháp bảo vệ vệ sinh, tiến đến nâng cấp, bổ sung xây mới đảm bảo đủ dung tích cấp  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 16920 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Nghiên cứu quản lý bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Ba trong bối cảnh biến đổi khí hậu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_nghien_cuu_quan_ly_ben_vung_tai_nguyen_nuoc.pdf