Tóm tắt Luận văn Vận dụng tư tưởng của Ph. Ăngghen về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên" vào việc phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Đắk Lắk

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRẦN THỊ PHƢỢNG  
VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG CỦA  
PH. ĂNGGHEN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA  
CON NGƢỜI VỚI TỰ NHIÊN TRONG  
TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA  
TỰ NHIÊN” VÀO VIỆC PHÁT TRIỂN  
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH ĐẮK LẮK  
Chuyên ngành : Triết học  
Mã số  
: 60 22 80  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ  
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  
Đà Nẵng - Năm 2013  
Công trình được hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN TẤN HÙNG  
Phản biện 1: TS. LÊ THỊ TUYẾT BA  
Phản biện 2: PGS.TS. PHẠM VĂN ĐỨC  
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận  
văn tốt nghiệp thạc sỹ Khoa học Xã hội và Nhân văn họp  
tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 06 tháng 01 năm 2014  
Có thể tìm luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại hoc Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Thế giới vật chất rất đa dạng và phong phú nhưng chúng  
không tồn tại độc lập, hỗn độn hay tách rời nhau, không phải là  
những bản chất hoàn toàn đối lập nhau, chúng chỉ là những biểu  
hiện khác nhau của vật chất đang vận động. Sự đa dạng và phong  
phú đó chịu sự chi phối bởi các quy luật khách quan của thế giới  
vật chất, đó là tính thống nhất vật chất của thế giới. Theo Ph.  
Ăngghen: “Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất  
của nó, và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng  
vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật mà bằng một sự phát  
triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên” [20,  
tr. 67]. Theo quan điểm duy vật biện chứng, tinh thần và vật chất,  
con người và tự nhiên tuy đối lập nhau nhưng lại nằm trong một  
thể thống nhất không tách rời nhau. Như vậy, nguyên lý tính  
thống nhất vật chất của thế giới là nền tảng trong việc xem xét  
mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.  
Ngày nay, sự phát triển của xã hội hiện đại với những thành  
tựu to lớn về phương diện văn minh vật chất từ nửa sau thế kỷ XX  
đã gây nên áp lực nặng nề của con người đối với môi trường tự  
nhiên làm cho bản thân giới tự nhiên dần mất đi khả năng tự hồi  
phục. Sự suy thoái môi trường đang tiềm tàng khả năng dẫn tới  
khủng hoảng sinh thái trên phạm vi toàn cầu.  
Trong những năm gần đây, tỉnh Đắk Lắk đã đạt được những  
thành tựu khá quan trọng, kinh tế phát triển tương đối nhanh và ổn  
định. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp  
hoá, hiện đại hoá, phát huy lợi thế từng ngành, tăng tỷ trọng  
2
ngành công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ. Chính vì  
thế, để đảm bảo sự phát triển bền vững, tỉnh Đắk Lắk cần phải có  
những hoạch định chiến lược về bảo vệ môi trường (BVMT). Đặc  
biệt, trong tình hình hiện nay, Đắk Lắk đang trong quá trình xây  
dựng kế hoạch quy hoạch bảo vệ môi trường, giai đoạn này là rất  
cần thiết nhằm đánh giá hiện trạng, dự báo xu thế biến đổi và đề  
xuất các phương án BVMT cũng như khai thác hợp lý tài nguyên,  
góp phần điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội hợp lý  
hơn, phù hợp hơn, thúc đẩy phát triển kinh tế một cách bền vững.  
Nhằm góp phần nhận thức một cách đúng đắn về mối quan  
hệ giữa con người với tự nhiên, về thái độ của con người đối với  
tự nhiên và vận dụng mối quan hệ này trong tình hình thực tế, tôi  
chọn vấn đề: “Vận dụng tư tưởng của Ph. Ăngghen về mối quan  
hệ giữa con người với tự nhiên trong tác phẩm „Biện chứng của  
tự nhiên‟ vào việc phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Đắk Lắk” làm  
đề tài luận văn của mình.  
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
2.1. Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở nghiên cứu quan điểm của Ph. Ăngghen về mối  
quan hệ giữa con người với tự nhiên trong tác phẩm “Biện chứng  
tự nhiên” và thực trạng của vấn đề này ở tỉnh Đắk Lắk, luận văn  
đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt mối quan hệ này trên  
địa bàn của tỉnh hiện nay.  
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Phân tích quan điểm của Ph. Ăngghen về mối quan hệ  
giữa con người với tự nhiên trong tác phẩm “Biện chứng của tự  
nhiên”.  
3
- Phân tích thực trạng mối quan hệ này trong quá trình phát  
triển kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk.  
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp để hoàn thiện  
mối quan hệ này nhằm thúc đẩy hơn nữa sự phát triển kinh tế - xã  
hội tỉnh Đắk Lắk.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
Đề tài tập trung nghiên cứu quan điểm của Ph. Ăngghen về  
mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong tác phẩm Biện  
chứng tự nhiên; thực trạng mối quan hệ này trong quá trình phát  
triển kinh tế -xã hội ở tỉnh Đắk Lắk.  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật  
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và dụng một số phương  
pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp phân tích - tổng hợp,  
đối chiếu, so sánh, thống kê trong quá trình nghiên cứu.  
5. Cấu trúc của luận văn  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận  
văn có nội dung gồm 3 chương (8 tiết).  
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu  
Trong những năm gần đây có rất nhiều đề tài khoa học,  
công trình nghiên cứu và bài viết khác nhau liên quan đến vấn đề  
mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong tác phẩm Biện  
chứng của tự nhiên. Trong đó có những đề tài như:  
PGS. TS. nguyễn Bằng Tường với công trình “giới thiệu tác  
phẩm Biện chứng của tự nhiên của Ăngghen” năm 2010 đã nêu rõ  
về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, cũng như trình bày một cách  
chi tiết những vấn đề được Ph. Ăngghen phân tích trong tác phẩm.  
4
GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn (2004), Giáo trình Tác  
phẩm Biện chứng tự nhiên của Ăngghen, Viện triết học, Viện  
khoa học xã hội Việt Nam. Giáo trình đã trình bày và phân tích  
cặn kẽ những vấn đề cốt lõi trong tác phẩm. Công trình này là tài  
liệu hữu ích dành cho học viên cao học và sinh viên.  
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên và vấn  
đề bảo vệ môi trường tự nhiên trong phát triển kinh tế xã hội là  
vấn đề thu hút sự quan tâm của các sách xuất bản và đề tài nghiên  
cứu khoa học:  
GS.TSKh. Lê Huy Bá, “Môi trường” (2004), “Sinh thái  
môi trường đất” (2007). Tác giả nghiên cứu về môi trường và môi  
trường đất rất sâu sắc và đã khẳng định được vai trò của môi  
trường đối với sự sống, đã đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm  
giải quyết vấn đề môi trường trong tình hình hiện nay ở nước ta.  
TS Nguyễn Văn Boong với công trình “Ý thức sinh thái và  
vấn đề phát triển lâu bền” năm 2002, đã đề xuất giải pháp quan  
trọng để giải quyết vấn đề môi trường sinh thái hiện nay: theo đó,  
một trong những bước đi đầu tiên có tính chất quyết định trong  
việc giải quyết các vấn đề môi trường sống hiện nay là trước hết  
phải thay đổi nhận thức và quan niệm của con người về tự nhiên,  
về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, về vị trí của con  
người hoạt động trong giới tự nhiên.  
TS Nguyễn Văn Ngừng với công trình “Một số vấn đề về  
bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay”, năm  
2004, đã nêu lên được thực trạng môi trường nước ta qua các giai  
đoạn lịch sử đồng thời đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường  
nước ta trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay.  
5
Lê Văn Khoa, Nguyễn Ngọc Sinh, Nguyễn Tiến Dũng  
(2006), “Chiến lược và chính sách môi trường”, công trình đã đưa  
ra chiến lược và chính sách lâu dài dành cho môi trường nhằm  
ngăn chặn sự ô nhiễm môi trường, tình trạng suy thoái, đảm bảo  
cân bằng sinh thái.  
Tác giả Bùi Văn Dũng với bài viết “Cơ sở triết học nghiên  
cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường”  
trên tạp chí Triết học số 4 (167), tháng 4 – 2005, trong đó, tác giả  
đã đưa ra các cơ sở lý luận và thực tiễn để luận giải cho mối quan  
hệ thống nhất biện chứng của các yếu tố con người – xã hội – tự  
nhiên. Khẳng định các yếu tố trong quan hệ này biểu hiện thành  
các mâu thuẫn giữa một bên là yêu cầu của sự phát triển kinh tế  
xã hội với một bên là yêu cầu bảo vệ môi trường. Giải quyết tốt  
mối quan hệ này sẽ thúc đẩy sự phát triển đi lên của xã hội đồng  
thời làm cho môi trường được duy trì, bảo vệ.  
Phan Văn Thạng (2011), “Mối quan hệ giữa xã hội và môi  
trường trong sự phát triển bền vững ở nước ta nhìn từ góc độ xã  
hội học”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. Tác giả  
cũng đưa ra nhận xét về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên  
là biện chứng và đưa ra một số đề xuất giải pháp trên khía cạnh xã  
hội học.  
Về mặt nhà nước đã có những chủ trương, đường lối của  
Đảng và Nhà nước được ban hành về bảo vệ môi trường thời kỳ  
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Chỉ thị số 36-CT/TW  
của Bộ Chính trị (khóa ViII), Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ  
Chính trị (khóa IX), Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa  
6
IX thông qua ngày 27/12/1993 và sửa đổi, bổ sung năm 2005 là  
bộ luật khung của Nhà nước Việt Nam về các vấn đề môi trường.  
Ngoài ra, còn có nhiều tài liệu và bài viết công bố trên các  
trang web, như:  
- Luật và chính sách môi trường, http://tailieu.vn/xem-tai-  
lieu/luat-va-chinh-sach-moi-truong.184574.html  
- Tổng quan khái niệm về tự nhiên, xã hội, mối quan hệ  
giữa chúng và vai trò của con người, http://doc.edu.vn/tai-lieu/de-  
tai-tong-quan-khai-niem-ve-tu-nhien-xa-hoi-moi-quan-he-giua-  
chung-va-vai-tro-cua-con-nguoi-11122/  
Cho dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề mối  
quan hệ giữa con người và tự nhiên với những giá trị lý luận và  
giá trị thực tiễn nhất định. Song chưa có một công trình nào  
nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ vai trò, vị trí của mối quan  
hệ này ở tỉnh Đắk Lắk nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế -  
xã hội ở tỉnh. Vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với  
lòng mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc luận giải cơ sở lý luận  
và thực tiễn cho việc phát huy thế mạnh ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.  
7
CHƢƠNG 1  
LÝ LUẬN CỦA PH. ĂNGGHEN VỀ MỐI QUAN HỆ  
BIỆN CHỨNG GIỮA CON NGƢỜI VÀ TỰ NHIÊN  
TRONG TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN”  
1.1. KHÁI LƢỢC VỀ TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ  
NHIÊN”  
Tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” là tác phẩm chưa hoàn  
thành, được trình bày theo những tiêu đề khác nhau rút ra từ các  
bản thảo, các trích đoạn, bài viết tản mạn, chứ không tập trung  
thành từng phần mạch lạc như các tác phẩm khác. Có thể nói rằng  
mục đích chủ đạo của tác phẩm là phân tích các thành tựu khoa  
học tự nhiên đã đạt được thời bấy giờ để chứng minh cho các  
nguyên lý và quy luật của phép biện chứng duy vật, từ đó giải  
quyết các vấn đề quan trọng của triết học lẫn khoa học tự nhiên.  
Nội dung cốt lõi của tác phẩm tập trung ở tên gọi của nó – “Biện  
chứng của tự nhiên”.  
Quá trình viết và xuất bản tác phẩm “Biện chứng của tự  
nhiên” của Ph. Ăngghen trải qua nhiều giai đoạn khó khăn và  
phức tạp. Tuy tác phẩm chưa được hoàn thành nhưng đây là một  
tác phẩm lớn đầu tiên của chủ nghĩa Mác bàn về giới tự nhiên và  
về khoa học. Ph. Ăngghen bắt tay viết tác phẩm này từ mùa xuân  
năm 1873, nhưng đến năm 1876 thì bị gián đoạn. Ph. Ăngghen  
phải để hai năm viết những bài báo phê phán chủ nghĩa Đuyrinh.  
Sau đó, ông lại tiếp tục tập hợp tài liệu, viết được một số chương  
ở dạng sơ thảo hay trích đoạn và nghiên cứu những vấn đề phép  
biện chứng của tự nhiên cho đến năm 1883, khi C. Mác qua đời.  
8
Ph. Ăngghen lại một lần nữa phải tạm dừng công việc nghiên cứu  
về khoa học tự nhiên để tập trung vào công việc chỉnh lý, hoàn  
thiện và đưa xuất bản tập II đến tập IV của bộ Tư bản của C. Mác.  
Những năm 1885-1886, Ph. Ăngghen bổ sung vào “Biện chứng  
của tự nhiên” khá nhiều ý tưởng mới. Tuy nhiên tác phẩm vẫn  
chưa hoàn thành cho đến khi Ph. Ăngghen mất (1895) nên chưa  
xuất bản được. Chỉ có hai bài “Tác dụng của lao động trong quá  
trình chuyển biến từ vượn thành người” và “Khoa học tự nhiên  
trong thế giới thần linh” được xuất bản sau khi Ph. Ăngghen mất,  
lần lượt vào những năm 1896 và 1898.  
1.2. QUAN ĐIỂM CỦA PH. ĂNGGHEN VỀ CON NGƢỜI  
VÀ TỰ NHIÊN TRONG TÁC PHẨM  
1.2.1. Quan điểm về con ngƣời  
Triết học Mác khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó,  
bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” [21, tr.  
11]. Từ quan điểm này con người được coi như một thực thể  
thống nhất giữa mặt tự nhiên với mặt xã hội.  
Về mặt tự nhiên, con người trước hết là một cơ thể sống,  
bộc lộ đầy đủ các quá trình sinh học, như các hiện tượng sinh lý,  
di truyền, thần kinh, điện – hóa và các quá trình khác; và quá trình  
hình thành, phát triển của con ngươi trước hết phục tùng các quy  
luật tự nhiên. Về mặt xã hội, con người là một nhân cách văn hóa,  
bộc lộ các tố chất tâm lý, tính cách,… là chủ thể các quan hệ xã  
hội, lao động, giao tiếp, sinh hoạt… và quá trình hình thành, phát  
triển của con người không thể không tuân theo các quy luật xã  
hội. Triết học Mác không tách biệt hai mặt đó mà nhìn nhận con  
9
người tồn tại và phát triển trong tính toàn vẹn thống nhất của cả  
hai quá trình.  
Con người, xét về mặt tiến hóa có nguồn gốc từ tự nhiên, là  
sản phẩm của tự nhiên – một sinh vật có tổ chức cao nhất của vật  
chất. Con người khác những loài vật không những về mặt sinh vật  
học mà còn về tính chất sinh hoạt xã hội do chính hoạt động của  
con người tạo ra. Con vật sống dựa hoàn toàn vào tặng phẩm của  
tự nhiên, còn con người phải bằng lao động sản xuất để cải tạo tự  
nhiên, sáng tạo ra của cải vật chất, thỏa mãn nhu cầu ngày càng  
cao của mình, con người chế tạo được những công cụ lao động để  
chế biến những nguyên liệu tự nhiên, cải tạo tự nhiên bằng những  
hoạt động thực tiễn, có kế hoạch và có mục đích. Con người, theo  
đó, không phải được tạo ra bởi sức mạnh huyền bí, nó là sản  
phẩm hoàn hảo nhất, là kết quả quá trình phát triển lâu dài của tự  
nhiên, con người đồng thời thực hiện hoạt động cải tạo tự nhiên,  
biến nó thành thế giới có ý nghĩa đối với con người.  
1.2.2. Quan điểm về tự nhiên  
Về vấn đề con người và tự nhiên, tư tưởng của Ph. Ăngghen  
hoàn toàn giống với tư tưởng của C.Mác.  
C. Mác khẳng định: Giới tự nhiên là “thân thể vô cơ” của  
con người. Đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền  
khăng khít với tự nhiên vì con người là bộ phận của tự nhiên, là  
giai đoạn cao nhất trong quá trình phát triển của giới tự nhiên, con  
người tuân theo các quy luật của tự nhiên và hòa mình vào tự  
nhiên. Con người hoàn toàn không thể thống trị tự nhiên như một  
người sống bên ngoài tự nhiên. Con người có khả năng cải tạo tự  
10  
nhiên và đồng thời giữ vị trí chủ động trong mối quan hệ với tự  
nhiên.  
1.3. SỰ PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA  
CON NGƢỜI VÀ TỰ NHIÊN TRONG TÁC PHẨM  
1.3.1. Sự tồn tại gắn bó giữa xã hội với tự nhiên, vai trò  
của tự nhiên đối với sự tồn tại và phát triển cúa xã hội con  
ngƣời  
- Xã hội và tự nhiên tồn tại trong thể thống nhất vật chất  
của thế giới  
- Con người xuất hiện trên trái đất là kết quả của quá trình  
tiến hóa lâu dài của tự nhiên và phát triển cùng với việc người tác  
động biến đổi tự nhiên thông qua lao động  
- Giới tự nhiên là cơ sở vật chất của thân thể con người, là  
điều kiện, môi trường sống của con người  
- Tự nhiên là điều kiện thiết yếu của hoạt động sản xuất của  
con người  
- Quan hệ giữa con người và tự nhiên không ngừng phát  
triển thông qua lao động sản xuất  
1.3.2. Sự tác động của con ngƣời đến môi trƣờng tự  
nhiên và hậu quả của nó  
- Sự tác động tích cực đúng quy luật sẽ làm cho môi trường  
tự nhiên càng ngày càng đẹp hơn, tốt hơn cho cuộc sống của con  
người  
- Sự tác dộng tiêu cực trái quy luật sẽ làm cho tự nhiên  
ngày càng nghèo nàn đi, tự nhiên sẽ “trả thù” con người  
1.4. Ý NGHĨA CỦA TƢ TƢỞNG ĂNGGHEN ĐỐI VỚI VẤN  
ĐỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HIỆN NAY  
11  
CHƢƠNG 2  
MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƢỜI VÀ TỰ NHIÊN  
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI  
Ở TỈNH ĐẮK LẮK  
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ  
KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH ĐẮK LẮK  
Tỉnh Đắk Lắk nằm ở vị trí trung tâm vùng Tây Nguyên, có  
diện tích tự nhiên 13.125,37 km². Đại bộ phận diện tích của tỉnh  
nằm ở phía Tây Nam dãy Trường Sơn, có hướng thấp dần từ  
Đông Nam sang Tây Bắc. Địa hình đa dạng, đồi núi xen kẽ bình  
nguyên và thung lũng.  
Đắk Lắk có lợi thế về thổ nhưỡng để trồng cây công nghiệp,  
có tiềm năng về tài nguyên phục vụ cho việc phát triển của các  
ngành công nghiệp, xây dựng; có hệ thống giao thông tương đối  
tốt tạo thuận lợi cho việc đi lại, lưu thông hàng hóa để phát triển  
thương mại, dịch vụ.  
Phía Bắc, Đắk Lắk tiếp giáp với tỉnh Gia Lai, phía Nam  
tiếp giáp với tỉnh Lâm Đồng, phía Đông tiếp giáp với tỉnh Phú  
Yên và tỉnh Khánh Hòa, phía Tây tiếp giáp với tỉnh Đắk Nông  
và Vương quốc Cam Pu Chia. Vị trí địa lý này thuận lợi cho việc  
xây dựng và phát triển kinh tế vùng biên và kinh tế đối ngoại,  
mở rộng hợp tác quốc tế và khai thác những tiềm năng phát triển  
của nước bạn Campuchia.  
Đắk Lắk nằm trên các trục giao thông quan trọng: có quốc  
lộ 14 xuyên qua trung tâm tỉnh đi về hai hướng qua Gia Lai và  
Đắk Nông, quốc lộ 26 đi từ thành phố Buôn Ma Thuột đến Nha  
12  
Trang, quốc lộ 27 đi từ Buôn Ma Thuột đến Đà Lạt. Cùng với các  
đường quốc lộ còn có một hệ thống đường cấp tỉnh, cấp huyện, xã  
tạo nên mạng lưới giao thông quan trọng trong giao lưu  
Bắc - Nam, Đông - Tây vận tải quá cảnh và luân chuyển hàng hóa  
nội tỉnh.  
2.2. THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƢỜI  
VÀ TỰ NHIÊN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH  
TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH ĐẮK LẮK  
2.2.1. Những thành tựu đã đạt đƣợc  
2.2.2. Một số thiếu sót, bất cập  
- Về dân số  
Sự gia tăng dân số quá nhanh đã làm suy giảm môi trường ở  
đây một cách nghiêm trọng, đó là sự mất đi tính đa dạng sinh học,  
tài nguyên đất bị phá hủy, thúc đẩy một bộ phận dân cư duy trì  
tình trạng du canh, du cư. Nhiều tài nguyên quý giá của vùng bị  
khai thác quá mức hoặc vô tổ chức đã gây nên những hậu quả  
khôn lường về môi trường, làm gia tăng úng lụt, hạn hán cho cư  
dân vùng đồng bằng.  
Áp lực dân số lên nhu cầu cần có đất canh tác để sản xuất  
lương thực luôn là nguyên nhân chính của những vụ phá rừng.  
Giải quyết tối ưu về vấn đề dân số trước hết là nhiệm vụ  
của mỗi địa phương nhưng nó lại mang tính quốc gia và tính toàn  
cầu. Nó đòi hỏi phải xác định được và giữ được tỷ lệ gia tăng dân  
số hợp lý trên cở sở nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội phù hợp  
với điều kiện môi trường tự nhiên. Mặt khác, bên cạnh việc giữ  
được tỷ lệ gia tăng dân số hợp lý phải có chính sách bố trí dân cư  
hợp lý và đặc biệt là phải tăng cường chất lượng dân cư để đảm  
13  
bảo sự phát triển hài hòa, lâu bền của cả tự nhiên và xã hội ở Đắk  
lắk hiện nay.  
- Về lâm nghiệp  
Hiện nay, diện tích rừng tự nhiên tiếp tục bị thu hẹp, thảm  
thực vật mỏng dần đang đe dọa đến môi trường và cuộc sống con  
người.  
Trong những năm qua, địa phương đã có những cố gắng trong  
công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển vốn rừng, nhưng tốc độ  
phủ xanh đất trống đồi núi trọc không theo kịp tốc độ phá rừng tự  
nhiên, nên độ che phủ bị suy giảm ngày càng tăng.  
Tác động nhiều mặt của con người đã dẫn đến chất lượng  
và tính chất rừng đã thay đổi đáng kể, nhiều loài động thực vật  
mất dần số lượng và nguồn gen, trong đó có những loài quý hiếm  
có nguy cơ bị tuyệt chủng. Cây thủy tùng là loài thực vật nguyên  
thủy được ghi vào sách đỏ thế giới chỉ có rất ít tại xã Ea Hồ huyện  
Krông Năng và xã Ea Ral huyện Ea H’leo. Do sản xuất nông  
nghiệp và xây dựng các công trình thủy lợi, nên thủy tùng đã biến  
mất khỏi xã Ea Hồ.  
- Về nông nghiệp  
Việc sử dụng hoá chất trong chăm sóc, bảo quản nông sản  
là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm  
trọng. Ngày càng có nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV),  
kích thích tăng trưởng được sử dụng trên đồng ruộng. Rất nhiều  
loại trong số đó có nguồn gốc xuất xứ, thành phần hoá học phức  
tạp, không ít loại có độ độc hại cao, khả năng lưu giữ trong môi  
trường lâu. Sử dụng các loại hoá chất trên lâu dài sẽ làm cho môi  
trường đất, nước bị ô nhiễm.  
14  
- Về công nghiệp  
Phát triển công nghiệp trong những năm qua của tỉnh có  
chuyển biến tích cực, nhưng rõ ràng rằng hoạt động này cũng đã  
và đang gây sức ép lên môi trường.  
Đáng lưu ý là trong thời gian qua, công tác quy hoạch và  
phát triển cơ sở hạ tầng cho hoạt động sản xuất công nghiệp  
không được đầu tư kịp thời với quá trình phát triển công nghiệp  
của tỉnh. Nhiều cơ sở sản xuất có khả năng gây ô nhiễm môi  
trường trước đây nằm ở vị trí xa các khu dân cư, nhưng nay đã  
nằm xen kẽ và rất gần khu dân cư, nên nguy cơ tác động đến sức  
khỏe cộng đồng ngày càng gia tăng. Đặc biệt, một số cơ sở sản  
xuất và chế biến cà phê, cao su… nằm ở đầu nguồn các sông,  
suối, nên nguy cơ gây ô nhiễm các nguồn nước mặt cũng rất đáng  
lo ngại.  
- Về y tế  
Thực tế Đắk Lắk đang phải đối mặt với nhiều thách thức  
suy thoái về môi trường. Vì vậy, bảo vệ môi trường cần được gắn  
với trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân và mọi người dân theo  
nguyên tắc “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Để phát  
triển kinh tế bền vững phải giải quyết hàng loạt mâu thuẫn giữa  
lợi ích trước mắt, lâu dài và đặt trong tổng thể, gắn kết hài hòa  
giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường  
2.3. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC TRẠNG TRÊN  
2.3.1. Nguyên nhân khách quan  
Giá các loại nông sản xuống thấp và diễn ra trong một thời  
gian khá dài (nhất là giá của cà phê), lũ lụt, hạn hán đã tác động  
trực tiếp lên đời sống sinh hoạt của người dân. Nhiều địa phương  
15  
kinh tế gặp khó khăn nên dẫn đến tình trạng tốc độ tăng trưởng  
kinh tế phát triển chậm. Ngoài ra còn do giá trị cây công nghiệp  
thấp nên người dân chuyển đổi một số lớn diện tích sang cây  
trồng khác và kỹ thuật canh tác chưa hợp lý. Dẫn đến tốc độ xói  
mòn ở đất ngày càng cao.  
Tình hình an ninh chính trị diễn biến hết sức phức tạp, các  
thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá cách mạng nước ta bằng  
âm mưu “diễn biến hoà bình” bạo loạn lật đổ. Vì vậy đã ảnh  
hưởng trực tiếp và chi phối sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban thường  
vụ và cấp uỷ trên các lĩnh vực.  
2.3.2. Nguyên nhân chủ quan  
Do nhiều nguyên nhân dẫn đến trình độ dân trí chưa cao của  
người dân các vùng ở đây, chính điều này đã và đang cản trở việc  
phát triển kinh tế. Việc nâng cao dân trí cho người dân ở đây là  
một vấn đề bức xúc hiện nay và là quá trình có tính quy luật trong  
công cuộc hiện nay. Và là điều cần thiết để việc đảm bảo hài hòa  
mối quan hệ giưa con người và tự nhiên.  
16  
CHƢƠNG 3  
MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN  
NHẰM ĐẢM BẢO MỐI QUAN HỆ HÀI HÒA GIỮA  
CON NGƢỜI VÀ TỰ NHIÊN TRONG PHÁT TRIỂN  
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH ĐẮK LẮK  
3.1. MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG CHUNG  
* Những phƣơng hƣớng chủ yếu nhằm phát triển có  
hiệu quả kinh tế - xã hội nhanh và bền vững ở Đắk Lắk:  
Tỉnh Đắk Lắk là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá ổn  
định và đang đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, tiến  
hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhận thức được vai trò, tầm  
quan trọng của công tác bảo vệ môi trường trong giai đoạn này.  
Về nông nghiệp: Phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng  
công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn liền việc xây dựng nông thôn  
mới, cải thiện đời sống dân cư nông thôn. Tập trung xây dựng  
phát triển nền nông nghiệp đa dạng, hàng hóa, có khả năng cạnh  
tranh và hướng vào xuất khẩu. Chuyển từ du canh du cư sang định  
canh định cư và biến đất đai tự nhiên thành đất đai có chủ sở hữu,  
thông qua việc giao đất giao rừng lâu dài cho hộ nông dân.  
Bên cạnh đó còn thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở  
hữu về tư liệu sản xuất, đa dạng hoá các thành phần kinh tế, đa  
dạng các chủ thể kinh tế và các hình thức tổ chức kinh tế và đa  
dân tộc tham gia sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng tốt nhu cầu  
của thị trường.  
Trong lâm nghệp, xác định nhiệm vụ khoanh nuôi, bảo vệ  
rừng, phát triển vốn rừng là chính. Tập trung bảo vệ nghiêm ngặt  
17  
diện tích rừng hiện có, trồng mới rừng phòng hộ và rừng nguyên  
liệu bảo đảm kế hoạch và chất lượng cao. Khuyến khích các thành  
phần kinh tế đầu tư trồng rừng, đảm bảo môi trường sinh thái. Đổi  
mới cơ chế khai thác, quản lý, bảo vệ, phát triển rừng. Chủ động  
tổ chức sản xuất, khai thác rừng trồng để đóng dần cửa rừng tự  
nhiên. Tiếp tục thực hiện giao đất, giao rừng cho nông hộ và giải  
quyết hài hòa lợi ích giữa nhà nước và người nhận rừng theo  
hướng có lợi, tăng thu nhập cho người sản xuất. Đặc biệt chú ý  
việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng  
trong buôn, thôn là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ theo Quyết  
định 1174-QĐ/TTg của thủ tướng chính phủ.  
Trong công nghiệp: Tỉnh Đắk Lắk cũng cần thiết phải tập  
trung vào quá trình hình thành và phát triển phân công lao động  
xã hội, mở rộng trao đổi, phát triển thị trường và chuyển dịch cơ  
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ta đã biết  
rằng: phân công lao động xã hội là cơ sở của trao đổi, song đến  
lượt nó, sự phát triển của trao đổi lại làm cho sự chuyên môn hoá  
phát triển về cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Tiến trình phân công lao  
động xã hội trong lịch sử có thể khái quát thành các lần phân công  
lớn sau đây: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; thủ công nghiệp tách  
khỏi nông nghiệp; thương nghiệp tách khỏi sản xuất. Nhằm khắc  
phục hậu quả của sự phân công và phân bố lực lượng lao động  
của xã hội cũ đã để lại và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng  
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.  
Tăng cường quản lý Nhà nước các nguồn tài nguyên đất,  
nước, khoáng sản, đa dạng sinh học. Khai thác, sử dụng có hiệu  
quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.  
18  
Về giáo dục: Thiết nghĩ việc giáo dục nhận thức đúng đắn  
về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ngày càng trở nên cấp  
thiết. Để giáo dục nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa con  
người với tự nhiên trong giai đoạn hiện nay tỉnh Đắk Lắk cần phải  
có những phương hướng sau:  
Một là, thấu triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư  
tưởng Hồ Chí Minh về con người, về tự nhiên, về vai trò của con  
người trong mối quan hệ với tự nhiên đối với tất cả các ngành, các  
trường đại học cao đẳng trên địa bàn tỉnh.  
Hai là, xây dựng những chương trình môn học ngoại khóa  
đề cập một cách trực tiếp đến vấn đề nóng bỏng này như “con  
người và môi trường”, môi trường và phát triển bền vững”, và đầu  
tư một cách thỏa đáng để tất cả các học sinh, sinh viên đều được  
tiếp cận thực tế, bằng trực quan sinh động tác động để người học  
lĩnh hội được một cách dễ dàng nhất. Có thể, trong chương trình  
học khuyến khích học sinh, sinh viên thực hiện những “chiến  
dịch tình nguyện xanh”, hàng năm tổ chức các hội thi “về nguồn”  
áp dụng ngay vào đời sống.  
Ngoài ra, tỉnh cũng nên tổ chức các cuộc vận “tố giác tội  
phạm lâm tặc” để cho các cánh rừng luôn giữ mãi một màu xanh.  
Qua đó giúp học sinh, sinh viên nhận thức đúng đắn hơn về mối  
quan hệ giữa con người với tự nhiên.  
Ba là, tăng cường sự liên kết quốc tế trong lĩnh vực giáo dục  
bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường - vấn đề toàn cầu hết sức cấp  
bách song phải công nhận một thực tế là vấn đề quản lý môi trường ở  
tỉnh Đắk Lắk còn khá mới mẻ. Do vậy, sự hoà nhập của tỉnh vào cộng  
đồng quốc tế, tiến hành toàn cầu hóa thương mại và bảo vệ môi trường  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 21640 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Vận dụng tư tưởng của Ph. Ăngghen về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên" vào việc phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Đắk Lắk", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_van_dung_tu_tuong_cua_ph_angghen_ve_moi_qua.pdf