Luận văn Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt chi nhánh Đăk Lăk

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM  
----o0o----  
NGUYỄN THỊ TÚ ANH  
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO  
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẢO VIỆT  
CHI NHÁNH ĐĂK LĂK  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Buôn Mê Thuột năm 2012  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM  
----o0o----  
NGUYỄN THỊ TÚ ANH  
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO  
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẢO VIỆT  
CHI NHÁNH ĐĂK LĂK  
Chuyên ngành  
Mã số  
: Tài Chính – Ngân Hàng  
: 60340201  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS ĐOÀN ĐỈNH LAM  
TP. Buôn Mê Thuột năm 2012  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa công bố  
tại nơi nào. Số liệu và nội dung trong luận văn này là xác thực, được sử dụng từ  
những nguồn rõ ràng và đáng tin cậy.  
TP. Buôn Mê Thuột, Ngày tháng năm 2012  
Tác giả  
NGUYỄN THỊ TÚ ANH  
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN  
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẢO VIỆT – CN ĐĂK LĂK  
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN  
HÀNG TMCP BẢO VIỆT – CN ĐĂK LĂK  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Diễn giải  
Ký hiệu  
BASEL  
: Ủy ban Basel về giám sát hoạt động NH  
: Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Bảo Việt  
Baovietbank  
Baovietbank - CN : Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Bảo Việt – Chi Nhánh  
Đăk Lăk  
CIC  
Đăk Lăk  
: Trung tâm thông tin tín dụng (thuộc ngân hàng nhà nước)  
: Chuyên viên khách hàng doanh nghiệp  
: Chuyên viên khách hàng cá nhân  
: Chuyên viên quan hệ khách hang  
: Khách hàng  
CVKHDN  
CVKHCN  
CVQHKH  
KH  
LC  
: Letter of Credit (Thư tín dụng)  
: Ngân hàng nhà nước  
NHNN  
NHTM  
NH  
: Ngân hàng thương mại  
: Ngân hang  
P. KHDN  
P.KHCN  
QTRRTD  
: Phòng khách hàng doanh nghiệp  
: Phòng khách hàng cá nhân  
: Quản trị rủi ro tín dụng  
: Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm  
2005 của Ngân hàng nhà nước về trích lập dự phòng nợ xấu  
: Rủi ro tín dụng  
Quyết định 493  
RRTD  
TMCP  
TSĐB  
: Thương mại cổ phần  
: Tài sản đảm bảo  
DANH MỤC BẢNG BIỀU, SƠ ĐỔ, BIỂU ĐỒ  
Bảng 2.1: Bảng kết quả hoạt động kinh doanh của BaovietBank trong năm 2011  
Bảng 2.2: Bảng kết quả hoạt động kinh doanh của Chi Nhánh trong năm 2011  
Bảng 2.3: Tình hình dư nợ của chi nhánh năm 2010 và năm 2011  
Bảng 2.4: Nợ xấu, nợ quá hạn của chi nhánh đến 31/06/2012  
Bảng 2.5: Các loại xếp hạng khách hàng cá nhân tại BaovietBank  
Bảng 2.6: Các loại xếp hạng doanh nghiệp tại BaovietBank  
Sơ đồ 2.1: Quy trình cho vay đối với khách hang tại BaovietBank –CN Đăk Lăk  
Biểu đồ 2.1: Khảo sát nguyên nhân từ phía KH dẫn đến rủi ro tín dụng tại  
BaovietBank  
Biểu đồ 2.2: Nguyên nhân từ phía ngân hàng dẫn đến RRTD BaovietBank.  
Biểu đồ 2.3: Khảo sát nguyên nhân khách quan dẫn đến RRTD tại BaovietBank  
Biểu đồ 3.1: Mức độ tuân thủ nghiêm quy trình cho vay có hạn chế được rủi ro  
Biểu đồ 3.2: Mức độ đồng ý khi thành lập công ty thẩm định giá tài sản đảm bảo.  
Biểu đồ 3.3: Mức độ đồng ý khi cho rằng kiểm soát nội bộ sẽ hạn chế được rủi ro  
Biểu đồ 3.4: Mức độ tán thành khi thành lập bộ phận nghiên cứu, phân tích dự đoán  
diễn biến nền kinh tế.  
Biểu đồ 3.5: Mức độ đồng ý khi tổ chức các lớp học nghiệp vụ  
Biểu đồ 3.6: Khảo sát các yếu tố quan trọng để thẩm định khách hàng  
Biểu đồ 3.7: Mức độ độc lập khách quan của hệ thống thanh tra NHNN  
1
LỜI MỞ ĐẦU  
1. Sự cần thiết của đề tài  
Đã từ lâu dịch vụ ngân hàng trở thành một dịch vụ nền tảng của nền kinh tế.  
Ngân hàng ra đời đã góp phần điều tiết, phân phối vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu và  
thực hiện chức năng này là thông qua hoạt động tín dụng. Tín dụng là công cụ hỗ  
trợ đắc lực giúp cho các thành phần trong xã hội phát triển toàn diện.  
Trong xu thế toàn cầu hóa cầu về tín dụng đối với các thành phần kinh tế  
càng trở nên cấp thiết hơn. Bên cạnh đó, các Ngân hàng cũng cạnh tranh gay gắt  
hơn do ngày càng phát triển lớn mạnh cùng mạng lưới rộng khắp nên vấn đề cấp tín  
dụng ngày càng có nhiều rủi ro. Do vậy tín dụng ngày càng đòi hỏi phải được cải  
thiện về chất lượng lẫn số lượng.  
Hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn rủi ro cao, nhưng đây là sản phẩm đem về  
lợi nhuận chính cho ngân hàng. Đồng thời tín dụng còn là công cụ lôi kéo, tìm kiếm  
khách hàng, bán chéo các sản phẩm khác nhằm gia tăng lợi nhuận. Vì vậy các ngân  
hàng thương mại cổ phần để tồn tại và phát triển vững mạnh trong thời kỳ hội nhập  
cùng với các đối thủ cạnh tranh thì cần phải ngày càng hoàn thiện hệ thống quản lý  
rủi ro tín dụng tại ngân hàng mình nhằm hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra.  
Vì vậy đề ra những giải pháp nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro tín dụng, đảm bảo  
mục tiêu tăng trưởng, phát triển, góp phần ổn định kinh tế là một yêu cầu cấp thiết  
trong giai đoạn hiện nay.  
2. Mục tiêu của đề tài.  
Đề tài nghiên cứu muốn hướng tới mục tiêu:  
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng trong  
hoạt động của các ngân hàng thương mại.  
- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và các nguyên nhân dẫn đến rủi ro  
tín dụng tại BaovietBank – CN Đăk Lăk.  
- Đề ra các giải pháp hạn chế rủi ro cho hoạt động tín dụng tại Ngân hàng  
nhằm hỗ trợ cho ban lãnh đạo BaovietBank – CN Đăk Lăk có định hướng phát  
triển, tăng trưởng tín dụng hiệu quả, an toàn.  
     
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.  
Đối tượng nghiên cứu: Là hoạt động tín dụng tại Ngân Hàng Bảo Việt Chi  
Nhánh Đăk Lăk.  
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu giữa lý luận và thực tiễn nguyên nhân dẫn  
đến rủi ro tín dụng tại BaovietBank – CN Đăk Lăk trong thời gian qua, từ đó đề ra  
những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trong thời gian tới.  
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài.  
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp suy luận, lịch sử, phân tích  
tổng hợp,…. Đi từ lý thuyết đến thực tiễn nhằm làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu,  
đồng thời lập phiếu điều tra khảo sát ý kiến của các cán bộ đang công tác tại  
BaovietBank liên quan đến quy trình tín dụng, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động  
tín dụng, rủi ro tín dụng từ đó đề ra các giải pháp hạn chế RRTD phù hợp.  
5. Cấu trúc nội dung nghiên cứu của đề tài.  
Luận văn được chia làm ba phần chính, cuối mỗi chương đều có mục kết  
luận.  
Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng trong hoạt động của các ngân  
hàng thương mại.  
Chương 2: Thực trạng về hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng  
TMCP Bảo Việt – CN Đăk Lăk.  
Chương 3: Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP  
Bảo Việt – CN Đăk Lăk.  
     
3
CHƯƠNG 1:  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC  
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI  
1.1 Rủi ro trong hoạt động của các NHTM  
1.1.1 Khái niệm về rủi ro  
Theo quan điểm truyền thống: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm  
hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có  
thể xảy ra cho con người.  
Theo quan điểm trung hòa: Rủi ro là một sự không chắc chắn, một tình trạng  
bất ổn hay sự biến động tiềm ẩn ở kết quả. Tuy nhiên, không phải sự không chắc  
chắn nào cũng là rủi ro. Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước  
đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro. Những tình trạng không chắc  
chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra được xem là  
sự bất trắc chứ không phải là rủi ro. Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được.  
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi  
xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so  
với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một  
nghiệp vụ tài chính nhất định.  
1.1.2 Đặc điểm về rủi ro.  
1.1.2.1 Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp.  
Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng và phức tạp của các nguyên nhân dẫn  
đến rủi ro, cũng như các hậu quả do rủi ro gây ra. Nhận thức và vận dụng đặc điểm  
này, khi thực hiện phòng ngừa và hạn chế rủi ro cần áp dụng đồng bộ nhiều biện  
pháp, không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào. Bên cạnh đó, trong quá  
trình xử lý hậu quả rủi ro cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả của rủi  
ro để đưa ra biện pháp phù hợp. Rủi ro gián tiếp gắn liền với chủ thể vay vốn – vốn  
đã mang tính chất phức tạp ở trạng thái đa ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh.  
1.1.2.2 Rủi ro có tính tất yếu  
Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, hoạt động kinh doanh ngân hàng  
         
4
thực chất là quản lý rủi ro ở mức độ phù hợp để đạt được mức lợi nhuận tương ứng.  
Trong từng nghiệp vụ ngân hàng có rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan  
dẫn đến rủi ro. Việc tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với từng hoạt động ngân hàng là  
điều mang tính tất yếu.  
1.1.3 Phân loại rủi ro  
Do đặc thù ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và cung ứng các  
dịch vụ ngân hàng theo Luật các TCTD nên tính chất hoạt động và rủi ro có những  
khác biệt so với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác. Có thể nói,  
hoạt động ngân hàng liên quan đến việc chấp nhận rủi ro chứ không phải né tránh  
rủi ro. Các NHTM cần đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro -  
lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro  
chấp nhận. Các NHTM sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là  
hợp lý và kiểm soát được, đồng thời nằm trong phạm vi, khả năng các nguồn lực tài  
chính và năng lực tín dụng của mình.  
Hoạt động kinh doanh của các NHTM không chỉ bao gồm nghiệp vụ huy  
động vốn và cấp tín dụng mà còn rất nhiều lĩnh vực hoạt động khác như bảo lãnh,  
kinh doanh ngoại hối, chứng khoán, góp vốn liên doanh, dịch vụ thẻ... Chính vì vậy  
nên rủi ro trong hoạt động của các NHTM cũng rất đa dạng. Sau đây là một số rủi  
ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại:  
1.1.3.1 Rủi ro tín dụng: Là rủi ro về sự tổn thất tài chính, phát sinh từ việc khách  
hàng đi vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trả nợ đúng  
hạn theo cam kết hoặc việc khách hàng mất khả năng thanh toán. Điều này có nghĩa  
là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc và lãi vay có thể bị trì hoãn, thậm chí  
là không được hoàn trả, và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự luân  
chuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bị tổn thương trong hoạt  
động của ngân hàng. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà  
còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác như tài trợ thương mại,  
thấu chi, bao thanh toán…  
1.1.3.2 Rủi ro lãi suất: là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị  
 
5
trường hoặc của những yếu tố liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu  
nhập và giá trị ròng của ngân hàng.  
1.1.3.3 Rủi ro thanh khoản: là rủi ro phát sinh chủ yếu từ xu hướng của các  
NHTM là huy động ngắn hạn và cho vay dài hạn, hay nói cách khác là rủi ro khi  
các NHTM không đáp ứng được cho các khoản phải trả khi đến hạn thanh toán  
do tài sản của ngân hàng không có khả năng thanh khoản hay không thể huy động  
vốn. Trường hợp này thường xảy ra nếu như các khoản huy động về mặt kỹ thuật  
sẽ phải hoàn trả theo yêu cầu của người gửi tiền. Đặc biệt, như chúng ta đã thấy  
trong bất cứ một cuộc khủng hoảng nào thì người gửi tiền sẽ rút tiền của mình ra  
nhanh hơn việc người đi vay sẵn sàng trả nợ.  
1.1.3.4 Rủi ro ngoại hối: là rủi ro phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn của các  
khoản ngoại hối mà các NHTM đang nắm giữ, và vì thế làm cho các NHTM có thể  
phải gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động.  
1.1.3.5 Rủi ro hoạt động: là rủi ro liên quan đến công nghệ, cơ sở hạ tầng, quy  
trình, con người trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng, hay nói cách  
khác rủi ro hoạt động bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức  
mà một NHTM điều hành các hoạt động của mình.  
1.1.3.6 Rủi ro pháp lý: là rủi ro ngân hàng có thể bị khởi kiện vì để xảy ra những  
sai sót hoặc sự cố trong quá trình hoạt động kinh doanh gây thiệt hại cho khách  
hàng và đối tác. Rủi ro pháp lý mà các NHTM phải đối mặt có thể tiềm ẩn trong  
nhiều lĩnh vực kinh doanh. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro pháp lý có thể là do con  
người hoặc do công nghệ máy móc. Thậm chí, NHTM có thể gặp phải rủi ro pháp  
lý ngay cả khi ngân hàng không phải là bên gây thiệt hại.  
1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của các NHTM:  
1.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng.  
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong  
hoạt động tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực  
hiện nghĩa vụ hoàn trả của mình cho ngân hàng theo cam kết.  
   
6
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dung  
1.2.2.1 Rủi ro giao dịch.  
Là hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế  
trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá KH. Rủi ro giao dịch có ba  
bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.  
Rủi ro lựa chọn: là rủi ro do lựa chọn những KH có phương án vay vốn chưa  
thực sự hiệu quả.  
Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản  
trong hợp đồng cho vay, các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và  
mức cho vay trên giá trị của TSĐB.  
Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay, kiểm  
soát sau khi vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử  
lý các khoản vay có vấn đề.  
1.2.2.2 Rủi ro danh mục:  
Là hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế  
trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại là rủi  
ro nội tại và rủi ro tập trung.  
Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng  
biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ  
đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH vay vốn.  
Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều  
đối với một số KH, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một  
ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một  
loại hình cho vay có rủi ro cao.  
1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng  
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng rất đa dạng, có thể xét ở góc độ khách  
hàng vay, từ phía ngân hàng và những nguyên nhân chủ quan  
   
7
1.2.3.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay.  
Là nguyên nhân nội tại của mỗi khách hàng. Như khả năng tự chủ tài chính  
kém, năng lực điều hành yếu, hệ thống quản trị kinh doanh không hiệu quả, trình độ  
quản lý của khách hàng yếu kém dẫn đến việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc  
thất thoát, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. Cũng có thể do khách hàng thiếu thiện  
chí trong việc trả nợ vay ngân hàng.  
1.2.3.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng.  
Cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều  
kiện cho vay.  
Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi  
ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để  
tính toán điều kiện vay và khả năng trả nợ. Đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và cá  
nhân, quyết định cho vay của ngân hàng chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa áp  
dụng công cụ chấm điểm tín dụng.  
Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản  
vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn yếu, nhất là đối với ngành đòi hỏi hiểu biết  
chuyên môn cao dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. Mặt khác, cũng có thể  
quyết định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra kiểm soát sau khi cho vay dẫn  
đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích nhưng ngân hàng không ngăn chặn kịp  
thời.  
Thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời,  
chính xác để xem xét, phân tích trước khi cấp tín dụng.  
Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng chưa đủ tầm và  
vấn đề quản lý, sử dụng đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng cũng là nguyên  
nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng.  
1.2.3.3 Nguyên nhân khách quan.  
Là những tác động ngoài ý chí của khách hàng và ngân hàng như: thiên tai,  
hỏa hoạn, do sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch  
vùng, ngành, do hành lang pháp lý chưa phù hợp, do biến động thị trường trong và  
8
ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi… khiến doanh nghiệp lâm vào tình  
trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được. Từ đó, doanh nghiệp dù cho có  
thiện chí nhưng vẫn không thể trả được nợ ngân hàng.  
1.2.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với hoạt động kinh doanh của ngân  
hàng và đối với nền kinh tế  
1.2.4.1 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.  
Nếu ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng  
ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này sẽ làm  
cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Thêm vào đó phải trích lập dự phòng,  
chi phí xử lý khoản nợ có vấn đề làm giảm lợi nhuận ngân hàng.  
Khi không thu được nợ thì vòng quay của vốn tín dụng bị chậm lại làm ngân  
hàng kinh doanh không hiệu quả và có thể mất khả năng thanh khoản. Điều này làm  
giảm lòng tin của người gửi tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín ngân hàng.  
1.2.4.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế.  
Bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính  
chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, các doanh  
nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại, cùng với những dịch vụ đi kèm. Bởi vậy, khi  
RRTD xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của người gửi  
tiền cũng bị ảnh hưởng.  
Khi một ngân hàng gặp phải RRTD hay bị phá sản thì người gửi tiền ở tại  
ngân hàng đó hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền đồng thời tâm lý lo sợ  
sẽ lan ra ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp phải khó  
khăn. Nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội  
mất ổn định.  
Ngoài ra RRTD cũng có thể lan ra trong khu vực, thế giới vì ngày nay, nền  
kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Kinh  
nghiệm cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997- bắt nguồn từ Thái Lan)  
và mới đây là cuộc khủng hoảng tài chính (2007- Mỹ) đã lan ra mức độ toàn cầu.  
 
9
Như vậy RRTD của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ thì giảm  
lợi nhuận, chậm thu hồi được gốc lãi cho vay, nặng khi ngân hàng không thu được  
vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ảnh hưởng uy tín, hoạt động kinh  
doanh, ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục  
được, ngân hàng sẽ bị mất thanh khoản, phá sản.  
Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có  
những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.  
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của các NHTM.  
1.3.1 Lượng hóa rủi ro tín dụng.  
Lượng hóa rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để định lượng  
mức độ rủi ro của khách hàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an  
toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro. Sau đây  
là một số mô hình được áp dụng tương đối phổ biến:  
* Mô hình chất lượng 6 C:  
(1) Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin  
vay của khách hàng, mục đích xin vay của khách hàng có phù hợp với chính sách  
tín dụng hiện hành của ngân hàng và phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của  
khách hàng hay không, đồng thời xem xét lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách  
hàng cũ; còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như từ:  
trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ ngân hàng bạn, từ các cơ quan thông tin đại  
chúng,…  
(2) Năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào quy định pháp luật  
của quốc gia đòi hỏi người đi vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực  
hành vi dân sự.  
(3) Thu nhập của người đi vay (Cash): Trước hết, phải xác định được nguồn  
trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền từ bán  
thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán,…  
(4) Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín  
dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.  
   
10  
(5) Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo  
chính sách tín dụng từng thời kỳ như cho vay hàng xuất khẩu với điều kiện thâu  
ngân phải qua ngân hàng, nhằm thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung  
ương theo từng thời kỳ.  
(6) Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của  
luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay  
hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân  
hàng hay không?  
Nhận xét: Mô hình đánh giá 6C tương đối đơn giản, tuy nhiên nó phụ thuộc  
quá nhiều vào kinh nghiệm, trình độ thu thập thông tin của cán bộ tín dụng, và dễ  
xảy ra tiêu cực khi cán bộ tín dụng cố tình trục lợi làm sai lệch thông tin, hoặc lờ đi  
những thông tin cần thiết gây thiệt hại cho NH.  
* Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & poor:  
Rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếp  
hạng trái phiếu và khoản cho vay. Việc xếp hạng này được thực hiện bởi một số  
dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó có Moody và Standard & Poor là những dịch vụ  
hàng đầu hiện nay.  
Đối với Moody xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng với Standard & Poor thì cao  
nhất là AAA. Việc xếp hạng giảm dần từ Aa (Moody’s) và AA (Standard & Poor)  
sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao. Trong đó, chứng  
khoán (khoản cho vay) trong 4 loại đầu được xem như loại chứng khoán (cho vay)  
mà ngân hàng nên đầu tư, còn các loại chứng khoán (khoản cho vay) bên dưới được  
xếp hạng thấp hơn thì ngân hàng không đầu tư (không cho vay).  
Nhưng thực tế vì phải xem xét mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa rủi ro và lợi  
nhuận nên những chứng khoán (khoản cho vay) tuy được xếp hạng thấp (rủi ro  
không hoàn vốn cao) nhưng lại có lợi nhuận cao nên đôi lúc ngân hàng vẫn chấp  
nhận đầu tư vào các loại chứng khoán (cho vay) này.  
11  
Mô hình xếp hạng của công ty Moody và Standard & Poor  
Moody’s  
Standard & Poor’s  
Xếp hạng  
Aaa  
Aa  
Tình trạng  
Xếp hạng  
AAA  
AA  
Tình trạng  
Chất lượng cao nhất  
Chất lượng cao  
Chất lượng cao nhất  
Chất lượng cao  
Chất lượng vừa cao hơn  
Chất lượng vừa  
Nhiều yếu tố đầu cơ  
Đầu cơ  
A
A
Chất lượng vừa cao hơn  
Chất lượng vừa  
Baa  
Ba  
BBB  
BB  
Chất lượng vừa thấp hơn  
Đầu cơ  
B
B
Caa  
Ca  
Chất lượng kém  
Đầu cơ có rủi ro cao  
Chất lượng kém nhất  
CCC-CC  
C
Đầu cơ có rủi ro cao  
Trái phiếu có lợi nhuận  
Không hoàn được vốn  
C
DDD-D  
Nhận xét mô hình:  
Ưu điểm: Mô hình đánh giá rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn quốc tế  
Nhược điểm: Mô hình chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế Việt Nam  
do các doanh nghiệp ở Việt Nam thường chạy song song 2 báo cáo tài chính.  
* Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model):  
Đây là mô hình do E.I. Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh  
nghiệp vay vốn. Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín  
dụng đối với người đi vay và phụ thuộc vào:  
Trị số của các chỉ số tài chính của người vay.  
Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của  
người vay trong quá khứ.  
Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:  
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5  
Trong đó:  
X1 = Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản  
X2 = Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản  
X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi / tổng tài sản  
12  
X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu / giá trị hạch toán của nợ  
X5 = Hệ số doanh thu / tổng tài sản  
Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp. Ngược lại,  
khi trị số Z thấp thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.  
Z < 1,8  
1,8 < Z <3  
Z > 3  
:
:
:
KH có khả năng rủi ro cao  
Không xác định được.  
KH không có khả năng vỡ nợ.  
Ưu điểm: Kỹ thuật đo lường RRTD tương đối đơn giản.  
Nhược điểm: Mô hình điểm số Z không chia được nhiều nhóm KH khác nhau. Chưa  
đánh giá đầy đủ KH. Có những KH không xác định rõ ràng. Các trọng số trong  
công thức không thể bất biến vì tình hình thị trường, điều kiện kinh doanh cũng như  
điều kiện thị trường tài chính đang thay đổi liên tục.  
* Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:  
Ngoài mô hình điểm số Z, nhiều NH còn áp dụng mô hình cho điểm để xử lý  
đơn xin vay của người tiêu dùng như: mua xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động  
sản,… Các yếu tố quan trọng trong mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: hệ số tín  
dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện  
thoại cố định, tài khoản cá nhân, thời gian làm việc. Mô hình này thường sử dụng 7-  
12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1-10….  
Ưu điểm: Mô hình loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong quá trình cho  
vay và giảm đáng kể thời gian ra quyết định tín dụng.  
Nhược điểm: Mô hình không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để  
thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và bao quát hết tất cả đối tượng KH.  
1.3.2 Đánh giá rủi ro tín dụng.  
1.3.2.1 Đánh giá rủi ro tín dụng theo Basel  
Hiệp ước Basel II cơ bản có 2 công cụ chính đánh giá rủi ro tín dụng là:  
Chấm điểm tín dụng (Credit scoring) đối với KH cá nhân.  
Xếp loại tín dụng (Credit rating) đối với KH doanh nghiệp.  
 
13  
Chấm điểm tín dụng áp dụng với KH cá nhân: áp dụng trong hệ thống NH để  
đánh giá mức độ RRTD đối với khoản vay của doanh nghiệp nhỏ và cá nhân. Chấm  
điểm tín dụng chủ yếu dựa vào thông tin phi tài chính, các thông tin cần thiết trong  
giấy đề nghị vay vốn (NH có thể yêu cầu KH cung cấp thêm giấy tờ chứng minh  
các thông tin kê khai trong đơn đề nghị vay vốn) cùng với các thông tin khác về KH  
do NH thu thập, được nhập vào máy tính, thông qua hệ thống thông tin tín dụng để  
phân tích, xử lý bằng phần mềm đã cài đặt sẵn để cho điểm. Kết quả chỉ ra mức độ  
RRTD của người vay.  
Xếp loại tín dụng áp dụng đối với doanh nghiệp: có đủ báo cáo tài chính, số  
liệu thống kê tích lũy nhiều thời kỳ phục vụ cho việc xếp loại. Áp dụng rộng rãi,  
không những trong hoạt động NH, kinh doanh chứng khoán mà còn trong kinh  
doanh thương mại, đầu tư. Xếp loại tín dụng phân tích tài chính như: nhóm chỉ tiêu  
thanh khoản, nhóm chỉ tiêu hoạt động, nhóm chỉ tiêu nợ, nhóm chỉ tiêu doanh lợi…  
những chỉ số có thể đo lường được 1 cách cụ thể.  
Tổn thất tín dụng được tính toán theo công thức sau.  
EL = PD x EAD x LGD (1.7)  
Trong đó:  
EL: Expected Loss: Tổn thất tín dụng ước tính.  
PD (Probability of Default): Xác suất không trả được nợ. NH phải căn cứ  
trên số liệu dư nợ của KH trong vòng ít nhất là 5 năm, bao gồm các khoản nợ đã trả,  
khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được.  
EAD (Exposure at Default): Tỷ trọng tổn thất ước tính. Đối với các khoản  
vay có kỳ hạn, việc xác định EAD là dễ dàng. Tuy nhiên, đối với khoản vay theo  
hạn mức tín dụng thì lại khá phức tạp. Theo thống kê của Basel thì tại thời điểm  
không trả được nợ, KH thường có xu hướng rút vốn vay xấp xỉ hạn mức được cấp.  
LGD (Loss Given Default): Gồm tổn thất về khoản vay và các tổn thất khác  
phát sinh khi KH không được trả nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được thanh  
toán và các chi phí hành chính có thể phát sinh như chi phí xử lý tài sản thế chấp.  
Chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 85 trang yennguyen 18080 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt chi nhánh Đăk Lăk", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_giai_phap_han_che_rui_ro_tin_dung_tai_ngan_hang_tmc.pdf