Luận văn Tác động của trí tuệ cảm xúc đến kết quả công việc của cán bộ công chức: Trường hợp Sở tài chính thành phố Hồ Chí Minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH  
DƯƠNG THỊ MỸ DUNG  
TÁC ĐỘNG CỦA TRÍ TUỆ CẢM XÚC ĐẾN  
KẾT QUẢ CÔNG VIỆC CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC:  
TRƯỜNG HỢP SỞ TÀI CHÍNH THÀNH PHỐ  
HỒ CHÍ MINH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2019  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH  
DƯƠNG THỊ MỸ DUNG  
TÁC ĐỘNG CỦA TRÍ TUỆ CẢM XÚC ĐẾN  
KẾT QUẢ CÔNG VIỆC CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC:  
TRƯỜNG HỢP SỞ TÀI CHÍNH THÀNH PHỐ  
HỒ CHÍ MINH  
Chuyên ngành:  
Mã số  
Quản lý công (Hệ điều hành cao cấp)  
8340403  
:
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS. BÙI THỊ THANH  
Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi là Dương Thị Mỹ Dung, thực hiện nghiên cứu luận văn với đề tài “Tác  
động của trí tuệ cảm xúc đến kết quả công việc của cán bộ công chức: Trường hợp  
Sở Tài chính thành phố Hồ Chí Minh”. Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung của bài  
luận văn là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.  
TS. Bùi Thị Thanh.  
Các số liệu được nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố  
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính  
trung thực của đề tài nghiên cứu này.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 8 năm 2019  
Tác giả luận văn  
Dương Thị Mỹ Dung  
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
LỜI CAM ĐOAN  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ  
TÓM TẮT - ABSTRACT  
PHỤ LỤC  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
Diễn giải  
Ký hiệu  
ANOVA  
EFA  
Analysis of Variance (Phương pháp phân tích phương sai)  
Exploratory Factor Analysis (Phân tích nhân tố khám phá)  
Kaiser-Meyer-Olkin  
KMO  
Sig.  
Significant (Mức ý nghĩa của phép kiểm định)  
Statistical Package for the Social Sciences (Phần mềm phục  
vụ cho thống kê khoa học xã hội)  
SPSS  
TP.HCM  
VIF  
Thành phố Hồ Chí Minh  
Variance Inflation Factor (Hệ số phóng đại phương sai)  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
TÓM TẮT  
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố thành phần của trí  
tuệ cảm xúc tác động đến kết quả công việc của cán bộ công chức tại Sở Tài chính  
TP.HCM, qua đó đề xuất một số hàm ý quản trị để gia tăng kết quả công việc của cán  
bộ công chức, từ đó góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động tại đơn vị nghiên cứu.  
Trên cơ sở của các kết quả nghiên cứu trước đây về trí tuệ cảm xúc và kết quả  
công việc, nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm xác định các yếu tố thành phần  
của trí tuệ cảm xúc có ảnh hưởng đến kết quả công việc của cán bộ công chức tại Sở  
Tài chính TP.HCM, đưa ra mô hình nghiên cứu, đồng thời thực hiện hiệu chỉnh thang  
đo để đưa vào nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng  
phương pháp nghiên cứu định lượng trên số lượng 180 phiếu khảo sát hợp lệ. Tác giả  
sử dụng phần mềm SPSS để kiểm định, sử dụng hệ số Cronbach ‘s alpha để đánh giá  
độ tin cậy của các thang đo; mô hình nghiên cứu được kiểm định bằng phân tích nhân  
tố khám phá (EFA) và phân tích hồi qui tuyến tính bội.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 04 yếu tố thành phần của trí tuệ cảm xúc tác  
động đến kết quả công việc của cán bộ công chức tại Sở Tài chính TP.HCM, đó là:  
Nhận thức và đánh giá cảm xúc; Suy nghĩ tích cực với cảm xúc; Hiểu rõ cảm xúc; Quy  
định và kiểm soát cảm xúc.  
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra một số đóng góp về mặt học thuật cũng  
như đề xuất một số hàm ý quản trị với lãnh đạo Sở Tài chính TP.HCM trong việc nâng  
cao nhận thức và sự hiểu biết về trí tuệ cảm xúc của cán bộ công chức nhằm gia tăng  
kết quả công việc, mong muốn đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của tổ chức; góp  
phần nâng cao năng lực hoạt động của tổ chức.  
ABSTRACT  
The research was conducted to identify the elements of emotional intelligence  
affecting job performance of civil servants at the Department of Finance in Ho Chi  
Minh City, thereby proposing some administrative implications to join. increase the  
job performance at the research unit, thereby contributing to enhancing the operational  
efficiency of the unit.  
On the basis of the results of previous research on emotional intelligence and  
job performance, qualitative research is conducted to identify the components of  
emotional intelligence that affect job performance of employees at the Department of  
Finance in Ho Chi Minh City, provide research models, and perform scale adjustment  
to include in formal research. Formal research is conducted by quantitative research  
methods on the number of 180 valid survey papers. The author uses SPSS software to  
test, use Cronbach ‘s alpha coefficient to evaluate the reliability of scales; The research  
model is tested by exploratory factor analysis (EFA) and multiple linear regression  
analysis.  
The research results show that there are 04 components of emotional  
intelligence affecting job performance of civil servants at the Department of Finance in  
Ho Chi Minh City: Perception and appraisal of emotions; Facilitating thinking of  
emotions; Understanding emotions; Regulation and management emotions.  
From the research results, the thesis offers some scholarly contributions as well  
as proposing some administrative implications with leaders of HCMC Department of  
Finance in raising awareness and understanding of intelligence emotions to increase  
the performance of civil servants, contributing to improving the operational capacity of  
the organization.  
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU  
1.1. Lý do chọn đề tài  
Trong nghệ thuật tâm lý học, chúng ta phải hiểu được toàn bộ các khía cạnh  
về lý trí và cảm xúc của một con người để khai thác tốt tiềm năng của họ. Đầu  
những năm 1900, Thorndike (1920) tin rằng có nhiều loại trí thông minh khác nhau,  
cụ thể trí thông minh thứ nhất là trí thông minh trừu tượng được đo bằng các bài  
kiểm tra IQ, trí thông minh thứ hai là trí thông minh cụ thể được sử dụng để hiểu và  
thao túng các vật thể và hình dạng, trí thông minh thứ ba là trí thông minh xã hội là  
năng lực tổng thể hoặc năng lực chung của cá nhân để hành động có mục đích, để  
suy nghĩ hợp lý và để ứng phó có kết quả với môi trường xung quanh mình, trong  
đó trí thông minh xã hội là khả năng hòa hợp với người khác bằng cách có thể hiểu  
được các trạng thái bên trong, động cơ và hành vi của bản thân và người khác, khái  
niệm này rất gần với khái niệm ngày nay, được gọi là trí tuệ cảm xúc (Dhani và  
Sharma, 2016).  
Trí tuệ cảm xúc đã được đề cập từ lâu nhưng đến khoảng những năm 1990,  
trí tuệ cảm xúc mới nổi lên như một chủ đề nghiên cứu, thu hút được sự quan tâm  
của rất nhiều tác giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Những công trình nghiên cứu  
về trí tuệ cảm xúc đã chỉ ra rằng: Trí tuệ cảm xúc là một dạng trí tuệ của con người  
và là một thành tố quan trọng trong cấu trúc nhân cách, có mối quan hệ chặt chẽ  
giữa trí tuệ cảm xúc và sự thành công trong hoạt động học tập, hoạt động nghề  
nghiệp của các cá nhân (Trương Thị Khánh Hà, 2015).  
Trí tuệ cảm xúc đã thu hút nhiều sự chú ý của các nhà quản lý, nhà giáo dục  
và học giả (Ashkanasy và Daus, 2005) dựa trên niềm tin rằng trí tuệ cảm xúc sẽ cải  
thiện kết quả công việc của nhân viên. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về trí  
tuệ cảm xúc và mối quan hệ của nó với kết quả công việc (Goleman, 1995; Bar-On  
và Parker, 2000), các nhà nghiên cứu quan tâm đến việc hiểu cách thức mà cảm xúc  
ảnh hưởng đến kết quả công việc của nhân viên và nhấn mạnh sự cần thiết phải  
nghiên cứu tập trung vào cảm xúc của nhân viên trong tổ chức (Ashforth và  
   
2
Humphrey, 1993; Manyinsky, 2000; trích dẫn trong Moon và Hur, 2011). Hầu hết  
các nhà nghiên cứu khẳng định rằng trí tuệ cảm xúc của nhân viên có thể dự đoán  
các kết quả liên quan đến công việc (Sy và cộng sự, 2006). Một số nghiên cứu cụ  
thể như: nghiên cứu “Mối quan hệ giữa trí tuệ cảm xúc và kết quả công việc của các  
nhân viên tổng đài điện thoại tại Kuala LumPur, Malaysia” của Shamsuddin và  
Rahman (2014); nghiên cứu của Mohamad và Jais (2016) về “Tác động của trí tuệ  
cảm xúc đến kết quả công việc của các giáo viên ở Malaysia”; nghiên cứu “Mối  
quan hệ giữa trí tuệ cảm xúc và kết quả công việc của các nhà quản lý ở Ấn Độ”  
của Dhani và cộng sự (2016) đã tổng hợp và phân tích các thành phần của trí tuệ  
cảm xúc tác động đến kết quả công việc.  
Ngày nay, các chuẩn mực đánh giá kết quả công việc đang thay đổi, việc  
đánh giá không chỉ thông qua trí thông minh, sáng tạo và được đào tạo chuyên sâu  
về chuyên môn nghiệp vụ của người lao động mà còn thông qua cảm xúc giữa  
người lãnh đạo với nhân viên và giữa nhân viên với nhau. Theo Goleman (1995)  
cho rằng để thúc đẩy doanh thu và tăng thị phần, tăng kết quả công việc và giảm sự  
dịch chuyển ra khỏi tổ chức của nhân viên, nhiều tập đoàn lớn trên thế giới đã ứng  
dụng chỉ số thông minh cảm xúc (Emotional Quotient - EQ). Cụ thể, Pepsico đã  
tăng được kết quả công việc lên 10%, Sheraton đạt thêm 24% thị phần và Amadori  
đã giảm được 63% tỷ lệ thay đổi nhân sự, bởi vì họ đã phát triển được chỉ số thông  
minh cảm xúc của nhân viên.  
Theo Bradberry (2015) trí tuệ cảm xúc tốt giúp chúng ta kết nối với nhân  
viên, đồng nghiệp tốt hơn và chiếm đến 58% giá trị dẫn đến kết quả thành công  
trong công việc của một người nhân viên; 90% những người xuất sắc trong công  
việc thì có trí tuệ cảm xúc rất cao. Khi một cá nhân có trí tuệ cảm xúc cao sẽ hình  
thành nên thái độ tích cực, trách nhiệm và sự chân thành cao để giải quyết những  
vấn đề khác nhau trong môi trường làm việc (Haryono và cộng sự, 2018).  
Các nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc có ảnh hưởng đến kết quả công việc  
không chỉ áp dụng riêng cho khu vực tư nhân mà đã có thể bắt đầu ứng dụng trong  
3
khu vực công. Khi thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa trí tuệ cảm xúc và kết  
quả công việc trong khu vực công, Vigoda-Gadot và Meisler (2010) nhận thấy trí  
tuệ cảm xúc có ảnh hưởng lớn đến kết quả công việc của công chức và cho rằng trí  
tuệ cảm xúc nên được sử dụng như một chỉ số đánh giá hiệu quả cho chất lượng  
dịch vụ công. Thông qua việc cải thiện trí tuệ cảm xúc, các công chức được kỳ vọng  
sẽ trở thành những nhân viên lý tưởng có thể phục vụ, thấu hiểu và đồng cảm với  
những người luôn mong đợi sự phục vụ tốt từ chính phủ, mức chất lượng dịch vụ sẽ  
được đánh giá cao nếu dịch vụ đáp ứng sự mong đợi của cộng đồng (Shih và  
Susanto, 2010).  
Thời gian qua, các cơ quan quản lý nhà nước tại TP.HCM triển khai thực  
hiện tốt đường lối chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về công tác cải cách hành  
chính và đạt được nhiều kết quả, năng lực của đội ngũ công chức được nâng lên,  
hoạt động của bộ máy hành chính đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội  
thành phố, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, tổ chức, người dân giảm chi phí,  
tiết kiệm thời gian hơn, gần gũi hơn, thuận lợi và dễ dàng hơn khi đến liên hệ giải  
quyết thủ tục hành chính.  
Sở Tài chính TP.HCM là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân  
TP.HCM, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thành phố quản lý nhà  
nước về tài chính – ngân sách. Tại Sở Tài chính, khối lượng công việc phải giải  
quyết hàng năm của Sở rất lớn, bình quân hàng năm số lượng văn bản đến Sở là  
19.689 văn bản và số lượng văn bản phát hành là 8.737 văn bản. Đồng thời, với  
hành lang pháp lý nước ta hiện nay liên tục thay đổi và có nhiều văn bản hướng dẫn  
dưới luật, việc mỗi công chức phải tự nghiên cứu, cập nhật một khối lượng lớn các  
văn bản quy định là rất khó khăn. Theo thống kê của Sở Tài chính thì hiện nay khối  
lượng công việc đã giải quyết của cán bộ công chức chỉ mới đạt được 70% kế hoạch  
đề ra.  
Khi Nghị quyết 54/2017/QH14 ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội về  
thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP.HCM được triển khai thực hiện thì  
4
công việc của Sở Tài chính tăng lên rất nhiều, đòi hỏi kết quả công việc của cán bộ  
công chức phải nâng lên tối đa để đạt được kế hoạch nhiệm vụ do Thành phố giao  
phó. Chính điều này đã gây áp lực không nhỏ về khối lượng công việc tăng cao cho  
Lãnh đạo Sở cũng như đội ngũ công chức.  
Với áp lực công việc cao, trách nhiệm cá nhân nặng nề khiến đội ngũ công  
chức Sở Tài chính dễ dàng rơi vào những trạng thái mất cân bằng tinh thần, dẫn đến  
những ứng xử, phản ứng không phù hợp, thiếu bình tĩnh trong xử lí các tình huống  
với người dân, lãnh đạo cấp trên và đồng nghiệp. Đồng thời, họ sẽ không tránh khỏi  
những trường hợp cảm thấy chán nản khi đồng nghiệp không nắm bắt được cảm  
xúc của mình khi gặp khó khăn trong công việc để kịp thời động viên, hỗ trợ, còn  
mang tâm lý nể nang, ngại đánh giá. Ngoài ra, do phong cách lãnh đạo của một số  
cán bộ quản lý chưa nhận thức và đánh giá đúng cảm xúc của bản thân nên vẫn có  
khuynh hướng không quan tâm đến việc phải hiểu cảm xúc của nhân viên như: có  
quyền điều chuyển, áp đặt quy tắc trong công việc mà không cần thông qua việc  
tham khảo ý kiến của cán bộ công chức. Những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ  
đến kết quả công việc, giảm đi sự sáng tạo của mỗi thành viên trong tổ chức và  
giảm đi hiệu suất hoạt động của tổ chức.  
Các nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc cho thấy, những nhân viên xuất sắc ở tổ  
chức thì ngoài năng lực tốt, hiệu quả làm việc cao thì họ đều là những người vui vẻ,  
nhiệt tình, khéo léo trong xử lí tình huống, chịu được áp lực công việc và quan hệ  
tốt với đồng nghiệp, họ sẽ cam kết mang lại các giá trị cao hơn về động lực phụng  
sự công, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân, vì vậy phải chăng kết quả làm việc  
chịu ảnh hưởng tích cực từ trí tuệ cảm xúc?  
Chính vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài “Tác động của trí tuệ cảm xúc đến kết  
quả công việc của cán bộ công chức: Trường hợp Sở Tài chính thành phố Hồ  
Chí Minh” nhằm làm rõ mối quan hệ giữa trí tuệ cảm xúc và kết quả công việc, là  
cơ sở để xác định vai trò của trí tuệ cảm xúc ảnh hưởng đến kết quả công việc, từ đó  
5
đưa ra các hàm ý quản trị nhằm nâng cao kết quả công việc cá nhân của cán bộ  
công chức thông qua việc nâng cao chỉ số trí tuệ cảm xúc.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu:  
(i) Xác định các thành phần của trí tuệ cảm xúc tác động đến kết quả công  
việc của cán bộ công chức trong tổ chức.  
(ii) Xác định mức độ tác động của các thành phần thuộc trí tuệ cảm xúc ảnh  
hưởng đến kết quả công việc của cán bộ công chức tại Sở Tài chính TP.HCM.  
(iii) Đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao kết quả công việc của cán  
bộ công chức thông qua việc nâng cao chỉ số trí tuệ cảm xúc.  
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Trí tuệ cảm xúc, kết quả công việc và mối quan hệ  
giữa chúng.  
- Đối tượng khảo sát: cán bộ công chức đang làm việc tại Sở Tài chính  
TP.HCM.  
- Phạm vi nghiên cứu:  
+ Trí tuệ cảm xúc, kết quả công việc của cán bộ công chức Sở Tài chính.  
+ Thời gian thực hiện nghiên cứu: Từ tháng 01/2019 đến tháng 06/2019.  
1.4. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu định  
lượng kết hợp với nghiên cứu định tính, cụ thể là:  
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Thực hiện bằng kỹ thuật thảo luận  
nhóm tập trung với 2 nhóm để điều chỉnh, bổ sung thang đo các thành phần của trí  
tuệ cảm xúc và thang đo kết quả công việc cho phù hợp với tình hình thực tiễn tại  
Sở Tài chính TP.HCM, cụ thể:  
     
6
Nhóm thảo luận 1: Gồm 9 chuyên viên là cán bộ công chức đang làm việc tại  
Sở Tài chính TP.HCM, thực hiện thảo luận trực tiếp.  
Nhóm thảo luận 2: Gồm 7 cán bộ công chức là lãnh đạo các phòng đang làm  
việc tại Sở Tài chính, thực hiện thảo luận trực tiếp.  
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Dựa trên kết quả thu thập được từ  
việc thực hiện khảo sát trực tiếp thông qua bảng câu hỏi đã được xây dựng và điều  
chỉnh đối với cán bộ công chức các phòng thuộc Sở Tài chính TP.HCM nhằm xác  
định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả công việc tại Sở Tài chính TP.HCM. Tác giả  
sử dụng kỹ thuật phân tích trên phần mềm SPSS như: Cronbach’s Alpha, phân tích  
nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy, để phân tích dữ liệu và tổng hợp kết  
quả nghiên cứu.  
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: thông qua khảo sát và phỏng vấn. Mẫu khảo sát được  
lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện các cán bộ công chức đang làm  
việc tại Sở Tài chính TP.HCM.  
1.5. Ý nghĩa của nghiên cứu:  
Kết quả nghiên cứu đã có đóng góp về mặt thực tiễn, cụ thể:  
- Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu tác động về trí tuệ cảm  
xúc tác động đến kết quả công việc, đặc biệt là trong các tổ chức công. Vì vậy, kết  
quả nghiên cứu giúp cho cán bộ lãnh đạo Sở Tài chính nói riêng và khu vực công  
nói chung có cái nhìn rộng hơn về ý nghĩa của trí tuệ cảm xúc ứng dụng trong công  
việc và đưa ra các hàm ý quản trị về tác động của các yếu tố thành phần của trí tuệ  
cảm xúc để nâng cao kết quả công việc của đội ngũ cán bộ công chức.  
- Nghiên cứu này có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý và nhân  
viên tại các tổ chức, các nhà nghiên cứu, bạn đọc quan tâm đến trí tuệ cảm xúc và  
kết quả công việc của nhân viên.  
1.6. Kết cấu luận văn  
Kết cấu của báo cáo nghiên cứu gồm 5 chương:  
   
7
Chương 1. Tổng quan về nghiên cứu  
Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi  
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu luận văn.  
Chương 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
Trình bày cơ sở lý thuyết, khái niệm và thang đo trí tuệ cảm xúc, kết quả  
công việc và mối quan hệ giữa chúng; các nghiên cứu trước có liên quan trong nước  
và nước ngoài. Từ đó làm cơ sở để xây dựng các giả thuyết và đề xuất mô hình  
nghiên cứu của tác giả.  
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu  
Trình bày thiết kế nghiên cứu, cách chọn mẫu, xây dựng thang đo và phương  
pháp phân tích dữ liệu.  
Chương 4. Kết quả nghiên cứu  
Trình bày kết quả thống kê mô tả; kết quả về độ tin cậy của thang đo và kết  
quả hồi quy tuyến tính để khẳng định mối quan hệ của các biến; kết quả kiểm định  
các giả thuyết; kết quả kiểm định sự khác biệt T-Test và ANOVA.  
Chương 5. Kết luận và hàm ý quản trị  
Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị và hạn chế của  
nghiên cứu.  
Danh mục tài liệu tham khảo  
Phụ lục  
Tóm tắt Chương 1  
Chương 1 đã trình bày tổng quan về lý do chọn đề tài của nghiên cứu, mục  
tiêu và phương pháp nghiên cứu làm cơ sở và định hướng cho những chương tiếp  
theo của luận văn.  
8
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
2.1. Trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence)  
2.1.1. Khái niệm  
Khái niệm trí tuệ cảm xúc có nguồn gốc từ tâm lý học, nguồn gốc sâu xa  
nhất của trí tuệ cảm xúc có thể được đề cập trong nghiên cứu của Darwin về tầm  
quan trọng của sự diễn đạt cảm xúc của các cá thể trong quá trình chọn lọc tự nhiên  
và các thay đổi thích nghi. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng chính Aristotle là người  
đầu tiên đề cập đến tầm quan trọng của cảm xúc trong tương tác của con người  
(Langley, 2000), như Aristotle đã nói, những người sở hữu kỹ năng hiếm có để tức  
giận với đúng người, đúng mức độ, đúng thời điểm, đúng mục đích và đúng cách là  
một lợi thế trong bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc sống (Goleman, 1996).  
Vào những năm 1920, Thorndike (1920) đã tìm cách nhận dạng trí tuệ cảm  
xúc và gọi đó trí thông minh xã hội. Theo Gryn (2010), vào thời điểm đó định nghĩa  
về trí thông minh xã hội là vô cùng rộng và rất khó để tách khỏi định nghĩa của các  
loại trí thông minh khác nhau.  
Nỗ lực tìm hiểu trí thông minh xã hội đã dẫn đến những yêu cầu tìm hiểu sâu  
hơn của các học giả, Wechsler (1943) đã phát triển khái niệm trí thông minh phi  
nhận thức và cho rằng nó rất cần thiết cho sự thành công trong cuộc sống, trí thông  
minh sẽ không hoàn thiện khi chúng ta không thể xác định được các khía cạnh  
không nhận thức của nó, Maslow (1950) cho rằng mọi người có thể xây dựng sức  
mạnh cảm xúc. Sau đó, Payne (1985) đã sử dụng thuật ngữ trí tuệ cảm xúc trong  
nghiên cứu về phát triển trí tuệ cảm xúc của mình.  
Lý thuyết toàn diện về trí tuệ cảm xúc đã được hai nhà tâm lý học Peter  
Salovery giảng dạy tại trường Đại học Yale và John Mayer thuộc trường Đại học  
New Hampshire đề xuất năm 1990, trí tuệ cảm xúc được nhìn nhận dưới góc độ  
nhận thức và là một phần của trí thông minh xã hội bao gồm khả năng quan sát cảm  
xúc của chính mình và người khác, phân biệt được các loại cảm xúc và sử dụng  
thông tin nhận được về cảm xúc để làm hướng dẫn cho suy nghĩ và hành động.  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 126 trang yennguyen 13700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Tác động của trí tuệ cảm xúc đến kết quả công việc của cán bộ công chức: Trường hợp Sở tài chính thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_tac_dong_cua_tri_tue_cam_xuc_den_ket_qua_cong_viec.pdf