Luận văn Sự tham gia người dân trong việc xây dựng công trình giao thông nông thôn trên địa bàn huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
------------------
VĂNG THANH CƯỜNG
SỰ THAM GIA NGƯỜI DÂN TRONG VIỆC XÂY DỰNG
CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
------------------
VĂNG THANH CƯỜNG
SỰ THAM GIA NGƯỜI DÂN TRONG VIỆC XÂY DỰNG
CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8340403
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN HỮU DŨNG
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: "Sự tham gia người dân trong việc xây dựng công trình
giao thông nông thôn trên địa bàn huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu" là
công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác./.
TP. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Người thực hiện luận văn
Văng Thanh Cường
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU...............................................................................................1
1.1 Đặt vấn đề .........................................................................................................1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu........................................................................3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................3
1.4 Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................4
1.5 Bố cục luận văn.................................................................................................4
2.1.1 Khái niệm về sự tham gia ..........................................................................5
2.1.2 Khái niệm phát triển nông thôn.................................................................5
2.1.3 Khái niệm về đường GTNT........................................................................6
2.7 Các đề tài nghiên cứu liên quan......................................................................23
3.1 Đặc điểm địa bàn huyện Tân Thành...............................................................25
3.1.1 Lịch sử hình thành...................................................................................25
3.1.2 Vị trí địa lý...............................................................................................25
3.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội.........................................................................28
3.2 Quy trình nghiên cứu ......................................................................................30
3.3 Chọn điểm nghiên cứu....................................................................................30
3.4 Thu thập thông tin...........................................................................................31
3.4.1 Thông tin sơ cấp ......................................................................................31
3.4.2 Thông tin thứ cấp.....................................................................................31
3.5 Quá trình khảo sát...........................................................................................32
5.1 Kết luận...........................................................................................................57
5.2 Kiến nghị.........................................................................................................59
5.3 Hạn chế của đề tài...........................................................................................61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức quản lý các cấp về GTNT ...................................................12
Hình 3.1. Bản đồ hành chính huyện Tân Thành .......................................................27
2014 – 2016...............................................................................................................36
dựng đường GTNT....................................................................................................47
kiểm tra, giám sát ......................................................................................................55
TÓM TẮT
Đường giao thông nông thôn (GTNT) là tiêu chí đặc biệt quan trọng trong
Chương trình Nông thôn mới (NTM) sẽ tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế -
xã hội của cả nước, được triển khai bao quát từ Trung ương đến địa phương. Mặc
dù thực hiện tiêu chí xây dựng đường GTNT ở huyện Tân Thành có những thành
công lớn. Bên cạnh đó vẫn còn một số mặt hạn chế làm ảnh hưởng đến sự phát triển
và bền vững cơ sở hạ tầng GTNT. Một trong những yếu tố chính đó là sự tham gia
của cộng đồng trong các hoạt động về xây dựng đường giao thông trong NTM. Nhà
nước chỉ nên tham gia một phần và hỗ trợ về chính sách, tạo động lực để người dân
đủ tự tin và tham gia tích cực.
Tuy nhiên thực trạng về sự tham gia của người dân tại huyện Tân Thành khi
được khảo sát thực tế, cho thấy người dân chỉ dừng lại ở mức biết được thông tin.
Các hoạt động tham gia khác như: Kế hoạch, lập danh mục theo thứ tự ưu tiên,
giám sát, quản lý… vẫn còn rất ít, đa phần người dân được biết khi thấy bắt đầu xây
dựng hoặc được mời tham dự các cuộc họp ở địa phương khi cần kêu gọi đóng góp.
Mức độ tham gia của người dân theo thang đo “dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra” có sự giảm dần, với những dự án liên quan trực tiếp đến đời sống người
dân và có sự đóng góp chi phí của họ vào xây dựng GTNT thì người dân mới chủ
động tham gia vào. Ngược lại, những dự án hoàn toàn từ nguồn ngân sách Nhà
nước thì sự tham gia của người dân hầu như không có.
Qua đó, cho thấy thực hiện thành công cơ sở hạ tầng GTNT trong NTM ở
huyện Tân Thành chỉ dựa trên cơ sở đánh giá đạt về tiêu chí số 02 (giao thông)
trong bộ 19 tiêu chí mà không đến từ sự tham gia của người dân.
Để cải thiện sự tham của người dân vào hoạt động xây dựng đường GTNT,
tác giả đưa ra một số kiến nghị: (1) có sự cách mạng truyền thông, thực hiện các
biện pháp truyền thông thống nhất về xây dựng GTNT; (2) có quy định thống nhất
về sự tham gia của người dân ở từng địa phương; (3) có cơ chế tài trợ vốn linh hoạt
cho các công trình GTNT; (4) các công trình GTNT phải được tiến hành bằng nhiều
hình thức phối hợp, lồng ghép nhau; (5) thực hiện công khai minh bạch từ khâu lập
danh mục, lên kế hoạch, tài chính của các công trình; (6) người dân phải có quyền
quyết định những hoạt động tại địa phương mà họ sinh sống cũng như chủ động
trong việc quyết định nên thực hiện việc nào trước để phù hợp với nguồn lực của
địa phương; (7) Nhà nước cần có cơ chế, chính sách cụ thể để khuyến khích và bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư xây
dựng công trình GTNT; (8) tăng cường công tác giám sát, quản lý trước, trong và
sau khi xây dựng công trình GTNT.
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông thôn của nước ta đã đạt được
những thành tựu to lớn sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Bên cạnh đó,
những thành tựu đạt được vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Cụ
thể là, nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, năng suất, chất lượng chưa cao,
sức cạnh tranh còn thấp. Bên cạnh đó, nông nghiệp, nông thôn phát triển còn thiếu
quy hoạch, kết cấu hạ tầng còn kém, môi trường ngày càng bị ô nhiễm. Đời sống
vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chênh lệch
giàu - nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn. Vì vậy, cần phải tiến hành xây
dựng NTM để nâng cao đời sống, vật chất và tinh thần của người dân, đồng thời
xóa bỏ rào cản giữa thành thị và nông thôn, rút ngắn khoảng cách phân hóa giàu
nghèo và góp phần mang lại cho nông thôn một bộ mặt mới, tiềm năng để phát triển
kinh tế - xã hội.
Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM là một chương trình
mang tính tổng hợp, có nội dung toàn diện, gồm tất cả các lĩnh vực về kinh tế - văn
hóa - xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng. Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ
đã phê duyệt Quyết định số 491/QÐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM
gồm 19 tiêu chí. Trong 19 tiêu chí đó, tiêu chí số 02 về phát triển cơ sở hạ tầng
GTNT được đặt lên hàng đầu. Phát triển đường GTNT là yêu cầu cần thiết và có
tính chất quan trọng đối với đời sống xã hội. Tiêu chí số 02 về đường GTNT cũng
được xem là tiêu chí khó thực hiện vì nó liên quan đến kinh phí, quy hoạch, sự đồng
thuận của người dân. GTNT là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng, là
bước đi đầu tiên cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Với thực tế đã chứng
minh, nơi nào có cơ sở hạ tầng giao thông hoàn chỉnh thì ở đó nền kinh tế - xã hội
phát triển nhanh và bền vững.
Trong những năm gần đây, NN phát động phong trào “Nhà nước và nhân
dân cùng làm” trong xây dựng NTM, đặc biệt là xây dựng đường GTNT được
2
thực hiện ở nhiều địa phương. Từ chính quyền TW đến địa phương, đường GTNT
đều được ưu tiên đầu tư hơn các lĩnh vực khác do đường giao thông được xem là
cơ sở phát triển cho các hoạt động khác. Người dân tham gia các công việc vào
xây dựng các công trình đường GTNT như khảo sát, thiết kế, giám sát, đóng góp
chi phí hoặc đóng góp công sức lao động trực tiếp để xây dựng công trình và chính
cộng đồng người dân được hưởng lợi trực tiếp từ các công trình xây dựng này.
Nhưng nhiều người dân ở một số địa phương vẫn chưa hiểu được tính quan
trọng khi tham gia xây dựng công trình đường GTNT. Hoặc sự tham gia của người
dân trong xây dựng công trình chưa được quan tâm đúng mức, nếu có thì chỉ mang
tính hình thức do bị tác động theo kiểu huy động, áp đặt một chiều từ trên xuống.
Tình trạng người dân sử dụng sai mục đích, khai thác sử dụng công trình quá công
suất thiết kế, lấn chiếm đất trong phạm vi hành lang an toàn giao thông, vai trò của
người dân chưa được đánh giá đúng mức... là kết quả của các giải pháp chưa thực
sự khoa học, hợp lý và hiệu quả trong công tác xây dựng đường GTNT ở nước ta.
Huyện Tân Thành là một huyện có vai trò quan trọng trong sự phát triển
kinh tế - xã hội chung của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn
hóa - xã hội giữa tỉnh nhà với Đồng Nai và TP. HCM. Cho nên, việc xác định đầu
tư, xây dựng kết cấu hạ tầng để tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội,
Đảng bộ, chính quyền huyện Tân Thành đã tranh thủ các nguồn lực như vốn đầu tư
của TW, của tỉnh, phát động phong trào NN và nhân dân cùng tham gia xây dựng
đường GTNT. Cho đến nay, hệ thống đường giao thông này tại huyện còn chưa
đồng bộ, một số không nhỏ tuyến đường chưa đạt cấp kỹ thuật. Một thực tế là ở
nhiều nơi, công trình bị xuống cấp nghiêm trọng, quản lý trong quá trình xây dựng
cũng như khai thác sử dụng còn rất hạn chế. Sự tham gia của người dân trong việc
xây dựng đường GTNT chưa thực sự hiệu quả và thiếu tính đồng bộ. Đó cũng là
một trong những nguyên nhân làm cho các công trình bị xuống cấp nghiêm trọng,
quản lý trong quá trình xây dựng cũng như khai thác sử dụng còn rất hạn chế.
Cộng đồng người dân hưởng lợi chưa quan tâm đến việc tham gia xây dựng đường
3
giao thông. Do đó, yêu cầu đặt ra là làm sao để cải thiện sự tham gia của người dân
trong xây dựng đường GTNT ở huyện Tân Thành .
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế về phát triển hệ thống GTNT và sự tham
gia của người dân, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài "Sự tham gia người dân
trong việc xây dựng công trình giao thông nông thôn trên địa bàn huyện Tân
Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu".
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về thực trạng sự tham gia của người dân trong việc xây
dựng các công trình GTNT tại huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Qua
phân tích thực trạng sự tham gia của người dân, đề tài sẽ đưa ra những kiến nghị
giúp cải thiện sự tham gia của người dân trong việc xây dựng các công trình
GTNT trên địa bàn huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Để tạo cơ sở cho
nghiên cứu, đề tài tìm hiểu về vai trò của người dân trong việc xây dựng đường
GTNT và mức độ tham gia của người dân trong việc phát triển các chính sách xây
dựng đường GTNT.
Do đó, đề tài đưa ra câu hỏi chính sách như sau:
Câu hỏi 1: Sự tham gia của người dân có liên quan như thế nào đến sự phát
triển các công trình GTNT?
Câu hỏi 2: Vai trò thực tế của người dân trong việc tham gia xây dựng các
công trình GTNT trên huyện Tân Thành?
Câu hỏi 3: Làm thế nào để cải thiện sự tham gia của người dân trong việc
xây dựng các công trình GTNT?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự tham gia của người dân trong việc xây dựng các
công trình GTNT trên địa bàn huyện Tân Thành.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành khảo sát 03 xã trên địa bàn
huyện Tân Thành. Bên cạnh đó các thông tin, dữ liệu còn được thu thập tại các xã
nghiên cứu, UBND huyện Tân Thành, Ban chỉ đạo NTM huyện, xã.
4
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định tính, kết hợp thống kê mô tả với
phương pháp so sánh, đối chiếu và phân tích tình hình thực tế để đưa ra các đánh
giá và trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích thống kê mô tả: Dựa vào số liệu thống kê để mô tả
thực trạng hiện nay. Sử dụng hệ thống các chỉ tiêu thống kê để phân tích biến động
và xu hướng biến động tình hình phát triển của các đối tượng điều tra. Thông qua
các số liệu thống kê có thể phản ánh thực trạng, tình hình thực tế xây dựng hệ thống
GTNT trên địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê so sánh: Phương pháp này được sử dụng trong việc
tập hợp xử lý số liệu, tài liệu, dùng để so sánh hiện tượng này với hiện tượng khác
trong cùng một thời điểm hoặc cùng một hiện tượng ở các thời điểm khác nhau. Sử
dụng phương pháp này thông qua việc so sánh các chỉ tiêu thống kê phản ánh và
phân tích tình hình thực trạng và thực tế của vấn đề. So sánh một số công trình
GTNT có sự tham gia của người dân và không có sự tham gia của người dân.
1.5 Bố cục luận văn
Luận văn gồm 5 chương: Chương 1 giới thiệu tổng quan về bối cảnh nghiên
cứu. Chương 2 trình bày lý thuyết và thực tiễn về sự tham gia người dân trong xây
dựng đường GTNT để làm cơ sở cho các phân tích. Chương 3 trình bày về phương
pháp nghiên cứu đề tài. Chương 4 tóm tắt một số kết quả trong xây dựng đường
GTNT của huyện Tân Thành, phân tích tình hình tham gia và vai trò của người dân.
Cuối cùng, Chương 5 đưa ra kết luận và đề xuất các kiến nghị giúp cải thiện sự
tham gia của cộng đồng trong xây dựng đường GTNT.
5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý thuyết về sự tham gia của người dân trong xây dựng các công
trình GTNT
2.1.1 Khái niệm về sự tham gia
Có nhiều định nghĩa về sự tham gia, tùy thuộc vào lĩnh vực và vào gốc độ
nhìn nhận vấn đề. Sự tham gia là một quá trình mà trong đó các cá nhân tham gia
vào việc ra quyết định trong tổ chức, chương trình và môi trường có ảnh hưởng đến
họ (Florin, Paul, 1990).
Theo Peter Oakley (1991), sự tham gia là một quá trình mà người dân có thể
tạo khả năng nhạy cảm, làm tăng khả năng tiếp thu và năng lực của họ nhằm đáp
ứng các nhu cầu phát triển của địa phương. Mà quá trình này hướng tới sự nâng cao
năng lực tự kiểm soát các nguồn lực và xây dựng tổ chức trong những hoàn cảnh
nhất định. Sự tham gia bao gồm việc thực hiện, ra quyết định, thỏa thuận lợi ích và
đánh giá các hoạt động phát triển của người dân.
Trong một định nghĩa khác của Trần Thị Thanh Hà (2009), sự tham gia là sự
thỏa thuận lâu dài, chủ động và có vai trò tích cực của cộng đồng vào quá trình phát
triển, từ việc nhìn nhận vấn đề cho đến việc xây dựng kế hoạch, giám sát, đánh giá
các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống trong cộng đồng và bảo đảm sự
công đến lợi ích của sự phát triển.
Nhìn chung, theo quan điểm của tác giả: Sự tham gia là sự đóng góp bằng
hoạt động của mình vào một chương trình hay tổ chức nào đó. Là một quá trình thể
hiện ở đó có sự bàn bạc cởi mở, bình đẳng giữa cơ quan thực hiện dự án, cán bộ
quản lý với người dân địa phương. Trong đó ý kiến và kiến thức của người dân phải
được khám phá và tôn trọng. Người dân là yếu tố quan trọng trong việc bàn bạc
này. Khi đưa ra kết luận cuối cùng để triển khai dự án hoặc kế hoạch phát triển phải
được người dân thống nhất và đồng ý.
2.1.2 Khái niệm phát triển nông thôn
Ngân hàng Thế giới (1994) định nghĩa: “Phát triển nông thôn là một chiến
6
lược nhằm nâng cao các điều kiện kinh tế - xã hội của bộ phận dân cư, người nông
dân sống ở khu vực nông thôn. Nó giúp cộng đồng dân cư sống ở các vùng nông
thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”.
Phát triển nông thôn là một quá trình xây dựng nền văn hóa nông thôn theo
hướng hiện đại, nhưng vẫn bảo tồn những giá trị truyền thống thông qua việc ứng
dụng khoa học và công nghệ tiên tiến. Đồng thời đây là cũng một kênh thu hút mọi
người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu nâng cao chất
lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư ở nông thôn.
Ở Việt Nam, thì phát triển nông thôn được hiểu là một quá trình phát triển
bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc
sống của người dân sống trong khu vực nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của NN
và các tổ chức khác.
2.1.3 Khái niệm về đường GTNT
Theo Bộ Giao thông vận tải (2011), đường GTNT bao gồm các tuyến nối
tiếp từ hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ đến tận các làng mạc, thôn xóm, ruộng đồng, trang
trại, các cơ sở sản xuất, chăn nuôi… phục vụ sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp và
phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của các địa phương. Đường GTNT chủ yếu là
đường bộ, cầu cống phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn.
Đường GTNT là các tuyến đường chạy trong khu vực nông thôn. Được định
nghĩa là loại đường có lưu lượng xe ít, các đường nhánh, các đường phục vụ chủ
yếu cho khu vực nông nghiệp và nối với hệ thống đường chính, các trung tâm hành
chính hay các thôn xóm, các cụm dân cư dọc trên tuyến hoặc nối với mạng lưới giao
thông huyết mạch.
Có thể nói đường GTNT gắn liền với mọi hệ thống kinh tế, xã hội, là yếu tố
quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Mạng lưới đường GTNT gồm
đường huyện, đường xã và đường thôn xóm.
Các công trình giao thông ở mức độ thấp như: Các tuyến đường đất, đường
mòn và các cầu cống không cho phép xe cơ giới đi lại mà chỉ cho phép người đi bộ,
7
xe đạp, xe thồ, xe súc vật kéo, xe máy và đôi khi cho xe lớn hơn, có tốc độ thấp đi
lại, giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hoá đi lại của người dân.
2.2 Mức độ tham gia người dân trong việc xây dựng các công trình GTNT
Tùy thuộc vào trình độ nhận thức, văn hoá, điều kiện địa lý của từng vùng
miền khác nhau. Thì sự tham gia của người dân nó được thể hiện ở các mức độ
tham gia của người dân trên nhiều lĩnh vực vào sự phát triển thôn, xã ở các cấp độ
khác nhau. Theo Sherry Arnstein (1969), quá trình tham gia của cộng đồng như là
một chiếc thang với tám bước: (1) Sự vận động; (2) Liệu pháp – giai đoạn chưa thể
hiện sự tham gia, chỉ có mục đích đào tạo người tham gia; (3) Thông tin - đây là
bước quan trọng đầu tiên nhằm thúc đẩy sự tham gia nhưng thường thông tin chỉ
mang tính một chiều mà không có phản hồi; (4) Tham vấn - khảo sát thái độ, tổ
chức các cuộc họp khu dân cư và tham khảo ý kiến cộng đồng; (5) Động viên –
khen thưởng và bầu những thành viên ưu tú vào tổ chức phát triển cộng đồng; (6)
Hợp tác – người dân và nhà cầm quyền cùng phối hợp và cả hai đều phải có trách
nhiệm về việc lên kế hoạch và ra quyết định; (7) Ủy quyền; (8) Các công dân được
nắm giữ đa số các vị trí trong ủy ban và có quyền quyết định.
(Dower, 1996) thì lại mô tả sự tham gia là một quá trình vận động, nó bao
gồm các mức độ tiếp cận khác nhau của cộng đồng. Ở mức độ càng cao, thì vai trò
và trách nhiệm của cộng đồng về sự tham gia càng được đòi hỏi nhiều hơn. Sự tham
gia được chia thành 5 cấp độ như sau:
- Thông tin: Đây là bước quan trọng đầu tiên nhằm thúc đẩy sự tham gia của
người dân, nhưng thông tin chỉ mang tính một chiều mà chưa có sự phản hồi từ
những đối tượng liên quan.
- Tư vấn: Khảo sát thái độ của người dân đối với dự án, công trình thông qua
các cuộc họp dân cư và tham khảo ý kiến của người dân. Ở mức độ này, thông tin
được cung cấp cho các bên, người tổ chức tham vấn sẽ lắng nghe những khó khăn
và nhu cầu của cộng đồng. Tuy nhiên, quá trình tham vấn cũng chỉ có tính chất
tham khảo, các nhà tài trợ tự đưa ra quyết định và giải pháp. Người dân không được
tham gia và các quá trình đề ra các quyết định.
8
- Tham gia: Người dân tham gia bằng việc đóng góp các tài nguyên sẵn có để
đổi lấy lương thực, tiền bạc,....hoặc hợp đồng cung cấp lao động, đất đai. Người dân
cũng có thể hình thành nhóm nhỏ để thực hiện các chức năng liên quan đến dự án.
Đối với mức độ này, người bên ngoài cũng sẽ quyết định các vấn đề. Sự tham gia
chỉ xuất hiện sau khi đã có quyết định.
- Hợp tác: Quyền lực được phân phối cho cả người dân và nhà cầm quyền, cả
hai đều phải có trách nhiệm trong việc lập kế hoạch và ra quyết định. Người dân
tham gia bằng cách cùng phân tích vấn đề và dẫn đến kế hoạch hành động. Các bên
có liên quan cùng đưa ra giải pháp và tổng hợp các ý kiến để đưa ra quyết định cuối
cùng.
- Trao quyền: Người dân nắm giữ đa số quyền quyết định. Người dân tự
mình xác định các vấn đề, tự tìm tòi và sáng tạo các giải pháp để giải quyết vấn đề
đó. Người bên ngoài chỉ có vai trò xúc tác và hỗ trợ tăng năng lực cho người dân
tham gia.
Hình 2.1 Mức độ tham gia của người dân trong xây dựng đường GTNT
Thông
tin
Tham
gia
Trao
quyền
Tư vấn
Hợp tác
Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên các mức độ tham gia của Dower (1996)
2.3 Chính sách phát triển đường GTNT trong Chương trình xây dựng NTM
Chính sách “Nhà nước và nhân dân cùng làm” là một kênh huy động
nguồn lực đầu tư xây dựng đường GTNT khá hiệu quả trong những năm qua. Tuy
nhiên, tùy từng điều kiện kinh tế, xã hội ở từng địa phương thì mỗi địa phương có
những phương pháp thực hiện huy động nguồn lực đầu tư phát triển đường GTNT
khác nhau như hỗ trợ một tỷ lệ từ ngân sách tỉnh cho phát triển đường GTNT; huy
động đóng góp bằng tiền, ngày công lao động của nhân dân, doanh nghiệp, các tổ
9
chức ở địa phương, huy động đóng góp của các chủ phương tiện vận tải, kể cả xe
máy; cho phép huyện được sử dụng nguồn thu từ việc này được dùng để xây dựng
các công trình giao thông theo kế hoạch. Chính sách xây dựng đường GTNT có
tác động đến việc tích cực hay thụ động về sự tham gia của cộng đồng.
Thực tiễn đã ghi nhận sự đột phá đầu tiên về đường lối chính sách của Đảng
trong thời kỳ đổi mới, cũng được khởi đầu từ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Từ
đó, nhiều Nghị quyết của Đảng và các Quyết định, Kế hoạch, Chương trình hành
động của Chính phủ đã trực tiếp triển khai thực hiện các vấn đề này, cụ thể như:
Ngày 05/8/2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số
26/NQ-TW "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; Quyết định số 491/QĐ-TTg
ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn
mới để làm cơ sở đánh giá xây dựng NTM; Nghị định số 61/2010/NĐ-CP của
Chính phủ bổ sung một số chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông
nghiệp, nông thôn; Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông
thôn mới của Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số
41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013; Chương trình mục tiêu quốc gia về xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 dựa trên Quyết định 1600/QĐ-TTg và
thay thế Quyết định 800/QĐ-TTg. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng
nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị
và an ninh quốc phòng. Với mục tiêu toàn diện: Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội nông thôn từng bước hiện đại; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ
chức sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ;
gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xây dựng nông thôn ổn định,
giàu bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái; giữ vững an ninh - trật
tự; tăng cường hệ thống chính trị ổn định ở nông thôn; nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân.
Bằng Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, Bộ tiêu chí quốc gia này bao gồm
19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm cụ thể: Nhóm về quy hoạch, về hạ tầng kinh
10
tế - xã hội, về kinh tế và tổ chức sản xuất, về văn hóa - xã hội - môi trường và về hệ
thống chính trị. Theo đó, Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu
cụ thể theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc
Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng
sông Cửu Long phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi
vùng.
Để đảm bảo chất lượng, hiệu quả công trình đường GTNT, Bộ GTVT cũng
đã ban hành Quyết định số 4927/QĐ-BGTVT ngày 25/12/2014 về ban hành hướng
dẫn lựa chọn quy mô kỹ thuật đường GTNT phục vụ Chương trình mục tiêu Quốc
gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 và kèm theo đó là Thông tư số
32/2014/TT-BGTVT ngày 08/8/2014 hướng dẫn về quản lý, vận hành khai thác
đường GTNT.
Ngoài ra, theo Luật Giao thông đường bộ được Quốc hội ban hành ngày
13/11/2008, Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/2/2010 của Chính phủ Quy định
về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, Báo cáo chiến lược của
Bộ Giao thông Vận tải, việc quản lý hệ thống đường GTNT (đường huyện, đường
xã) được xác định do UBND cấp tỉnh quy định; thẩm quyền phân loại và điều chỉnh
hệ thống đường GTNT (đường huyện, đường xã) do UBND cấp huyện quyết định
sau khi được UBND cấp tỉnh đồng ý. Như vậy, theo quy định hiện hành, hệ thống
GTNT do UBND tỉnh quản lý đồng nghĩa với việc vai trò của người dân đã không
được đề cập tới. Tuy nhiên, trên thực tế, có 4 cấp tham gia quản lý hệ thống GTNT
là:
- Cấp TW: Bộ GTVT (Tổng Cục đường bộ Việt Nam, Cục Đường thủy nội
địa).
- Cấp tỉnh: UBND tỉnh (Sở GTVT).
- Cấp Huyện: UBND Huyện (Phòng Kinh tế và Hạ tầng).
- Cấp xã: UBND xã.
* Cấp Trung Ương: Bộ GTVT có trách nhiệm quản lý nhà nước hệ thống
GTNT trong phạm vi cả nước, bao gồm xây dựng chiến lược, hoạch định chính
11
sách, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật, các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn kỹ
thuật quản lý, xây dựng và bảo trì hệ thống GTNT. Chịu trách nhiệm tổ chức quản
lý xây dựng, bảo trì đường quốc lộ, cao tốc đi qua đô thị, các đường tham gia vận
tải quốc tế.
* Cấp tỉnh: Sở GTVT là cơ quan trực tiếp được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao
quản lý, bảo trì và khai thác hệ thống đường GTNT trên địa bàn, xây dựng quy
hoạch phát triển GTNT theo chiến lược phát triển GTNT chung. Đồng thời thường
xuyên cung cấp các vấn đề liên quan đến chuyên môn của ngành cho Uỷ ban nhân
dân tỉnh và chịu hoàn toàn về mặt kỹ thuật đồng thời hỗ trợ UBND cấp huyện về
các vấn đề liên quan đến ngành giao thông.
* Cấp huyện: UBND huyện là cơ quan quản lý hệ thống đường huyện, đường
xã. Hiện tại, phòng Kinh tế và Hạ tầng được giao giúp UBND hyện quản lý đường
GTNT trên địa bàn huyện. UBND huyện có trách nhiệm phổ biến tới từng xã trong
huyện về tổ chức thực hiện biện pháp bảo vệ hành lang an toàn đường bộ và những
quy định của Pháp luật về đường GTNT.
* Cấp xã: UBND xã chịu trách nhiệm quản lý, bảo trì và khai thác hệ thống
đường xã. Đồng thời tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhân dân trong xã các quy
định về phạm vi đất dành cho đường bộ và bảo vệ kế cấu hạ tầng giao thông đường
bộ song song với việc sử dụng đất trong và ngoài hành lang an toàn đường bộ theo
quy định của Pháp luật.
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Sự tham gia người dân trong việc xây dựng công trình giao thông nông thôn trên địa bàn huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
luan_van_su_tham_gia_nguoi_dan_trong_viec_xay_dung_cong_trin.pdf

