Luận văn Tội hủy hoại rừng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN QUỐC VIỆT  
TỘI HỦY HOẠI RỪNG THEO PHÁP LUẬT  
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ  
HÀ NỘI, năm 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN QUỐC VIỆT  
TỘI HỦY HOẠI RỪNG THEO PHÁP LUẬT  
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH  
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự  
Mã số: 8380104  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
PGS.TS. CAO THỊ OANH  
HÀ NỘI, năm 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan Luận văn “Tội hủy hoại rừng theo pháp luật hình sự Việt  
Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định” là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số  
liệu, ví dụ và trích dẫn nêu trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.  
Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công  
trình nào khác.  
TÁC GIẢ LUẬN VĂN  
TRẦN QUỐC VIỆT  
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1  
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT  
NAM VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG..........................................................................7  
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại rừng...............................7  
1.2. Phân biệt tội hủy hoại rừng với một số tội phạm khác..................................23  
1.3. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội hủy hoại rừng...................28  
Tiểu kết Chương 1...................................................................................................34  
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT  
HÌNH SỰ VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH......................35  
2.1. Khái quát thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng tại  
tỉnh Bình Định ......................................................................................................35  
2.2. Thực tiễn định tội danh tội hủy hoại rừng tại tỉnh Bình Định.......................41  
2.3. Thực tiễn quyết định hình phạt tội hủy hoại rừng tại tỉnh Bình Định ...........53  
Tiểu kết Chương 2...................................................................................................61  
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT  
HÌNH SỰ VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG................................................................62  
3.1. Yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật hình sự của tội hủy hoại  
rừng.......................................................................................................................62  
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng  
trong thực tiễn.......................................................................................................65  
Tiểu kết Chương 3...................................................................................................76  
KẾT LUẬN..............................................................................................................77  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
: Bộ Công an  
BCA  
BLHS  
: Bộ luật Hình sự  
BLHS năm 2015  
: Bộ luật Hình sự năm 2015  
(được sửa đổi, bổ sung năm 2017)  
: Bộ luật Hình sự năm 1999  
BLHS năm 1999  
(được sửa đổi, bổ sung năm 2009)  
: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
Bộ NN&PTNT  
BTP  
CA  
CP  
: Bộ Tư pháp  
: Công an  
: Chính phủ  
Luật BVMT năm 2014 : Luật Bảo vệ môi trường năm 2014  
Luật BV&PTR năm 2004 : Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004  
NĐ-CP  
: Nghị định Chính phủ  
: Tòa án nhân dân  
TAND  
TANDTC  
TNHS  
: Tòa án nhân dân tối cao  
: Trách nhiệm hình sự  
VKSND  
VKSNDTC  
XPHC  
: Viện kiểm sát nhân dân  
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao  
: Xử phạt hành chính  
XPVPHC  
: Xử phạt vi phạm hành chính  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU  
Bảng 2.1. Diện tích rừng tỉnh Bình Định tính đến ngày 31/12/2013 (Đơn vị  
tính: ha).  
Bảng 2.2. Diện tích rừng tỉnh Bình Định tính đến ngày 31/12/2014 (Đơn vị  
tính: ha).  
Bảng 2.3. Diện tích rừng tỉnh Bình Định tính đến ngày 31/12/2015 (Đơn vị  
tính: ha).  
Bảng 2.4. Diện tích rừng tỉnh Bình Định tính đến ngày 31/12/2016 (Đơn vị  
tính: ha).  
Bảng 2.5. Diện tích rừng tỉnh Bình Định tính đến ngày 31/12/2017 (Đơn vị  
tính: ha).  
Bảng 2.6. Số liệu diện tích rừng bị hủy hoại từ năm 2013 đến năm 2017 của  
tỉnh Bình Định.  
Bảng 2.7. Số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng từ năm 2013 đến năm  
2017 của tỉnh Bình Định.  
Bảng 2.8. Số vụ phá rừng trái phép từ năm 2013 đến năm 2017 của tỉnh Bình  
Định.  
Bảng 2.9. Số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng bị xử lý hành chính, xử lý  
hình sự từ năm 2013 đến năm 2017 của tỉnh Bình Định.  
Bảng 2.10. Tình hình điều tra, truy tố, xét xử tội hủy hoại rừng từ năm 2013  
đến năm 2017 của tỉnh Bình Định.  
Bảng 2.11. Tội hủy hoại rừng được xét xử theo các khoản của Điều 189 Bộ  
luật Hình sự năm 1999 từ năm 2013 đến năm 2017 của tỉnh Bình Định.  
Bảng 2.12. Số vụ hủy hoại rừng xét xử bị kháng cáo, kháng nghị từ năm  
2013 đến năm 2017 của tỉnh Bình Định.  
Bảng 3.1. Đề nghị mức định lượng mới của rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Việt Nam là nước có diện tích rừng và đất rừng khá lớn, chiếm khoảng 41%  
diện tích lãnh thổ. Rừng là nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế lớn nên đã trở thành  
đối tượng, mục tiêu khai thác, hủy hoại của nhiều cá nhân, tổ chức. Do vậy, khai  
thác rừng một cách bền vững cũng như bảo vệ rừng ở Việt Nam trở thành một vấn  
đề cấp thiết hơn bao giờ hết. Bảo vệ rừng và tài nguyên rừng là một yêu cầu không  
thể trì hoãn đối với không chỉ riêng Việt Nam mà còn với tất cả các quốc gia trên  
thế giới nhằm bảo vệ môi trường sống đang bị hủy hoại ở mức độ báo động với  
nguyên nhân chủ yếu là do chính hoạt động của con người gây ra.  
Rừng có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống con người, do đó công  
tác bảo vệ rừng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm của  
các cơ quan bảo vệ pháp luật có vai trò rất quan trọng. Nhất là trong giai đoạn hiện  
nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đời sống kinh tế - xã hội có những thay  
đổi đáng kể, tình hình tội phạm môi trường nói chung và tội phạm hủy hoại rừng  
nói riêng đang diễn ra hết sức phức tạp với tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng  
cao, gây mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng đến con người và môi trường trên nhiều  
phương diện. Trải qua nhiều lần thay đổi, hệ thống pháp luật hình sự nước ta ngày  
càng tiến bộ, đã góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm  
hủy hoại rừng nói riêng. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật đối với tội hủy hoại rừng  
cũng còn nhiều hạn chế, bất cập: Các văn bản pháp luật quy định chưa đồng bộ,  
thống nhất; chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng;  
biện pháp áp dụng pháp luật chưa triệt để, nghiêm minh làm ảnh hưởng đến kết quả  
thi hành pháp luật đối với tội này.  
Trong thời gian qua, số vụ việc vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển  
rừng trên phạm vi cả nước ngày càng tăng, chỉ tính từ năm 2013 đến năm 2017, cả  
nước đã có hơn 35.000 ha rừng bị chặt phá, hủy hoại trái phép, trung bình mỗi năm  
từ năm 2013 đến 2017 có hơn 32.500 vụ vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển  
rừng. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân và một trong những nguyên nhân quan trọng  
1
là từ chính hoạt động của con người gây ra, từ các quy định pháp luật về quản lý,  
bảo vệ và phát triển rừng còn nhiều hạn chế, bất cập.  
Về thực tiễn tại tỉnh Bình Định, diện tích rừng bị hủy hoại từ năm 2013 đến  
năm 2017 hơn 1.400 ha, trong đó, số vụ vi phạm pháp luật về hủy hoại hoại rừng bị  
xử lý hình sự trung bình 06 vụ/mỗi năm từ năm 2013 đến năm 2017. Tại Bình Định  
vẫn còn tồn tại một số “điểm nóng” về hủy hoại rừng, tồn tại những khó khăn,  
vướng mắc trong áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật chuyên ngành, cần nghiên  
cứu kiến nghị phương hướng hoàn thiện pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tội  
phạm hủy hoại rừng, nên tác giả chọn đề tài: “Tội hủy hoại rừng theo pháp luật  
hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật  
Hình sự và Tố tụng hình sự.  
2. Tình hình nghiên cứu đề tài  
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước  
- Về sách bình luận khoa học Luật Hình sự như:  
+ Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999, Phần các tội phạm của  
nhóm tác giả Phùng Thế Vắc, Trần Văn Luyện, Phạm Thanh Bình, Nguyễn Đức  
Mai, Nguyễn Sĩ Đại, Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, năm 2001.  
Nội dung của sách tập trung phân tích các tội cụ thể trong Bộ luật Hình sự  
năm 1999 theo từng Chương tương ứng. Trong đó, phân tích các dấu hiệu pháp lý của  
tội hủy hoại rừng như khách thể, chủ thể, mặt chủ quan, mặt khách quan giúp cho tôi  
hiểu một cách khái quát tội này để làm nền tảng cho việc nghiên cứu Luận văn.  
+ Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm, Tập VIII của tác  
giả Đinh Văn Quế, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005.  
Trong nội dung bình luận, tác giả đã phân tích các dấu hiệu pháp lý của các  
tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính và các tội phạm về môi trường, trong đó có  
tội hủy hoại rừng trong Bộ luật Hình sự năm 1999. Tác giả cung cấp cho tôi những  
nội dung cơ bản về các dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại rừng theo quan điểm cá  
nhân của tác giả, từ đó giúp tôi có cái nhìn cơ bản về tội hủy hoại rừng.  
- Về Luận văn Thạc sĩ gồm:  
2
+ Luận văn Thạc sĩ Luật học “Bảo vệ tài nguyên rừng bằng pháp luật hình  
sự ở Việt Nam” của tác giả Bạch Xuân Hòa, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm  
2014.  
+ Luận văn Thạc sĩ Luật học “Tội hủy hoại rừng trong Luật Hình sự Việt  
Nam” của tác giả Bùi Thế Phương, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh,  
năm 2015.  
+ Luận văn Thạc sĩ Luật học “Tội hủy hoại rừng theo Luật Hình sự Việt Nam  
từ thực tiễn huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam” của tác giả Đào Bội Nhân, Học viện  
Khoa học xã hội, năm 2017.  
Trong nội dung của các Luận văn, các tác giả đi vào phân tích các vấn đề lý  
luận của các quy định pháp luật hình sự về bảo vệ rừng như lịch sử hình thành và  
phát triển của các tội phạm xâm hại đến tài nguyên rừng; nghiên cứu quy định và  
thực trạng áp dụng các quy định về bảo vệ tài nguyên rừng, trong đó có tội hủy hoại  
rừng. Từ đó, các tác giả đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện các  
quy định của Bộ luật Hình sự trong bảo vệ tài nguyên rừng, trong đó có một số kiến  
nghị sửa đổi, bổ sung cho tội hủy hoại rừng. Các Luận văn đã cung cấp cho tôi một  
số kiến thức làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu đề tài về tội hủy hoại rừng.  
2.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài  
- Bài viết “Criminal justice response to wildlife and forest crime in  
Cambodia” của tổ chức United Nations Office on Drugs and Crime (UNODC),  
Cambodia, năm 2015.  
Nội dung bài viết giúp cho tôi có cái nhìn tổng quan về pháp luật hình sự của  
Campuchia thông qua việc bài viết phân tích, đánh giá diễn biến tình hình tội phạm  
xâm hại môi trường, hủy hoại rừng và động vật hoang dã, cũng như những vấn đề  
còn bất cập, khó khăn trong quy định và thực tiễn áp dụng các quy định về tội phạm  
xâm hại môi trường, hủy hoại rừng và động vật hoang dã tại Campuchia.  
- Bài viết “Environmental Criminal Law in China: A Critical Analysis” của  
tác giả Michael G. Faure, Hao Zhang, China, năm 2011.  
3
Tác giả đã cung cấp một số vấn đề lý luận trong pháp luật hình sự Trung  
Quốc về tội phạm môi trường, tội phá hoại tài nguyên rừng như về chủ thể, hành vi  
khách quan, hậu quả... và một số hạn chế trong quá trình áp dụng quy định về tội  
phạm môi trường, đây là cơ sở giúp tôi tìm hiểu rõ hơn quy định của pháp luật hình  
sự Trung Quốc về tội hủy hoại rừng mà Luận văn đang nghiên cứu.  
Tóm lại, việc xem xét tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về tội hủy  
hoại rừng sẽ giúp cho đề tài Luận văn mà tác giả nghiên cứu được toàn diện, đầy đủ  
và đưa ra các kiến nghị phù hợp hơn, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục đích nghiên cứu  
- Do tính chất quan trọng của rừng và thực trạng công tác phòng, chống tội  
phạm này trong thực tiễn chưa hiệu quả, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, ảnh  
hưởng đến khí hậu, kinh tế và đời sống xã hội nên việc nghiên cứu nhằm nâng cao  
hiệu quả công tác trên.  
- Đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi trên cơ sở tìm hiểu,  
phân tích các khía cạnh pháp lý, dấu hiệu của tội hủy hoại rừng.  
- Đánh giá sự phù hợp giữa quy định pháp luật trong mối tương quan với sự  
phát triển kinh tế - xã hội, thực tiễn thi hành quy định này trên địa bàn tỉnh Bình  
Định để đưa ra những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy định của Bộ luật  
Hình sự về tội hủy hoại rừng.  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ  
chủ yếu sau:  
- Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận chung về tội hủy hoại rừng.  
- Phân tích thực tiễn cũng như những vướng mắc trong quy định và áp dụng  
các quy định của pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.  
- Nghiên cứu đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định  
của pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.  
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng các  
quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội hủy hoại rừng.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu tội hủy hoại rừng trên phạm vi tỉnh  
Bình Định.  
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu các số liệu tội hủy hoại rừng từ năm  
2013 đến năm 2017.  
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
5.1. Cơ sở lý luận  
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài là cơ sở lý luận của phương pháp duy  
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng và  
Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về đấu tranh phòng, chống tội phạm.  
5.2. Phương pháp nghiên cứu  
Để phục vụ cho việc nghiên cứu, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên  
cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống  
kê, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp nghiên cứu điển hình.  
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để tiến hành phân tích và  
tổng hợp một cách khái quát các nội dung cần nghiên cứu trong Luận văn. Qua đó,  
phân tích thành từng vấn đề để tìm hiểu cụ thể quy định về tội hủy hoại rừng. Đồng  
thời, Luận văn tiến hành tổng hợp từng vấn đề lý luận đã phân tích, nhằm xây dựng  
một số lý luận mới đầy đủ và cụ thể về tội hủy hoại rừng.  
- Phương pháp thống kê được sử dụng để thu thập và tổng hợp các số liệu về  
thực trạng áp dụng của tội hủy hoại rừng nhằm đánh giá tình hình tội phạm hủy hoại  
rừng.  
- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ những điểm giống nhau và  
khác nhau trong quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về tội hủy hoại rừng với  
các giai đoạn trước đó, với các tội phạm khác, để từ đó rút ra được những ưu điểm  
5
và hạn chế trong quy định về tội hủy hoại rừng.  
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để tìm hiểu tiến trình hình thành và phát  
triển qua từng thời kỳ của quy định pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.  
- Phương pháp nghiên cứu điển hình được sử dụng để đưa ra một số vụ án  
điển hình, nhằm phân tích làm rõ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình  
sự về tội hủy hoại rừng.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn  
6.1. Ý nghĩa lý luận  
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về  
tội hủy hoại rừng, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp  
luật hình sự về tội hủy hoại rừng.  
6.2. Ý nghĩa thực tiễn  
- Các kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có giá trị  
cho các cơ quan Nhà nước thực hiện việc hoàn thiện hơn quy định về tội hủy hoại  
rừng, góp phần giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định của  
Bộ luật Hình sự về tội hủy hoại rừng tại tỉnh Bình Định.  
- Những kết quả nghiên cứu của Luận văn đạt được còn có thể làm tài liệu  
tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo của chính học viên và cho những  
người có quan tâm trong quá trình công tác, học tập và nghiên cứu.  
7. Kết cấu của Luận văn  
Ngoài phần mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, mở  
đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, nội dung Luận văn được cấu trúc thành  
ba chương:  
Chương 1. Một số vấn đề chung về tội hủy hoại rừng theo quy định của pháp  
luật hình sự Việt Nam.  
Chương 2. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội hủy  
hoại rừng tại tỉnh Bình Định.  
Chương 3. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội hủy  
hoại rừng tại tỉnh Bình Định.  
6
Chương 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT  
HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG  
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại rừng  
1.1.1. Khái niệm tội hủy hoại rừng  
Môi trường thế giới nói chung và môi trường nước ta nói riêng đang bị suy  
thoái và ô nhiễm nặng nề. Trong những năm gần đây, chất lượng môi trường ngày  
càng trở nên xấu hơn, nguyên nhân do biến đổi khí hậu, do thiên tai xảy ra gây thiệt  
hại ngày càng lớn cùng với hành vi hủy hoại môi trường của con người. Do đó, bảo  
vệ môi trường, phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi xâm hại đến môi trường trở  
thành vấn đề cấp bách. Trong đó, tội phạm về môi trường là hành vi nguy hiểm cho  
xã hội, do những người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, xâm hại đến sự  
bền vững và ổn định của môi trường; xâm hại đến các quan hệ xã hội phát sinh  
trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường, gây ra những hậu quả xấu đối với môi  
trường sinh thái.  
Hủy hoại rừng là một trong các tội phạm về môi trường, theo khoản 1 và  
khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (sau đây gọi là Luật BVMT năm  
2014) quy định: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo  
có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Thành phần  
môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm  
thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác”. Do đó, để hiểu được khái  
niệm thế nào là tội hủy hoại rừng thì cần hiểu khái niệm rừng và hủy hoại rừng:  
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 (sau đây gọi  
là Luật BV&PTR năm 2004) quy định: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể  
thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường  
khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có  
độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên  
đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng”.  
7
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học [99, tr. 416] thì “hủy hoại”  
có nghĩa là làm cho hư hỏng đi, phá đi, cho tan nát. Theo quy định của pháp luật  
nước ta thì rừng là một loại tài sản. Do đó, để hiểu được hành vi hủy hoại rừng thì  
cần hiểu thế nào là hành vi hủy hoại tài sản. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật  
học của trường Đại học Luật Hà Nội, định nghĩa “hủy hoại tài sản” là cố ý làm cho  
tài sản mất giá trị sử dụng ở mức độ không còn hoặc khó có khả năng khôi phục lại  
được. Hủy hoại tài sản có thể qua hành động (như đập phá, đốt...) hoặc không qua  
hành động (như cố ý không tắt máy, ngắt điện khi có sự cố dẫn đến máy bị hư hỏng  
hoàn toàn...). Như vậy, “hủy hoại rừng” là hành vi cố ý làm cho nguồn tài nguyên  
rừng, cây rừng bị hủy hoại, bị chết hàng loạt. Hành vi hủy hoại rừng là những hành  
vi cố ý đốt, phá rừng trái phép hoặc có những hành vi khác làm cho rừng bị tan nát,  
bị hư hỏng, bị diệt phá và cây rừng bị chết hàng loạt [23, tr. 7], làm cho diện tích  
rừng và giá trị lâm sản bị thiệt hại.  
Theo định nghĩa nội dung về tội phạm, thì “tội phạm là hành vi nguy hiểm  
cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt”. [43, tr. 60]. Dựa  
trên định nghĩa tội phạm, có thể đưa ra khái niệm tội hủy hoại rừng như sau: “Tội  
hủy hoại rừng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật  
Hình sự, được thực hiện một cách cố ý như đốt, phá rừng trái phép hoặc hành vi  
khác, làm cho rừng mất hoàn toàn giá trị hoặc làm cho rừng giảm giá trị đáng kể,  
xâm phạm các quan hệ xã hội về bảo vệ rừng của Nhà nước, gây thiệt hại cho môi  
trường sinh thái”. [24, tr. 12]. Từ định nghĩa trên cho thấy tội hủy hoại rừng có các  
dấu hiệu của tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự như sau:  
- Thứ nhất, về tính nguy hiểm cho xã hội của tội hủy hoại rừng được hiểu là  
những hành vi cố ý đốt, phá rừng trái phép hoặc có những hành vi khác làm cho  
rừng bị hủy hoại, bị hư hỏng và cây rừng bị chết hàng loạt, từ đó dẫn đến hậu quả  
nghiêm trọng về mặt môi trường sinh thái, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường  
của rừng nói riêng, môi trường nói chung, đây là những quan hệ xã hội được Luật  
Hình sự bảo vệ. Qua đó, có thể thấy hành vi hủy hoại rừng là hành vi nguy hiểm  
cho xã hội. Tuy nhiên, không phải hành vi hủy hoại rừng nào cũng được xem là tội  
8
phạm, mà hành vi phải nghiêm trọng đến mức chịu trách nhiệm hình sự (sau đây gọi  
là TNHS) (hay còn gọi là hành vi gây nguy hiểm đáng kể [26, tr. 12] cho xã hội thì  
mới phải chịu TNHS) và tính nguy hiểm cho xã hội là thuộc tính mang tính khách  
quan của tội hủy hoại rừng. [43, tr. 62-64].  
- Thứ hai, về tính có lỗi của tội hủy hoại rừng, đó là thái độ tâm lý đối với  
hành vi phạm tội hủy hoại rừng do người có năng lực TNHS thực hiện và đối với  
hậu quả của hành vi đó, được thực hiện dưới hình thức cố ý, có thể là cố ý trực tiếp  
hoặc cố ý gián tiếp [43, tr. 65-66], trái với các chuẩn mực của xã hội, trái với các  
quy định về bảo vệ và phát triển rừng mà Nhà nước đã đặt ra.  
- Thứ ba, về tính trái pháp luật hình sự của tội này được hiểu là tội hủy hoại  
rừng phải được quy định trong Bộ luật Hình sự (sau đây gọi là BLHS), đây là biểu  
hiện của nguyên tắc pháp chế thể hiện tại Điều 2 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung  
năm 2017 (sau đây gọi là BLHS năm 2015) quy định: “Chỉ người nào phạm một tội  
đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc chỉ pháp nhân  
thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới  
phải chịu trách nhiệm hình sự”, tính trái pháp luật hình sự chính là hình thức pháp  
lý của tính nguy hiểm cho xã hội của tội hủy hoại rừng, giữa hai đặc tính này có mối  
quan hệ chặt chẽ, gắn liền với nhau, thể hiện thông qua việc đe dọa áp dụng chế tài  
hình sự đối với người thực hiện hành vi hủy hoại rừng với mức nguy hiểm đáng kể.  
Theo đó, hành vi hủy hoại rừng tuy nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa được BLHS  
quy định thì hành vi này không phải là tội phạm, đồng thời, nếu hành vi hủy hoại  
rừng được quy định trong BLHS nhưng không phải là hành vi nguy hiểm đáng kể  
thì cũng không phải là tội phạm. [43, tr. 66-68].  
- Thứ tư, về tính phải chịu hình phạt của tội này được hiểu là hành vi hủy  
hoại rừng gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội khi đủ các yếu tố cấu thành tội phạm  
được BLHS quy định là tội phạm, thì có khả năng bị áp dụng hình phạt, thể hiện sự  
đe dọa áp dụng việc trừng phạt bằng các chế tài hình sự đối với người thực hiện  
hành vi phạm tội hủy hoại rừng. Hình phạt đối với hành vi hủy hoại rừng chính là  
hình thức thể hiện bản chất nguy hiểm của tội hủy hoại rừng, thể hiện tính cưỡng  
9
chế Nhà nước nghiêm khắc nhất nhằm răn đe và phòng ngừa đối với loại hành vi  
nguy hiểm đáng kể này [43, tr. 68-70]. Giữa tính phải chịu hình phạt với các đặc  
tính ở trên có mối quan hệ với nhau, qua đó tạo cơ sở để phân biệt tội hủy hoại rừng  
với hành vi hủy hoại rừng vi phạm pháp luật khác không bị xử lý bằng chế tài  
nghiêm khắc của pháp luật hình sự.  
Từ khái niệm tội hủy hoại rừng như đã phân tích ở trên cho thấy tội hủy hoại  
rừng mang đầy đủ các dấu hiệu chung của tội phạm được quy định trong BLHS  
năm 2015. Đây là tiền đề, nội dung quan trọng để Luận văn phân tích các dấu hiệu  
pháp lý của tội hủy hoại rừng theo quy định tại Điều 243 BLHS năm 2015.  
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại rừng  
Theo quy định tại Điều 243 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi  
là BLHS năm 2015) thì tội hủy hoại rừng có các dấu hiệu pháp lý như sau:  
1.1.2.1. Các quy định về cấu thành tội phạm của tội hủy hoại rừng  
Điều 243 BLHS năm 2015 quy định tội hủy hoại rừng với 5 điều khoản gồm:  
Khoản 1 quy định các dấu hiệu định tội của tội hủy hoại rừng; khoản 2 và khoản 3  
quy định các dấu hiệu định khung hình phạt; khoản 4 quy định hình phạt bổ sung là  
tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; khoản  
5 quy định TNHS là pháp nhân thương mại, đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập  
pháp nước ta BLHS năm 2015 đã đưa chủ thể pháp nhân thương mại vào chịu  
TNHS đối với tội hủy hoại rừng.  
Để một hành vi vi phạm pháp luật và hành vi đó bị truy cứu TNHS, bị coi là  
tội phạm thì phải đủ 04 yếu tố cấu thành tội phạm là: Khách thể, chủ thể, mặt khách  
quan, mặt chủ quan; 04 yếu tố này có nội dung quy định khác nhau, sự khác nhau  
về nội dung quyết định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và được  
áp dụng ở một khung hình phạt nhất định tưng ứng của điều luật cho hành vi phạm  
tội đó. Tội hủy hoại rừng được quy định tại Điều 243 BLHS năm 2015 là một tội  
phạm cụ thể thuộc nhóm tội phạm về môi trường nên có đầy đủ các dấu hiệu định  
tội và các dấu hiệu định khung hình phạt.  
* Các dấu hiệu định tội  
10  
- Khách thể của tội hủy hoại rừng:  
Tội hủy hoại rừng xâm phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo  
vệ rừng, xâm phạm đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái. Đối tượng  
tác động trực tiếp là rừng tự nhiên hoặc rừng trồng trên đất lâm nghiệp (rừng phòng  
hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất).  
Khách thể của tội hủy hoại rừng là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự  
quy định, bảo vệ và bị các hành vi: Đốt rừng trái phép, phá rừng trái phép, hành vi  
khác hủy hoại rừng, xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ môi trường, xâm phạm  
đến chế độ bảo vệ và phát triển rừng của Nhà nước.  
Theo khoản 1 Điều 3 Luật BVMT năm 2014 quy định “Môi trường là hệ  
thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát  
triển của con người và sinh vật”. Theo Luật Hình sự Việt Nam, khách thể của tội  
phạm môi trường là những quan hệ xã hội về giữ gìn môi trường trong sạch, sử  
dụng hợp lý những tài nguyên và đảm bảo môi trường cho dân cư.  
Đối tượng tác động của tội phạm, thể hiện hành vi phạm tội tác động đến sẽ  
gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được Luật Hình sự  
bảo vệ [38, tr. 94]. Theo quy định tại Điều 243 BLHS năm 2015 thì đối tượng tác  
động trực tiếp của hành vi hủy hoại rừng bao gồm: Cây trồng chưa thành rừng, rừng  
khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng, rừng sản xuất, rừng phòng hộ,  
rừng đặc dụng, thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo  
vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA, IIA  
có mức định lượng về diện tích hoặc giá trị lâm sản bị thiệt hại theo quy định. Đây  
là những yếu tố tạo thành môi trường, được pháp luật hình sự bảo vệ, là đối tượng  
tác động của tội hủy hoại rừng.  
Tuy nhiên, cần phân biệt rừng là đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng  
với rừng là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu, đó là:  
Theo quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 3, khoản 4 Điều 6 Luật BV&PTR  
năm 2004; Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi được cơ quan Nhà nước có thẩm  
quyền có quyết định trao quyền sử dụng rừng cho chủ rừng thông qua hình thức  
11  
giao rừng; cho thuê rừng; công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản  
xuất là rừng trồng thì tổ chức, tập thể, hộ gia đình, cá nhân trở thành chủ rừng và có  
quyền sở hữu đối với diện tích rừng được giao với ba quyền chiếm hữu, sử dụng và  
định đoạt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 11 Luật BV&PTR năm  
2004, trên phần diện tích rừng đã được Nhà nước công nhận quyền sở hữu; nguồn  
vốn để chăm sóc, trồng trọt, bảo vệ và phát triển rừng không từ nguồn vốn ngân  
sách của Nhà nước, mà do chính tổ chức, tập thể, hộ gia đình, cá nhân bỏ vốn đầu tư  
và phát triển. Theo đó có thể hiểu, tuy cũng là rừng, nhưng rừng này thuộc sở hữu  
của cá nhân, tổ chức được Nhà nước giao chăm sóc, quản lý và họ đã bỏ vốn đầu tư  
phát triển hướng tới mục đích kinh tế. Cho nên, nếu có hành vi hủy hoại rừng mà  
không phải do chủ rừng thực hiện thì sẽ tác động đến quyền sở hữu tài sản của chủ  
rừng, thì lúc này rừng trở thành đối tượng tác động của tội phạm xâm phạm về sở  
hữu, hành vi phạm tội sẽ bị truy cứu TNHS theo các điều luật tương ứng quy định  
tại Chương XVI - Các tội xâm phạm sở hữu của BLHS năm 2015, cụ thể là tội hủy  
hoại tài sản được quy định tại Điều 178 BLHS năm 2015. [24, tr. 16].  
Còn đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng là rừng nói chung, do Nhà  
nước quản lý hoặc giao cho cơ quan, tổ chức quản lý như chính quyền địa phương,  
các lâm trường, cá nhân, hộ gia đình, tổ chức chăm sóc, bảo vệ, nguồn vốn đầu tư  
chăm sóc, trồng trọt và bảo vệ là từ nguồn ngân sách của Nhà nước hoặc do cá  
nhân, tổ chức, hộ gia đình bỏ ra đầu tư. Do đó, nếu chủ thể nào đó có hành vi hủy  
hoại rừng do Nhà nước đầu tư từ nguồn ngân sách, hoặc trong trường hợp chính chủ  
rừng có hành vi hủy hoại rừng đã được Nhà nước trao quyền sử dụng, quản lý và  
chủ rừng đã bỏ vốn đầu tư, phát triển rừng thì nguy cơ tác động xấu đến sự ổn định  
và tồn tại, phát triển bình thường của môi trường, đến sự quản lý của Nhà nước về  
rừng thì thuộc đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng quy định tại Điều 243  
BLHS năm 2015. [24, tr. 16].  
So với Điều 189 BLHS năm 1999 thì khách thể của tội hủy hoại rừng tại  
Điều 243 BLHS năm 2015 được quy định trực tiếp trong điều luật, quy định cụ thể,  
chi tiết hơn đối tượng tác động trực tiếp của tội hủy hoại rừng là cây trồng chưa  
12  
thành rừng, rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng, rừng sản xuất,  
rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm  
được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,  
hiếm Nhóm IA, IIA với mức định lượng cụ thể về diện tích hoặc giá trị lâm sản bị  
thiệt hại theo quy định của điều luật. Còn khách thể của tội hủy hoại rừng quy định  
tại Điều 189 BLHS năm 1999 không quy định rõ trong điều luật mà cần phải viện  
dẫn, hướng dẫn tại mục 3, phần IV Thông tư 19/2007/TTLT. Tuy nhiên, quy định  
tại Thông tư 19/2007/TTLT cũng chưa rõ ràng nên việc xác định khách thể của  
Điều 189 BLHS năm 1999 gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng.  
- Chủ thể của tội hủy hoại rừng:  
Theo quy định tại Điều 9, Điều 12 BLHS năm 2015 thì chủ thể của tội hủy  
hoại rừng quy định tại Điều 243 BLHS năm 2015 là bất kỳ người nào có năng lực  
TNHS (kể cả chủ rừng trong trường hợp họ vi phạm các quy định của pháp luật về  
bảo vệ rừng ngay trong khu vực do họ trồng hoặc được giao quản lý) hoặc pháp  
nhân thương mại đủ điều kiện chịu TNHS. Theo đó, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải  
chịu TNHS đối với mọi hành vi được quy định tại Điều 243 và chủ thể là pháp nhân  
thương mại phải chịu TNHS khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 75 BLHS  
năm 2015 là: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;  
Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; Hành vi  
phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân  
thương mại; Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS quy định tại khoản 2 và khoản 3  
Điều 27 của BLHS năm 2015.  
Đồng thời, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015, đối  
với tội hủy hoại rừng, nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc  
định tội danh. Điểm g khoản 1 quy định trường hợp cấu thành tội này đòi hỏi người  
phạm tội phải có dấu hiệu đặc điểm về nhân thân là “đã bị xử phạt vi phạm hành  
chính” hoặc “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Dấu  
hiệu “đã bị XPVPHC” được áp dụng độc lập, hay nói cách khác, người “đã bị  
XPVPHC” về hành vi hủy hoại rừng nếu tái phạm sau này, dù vi phạm chưa đủ mức  
13  
định lượng về diện tích hoặc giá trị lâm sản bị thiệt hại được quy định tại các điểm  
a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều 243 để cấu thành tội phạm vẫn phải chịu TNHS khi  
trước đó chủ thể “đã bị XPVPHC” hoặc “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án  
tích mà còn vi phạm” về hành vi hủy hoại rừng.  
Theo BLHS năm 1999 thì chủ thể của tội hủy hoại rừng quy định tại Điều  
189 là bất kỳ người nào có năng lực TNHS. Trong đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới  
16 tuổi chỉ chịu TNHS đối với hành vi phạm tội quy định tại khoản 2 và khoản 3  
Điều 189 BLHS; người 16 tuổi trở lên chịu TNHS đối với mọi hành vi được quy  
định tại Điều 189 BLHS. Đồng thời, nhân thân của người phạm tội chỉ có một dấu  
hiệu phản ánh đặc điểm xấu về nhân thân là “đã bị XPHC về hành vi này mà còn vi  
phạm”. Vì vậy, BLHS năm 1999 quy định chủ thể của tội hủy hoại rừng chỉ là cá  
nhân. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, nhiều pháp nhân, doanh nghiệp đã thực  
hiện nhiều hành vi đốt, phá rừng gây thiệt hại rất lớn nhưng do BLHS năm 1999  
chưa quy định vấn đề này nên việc xử lý trách nhiệm của các pháp nhân thương mại  
gặp nhiều khó khăn và thiếu hiệu quả. Trong khi đó, các chế tài hành chính với mức  
xử phạt tiền cao nhất đến 02 tỷ đồng đối với các pháp nhân thương mại không đảm  
bảo tính răn đe và không tương xứng với tính chất nghiêm trọng của các hành vi vi  
phạm. Ngoài ra, cơ chế kiện dân sự hiện nay cũng gây khó khăn đối với những  
người bị thiệt hại bởi các hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại trong việc  
yêu cầu bồi thường như vấn đề chứng minh hậu quả của hành vi phạm tội và các  
thiệt hại xảy ra. Thực tiễn cho thấy trên cả nước hành vi hủy hoại rừng xảy ra ngày  
càng nghiêm trọng với quy mô, mức độ ngày càng lớn, chủ thể thực hiện hành vi  
hủy hoại rừng không chỉ là cá nhân mà còn có pháp nhân thương mại. Do đó, để  
đáp ứng với tình hình thực tiễn trong việc xử lý các chủ thể có hành vi hủy hoại  
rừng, khoản 5 Điều 243 BLHS năm 2015 đã xây dựng chủ thể tội phạm mới trong  
tội hủy hoại rừng là pháp nhân thương mại. Đây là điểm mới tiến bộ, phù hợp với  
xu thế Luật Hình sự của các nước trên thế giới của BLHS năm 2015 so với BLHS  
năm 1999, góp phần vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tránh bỏ lọt tội  
14  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 94 trang yennguyen 19620 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Tội hủy hoại rừng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_toi_huy_hoai_rung_theo_phap_luat_hinh_su_viet_nam_t.pdf