Luận văn Nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VÕ THỊ THÙY TRANG
NỢ NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VÕ THỊ THÙY TRANG
NỢ NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Hữu Phước
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam” là công trình nghiên cứu của chính tác giả, nội dung được đúc kết từ quá
trình học tập và các kết quả nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, số liệu sử
dụng là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng. Luận văn được thực hiện dưới
sự hướng dẫn của TS Bùi Hữu Phước.
Tác giả luận văn
Võ Thị Thùy Trang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
EDT: Tổng nợ nước ngoài
EXP: Độ mở nền kinh tế
FDI: Vốn đầu tư nước ngoài
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GSO: Tổng cục thống kê Việt Nam
HIPCs: Các nước nghèo có gánh nặng nợ
IMF: Quỹ tiền tệ thế giới
INV: Đầu tư nội địa
MOF: Bộ tài chính
NSNN: Ngân sách Nhà nước
TB: Cán cân thương mại
TDS: Tổng dịch vụ nợ
WB: Ngân hàng thế giới – World Bank
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tiêu chí đánh giá an toàn về nợ của IMF............................................................ 11
Bảng 2.2: Tiêu chí đánh giá về nợ nước ngoài của WB ...................................................... 12
Bảng 2.3: Một số nghiên cứu thực nghiệm gần đây về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và
tăng trưởng kinh tế ............................................................................................................... 17
Bảng 3.1: Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư giai đoạn 2003 – 2012 ................................................. 25
Bảng 3.2: Tỷ lệ tăng trưởng vốn đầu tư các thành phần kinh tế (theo giá thực tế) giai đoạn
2003 – 2012.......................................................................................................................... 27
Bảng 3.3: Cơ cấu đầu tư phân theo ngành giai đoạn 2008 – 2012....................................... 29
Bảng 3.4: Tăng trưởng GDP và ICOR một số quốc gia Châu Á giai đọan từ 2000 – 2012 30
Bảng 3.5: Thâm hụt thương mại của Việt Nam, giai đoạn 2000 – 2012 ............................. 33
Bảng 3.6: Thâm hụt NSNN giai đoạn 2000 – 2013F........................................................... 35
Bảng 3.7: Thâm hụt NSNN và cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012 ....... 38
Bảng 3.8: Các tiêu chí đánh giá độ an toàn nợ nước ngoài của IMF và WB cho HIPCs .... 41
Bảng 3.9: Các chỉ tiêu giám sát nợ nước ngoài của Việt Nam ............................................ 42
Bảng 3.10: Mức ngưỡng phụ thuộc vào chính sách và thể chế theo tiêu chuẩn của HIPCs 44
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Đường cong Laffer nợ............................................................................................ 8
Hình 3.1: Nợ nước ngoài, dịch vụ nợ, GDP và tăng tưởng GDP trong giai đọan 1986 –
2012...................................................................................................................................... 21
Hình 3.2: Vốn đầu tư theo thành phần kinh tế (giá thực tế, tỷ đồng) giai đoạn 2003 – 201226
Hình 3.3: So sánh tỷ lệ đầu tư/GDP (%) của Việt Nam với các nước trong khu vực châu Á,
giai đoạn 2000 – 2011.......................................................................................................... 27
Hình 3.4: Tỷ lệ tiết kiệm/GDP, giai đoạn 2003 – 2012 ....................................................... 31
Hình 3.5: Quan hệ tỷ lệ thâm hụt NSNN và cán cân thương mại giai đoạn 2000 – 2012 ... 39
Hình 4.1: Đường cong Laffer nợ của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2012.............................. 46
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Danh mục hình vẽ, đồ thị
TÓM TẮT ................................................................................................................... 1
1. GIỚI THIỆU....................................................................................................... 2
1.1 Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................... 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu........................................................................................ 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
1.5 Bố cục của luận văn....................................................................................... 4
2.1.1 Nợ nước ngoài ........................................................................................ 5
2.1.2 Tăng trưởng kinh tế ................................................................................ 5
thu nhập thấp ...................................................................................................... 10
của HIPCs........................................................................................................... 37
nước ngoài của Việt Nam................................................................................... 38
chính sách quản lý nợ nước ngoài...................................................................... 40
4.1 Mô hình nghiên cứu..................................................................................... 44
4.2 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu ........................................................... 45
4.3 Kết quả kiểm định........................................................................................ 46
4.3.2 Phân tích cân bằng dài hạn ................................................................... 50
4.3.4 Kết luận mô hình hồi quy ..................................................................... 59
1
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này với mục đích đo lường mối quan hệ giữa nợ nước ngoài đối với
sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian từ khi Việt Nam bắt đầu mở cửa
nền kinh tế năm 1986 đến năm 2012.
Bằng kỹ thuật kiểm định đồng liên kết Jonhansen, nghiên cứu đã tìm ra được mối
quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa các biến nghiên cứu. Mô hình hiệu chỉnh sai số
VECM được sử dụng để ước lượng mối quan hệ trong ngắn hạn giữa các biến.
Kết quả đã khẳng định rằng có tồn tại mối quan hệ giữa nợ nước ngoài đối với sự
tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Nợ nước ngoài hiện vẫn có tác động tích cực đối
với sự tăng trưởng kinh tế và dịch vụ nợ thì lại có tác động tiêu cực với sự tăng
trưởng kinh tế.
Từ khóa: Nợ nước ngoài, Dịch vụ nợ, Tăng trưởng kinh tế
2
1. GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn mở cửa hội nhập để phát triển kinh tế. Để
nền kinh tế tăng trưởng thì bên cạnh các nguồn lực trong nước, chúng ta cần huy
động thêm các nguồn lực bên ngoài, trong đó có vấn đề vay nợ nước ngoài. Vay nợ
nước ngoài nhằm bổ sung các nguồn lực cần thiết để thúc đầy tăng trưởng và phát
triển kinh tế. Nhưng nó cũng có cái giá phải trả khi nợ nước ngoài tăng nhanh, việc
sử dụng nợ vay kém hiệu quả, thất thoát lãng phí, dịch vụ trả nợ tăng nhanh trong
khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, xuất khẩu gặp khó khăn sẽ dẫn đến khủng hoảng
nợ.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, khủng hoảng tiền tệ
luôn đe dọa các nền kinh tế, việc vay nợ nước ngoài luôn gắn với các rủi ro tài chính
qua các yếu tố tỷ giá, chi phí sử dụng nợ, lạm phát,… đây là vấn đề mà nhiều nhà
kinh tế đã cảnh báo. Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát cao, giá trị đồng nội
tệ ngày càng suy giảm so với ngoại tệ vay nợ, thì quy mô nợ và gánh nặng trả nợ
ngày càng lớn. Thực tế các nước cho thấy, việc vay nợ và sử dụng nợ kém hiệu quả
đã dẫn nhiều nước đến tình trạng “vạ nợ”, chìm đắm trong khủng hoảng nợ. Như
vậy, có thể xem nợ nước ngoài như là một “con dao hai lưỡi”, vừa giúp các nước
đang “thiếu vốn” tăng cường và đẩy mạnh phát triển kinh tế, ngược lại sẽ gây ra
những tác động tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế của nước vay nợ.
Tìm hiểu vấn đề này, trong nước cũng đã có nhiều các phân tích về mối quan hệ
giữa nợ nước ngoài và phát triển kinh tế nhưng phần lớn các phân tích thuộc về định
tính, tổng hợp và đưa ra nhận xét tình hình nợ nước ngoài của nước ta hiện nay. Một
số ít nghiên cứu sử dụng mô hình định lượng nhưng không có biến trực tiếp giải
thích mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, để tìm hiểu kỹ
3
hơn về vấn đề này, tác giả quyết định chọn đề tài “Nợ nước ngoài đối với tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, làm cho nợ công
và nợ nước ngoài trở thành vấn đề sống còn của nhiều nước trên thế giới, nhất là các
nước Châu Âu đang chìm đắm trong nợ và đang là vấn đề được quan tâm đặt biệt ở
Việt Nam hiện nay. Bởi vì, nợ nước ngoài là một biến kinh tế vĩ mô tác động mạnh
đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Những năm gần đây, nợ nước ngoài của Việt
Nam tăng lên rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế, điều này đã gây nhiều quan
ngại cho những nhà kinh tế, nhà hoạch định chính sách và Chính phủ Việt Nam. Do
đó, việc nghiên cứu sâu hơn sự tác động này trong thực trạng của nền kinh tế Việt
Nam là hết sức cần thiết, để rút kinh nghiệm và đề xuất những biện pháp, những
chính sách quản lý vay nợ nước ngoài một cách có hiệu quả nhất, đảm bảo sự tăng
trưởng kinh tế bền vững trong tương lai.
Ngoài việc tập trung phân tích nguyên nhân gia tăng nợ nước ngoài ở hai góc độ
thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách, nghiên cứu còn đo lường một số yếu tố
vĩ mô ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam bằng kỹ thuật phân tích đồng
liên kết và mô hình hiệu chỉnh sai số (VECM –Vector Error correction model). Đây
là kỹ thuật được rất nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài ứng dụng khi nghiên cứu về
tăng trưởng kinh tế, vì nó phù hợp với đặc điểm dữ liệu chuỗi thời gian.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là phân tích, nghiên cứu để tìm hiểu thực trạng vay nợ nước
ngoài của Việt Nam hiện nay. Định lượng mối quan hệ giữa nợ nước ngoài đối với
tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Từ đó, rút ra các nhận xét và đề xuất một số biện
pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam.
4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên thì luận văn đi tìm câu trả lời cho các câu
hỏi sau:
- Mức vay nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay cao hay thấp?
- Có tồn tại mối quan hệ giữa nợ nước ngoài với tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam hay không?
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp:
- Định tính: Thu thập thông tin, tổng hợp và phân tích số liệu từ các bài viết, bài
nghiên cứu trong và ngoài nước.
- Định lượng: Tác giả sử dụng kỹ thuật phân tích đồng liên kết để phân tích cân
bằng dài hạn và mô hình VECM để phân tích cân bằng ngắn hạn của một số
yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế giai đoan 1986 - 2012.
1.5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần giới thiệu này thì phần còn lại của luận văn được chia thành 4 phần:
- Phần 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về nợ nước ngoài
và tăng trưởng kinh tế
- Phần 3: Thực trạng nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 1986 - 2012
- Phần 4: Định lượng mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam
- Phần 5: Một số đề xuất nâng cao hiệu quả quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam
5
2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ
NỢ NƯỚC NGOÀI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.1 Khái niệm về nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế
2.1.1 Nợ nước ngoài
Theo từ điển thuật ngữ về ngân hàng và tài chính của Nhà xuất bản Peter Collin tái
bản năm 1997, thì nợ nước ngoài là khoản vay nợ của một quốc gia từ một quốc gia
khác, nói cách khác, chủ nợ thường trú ở nước ngoài và con nợ thường trú trong
nước. Như vậy, nợ nước ngoài bao gồm các khoản nợ trên thị trường nợ nội địa
nhưng chủ nợ là những người không cư trú ở nội địa.
Về cơ cấu, nợ nước ngoài bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước
ngoài của khu vực tư nhân. Nợ nước ngoài của khu vực công bao gồm: nợ nước
ngoài của Chính phủ, nợ nước ngoài của chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương (nếu có), nợ nước ngoài của các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tài
chính, tín dụng nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước trực tiếp vay nước ngoài
và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân có bảo lãnh của Chính phủ.
2.1.2 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về giá trị trong phạm vi một nền kinh tế. Tăng
trưởng kinh tế được phản ánh ở nhiều chỉ tiêu nhưng chỉ tiêu thường được sử dụng
là Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập
quốc dân (GNI), tăng trưởng vốn, lao động, sự gia tăng dung lượng thị trường... Sự
tương tác giữa các bộ phận cấu thành GDP như tiêu dùng nội địa, đầu tư, chi tiêu
chính phủ và cán cân thương mại sẽ làm thay đổi tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Quá trình tăng trưởng thể hiện các nguồn lực tăng trưởng như tài nguyên thiên
nhiên, vốn, lao động, công nghệ, quản lý, quan hệ, thị trường... được khai thác và sử
6
dụng có hiệu quả cao nhất. Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng trưởng theo chiều
rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài hạn... Nhiều công trình
nghiên cứu trong ngoài nước đã lượng hóa tác động của các nguồn lực tăng trưởng
đến chất lượng và động thái tăng trưởng thông qua các mô hình như mô hình tái sản
xuất giản đơn của C.Mác, tái sản xuất mở rộng của V.I.Lênin, mô hình các giai đoạn
tăng trưởng kinh tế của W.Rostow hoặc Solow... hoặc hàm sản xuất Cob Douglas.
Quá trình tăng trưởng kinh tế có thể có nhiều mô hình khác nhau như tăng trưởng
kinh tế hướng nội, tăng trưởng kinh tế hướng ngoại hoặc sự kết hợp của cả hai mô
hình này tùy điều kiện và sự lựa chọn chiến lược của các quốc gia. Như vậy, tăng
trưởng kinh tế là quá trình tích lũy giá trị gia tăng của một nền kinh tế từ các nguồn
lực trong và ngoài nước và nó phải được thúc đẩy bằng những động lực đủ mạnh
của chính sách, lòng tự hào dân tộc hoặc những yếu tố khác trong điều kiện toàn cầu
hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
2.1.3 Tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế
Theo Tokunbo và cộng sự (2007), các nghiên cứu ban đầu của các nhà kinh tế trong
những thập niên 50 và 60 đã tìm thấy một lý thuyết chung về nợ nước ngoài và tăng
trưởng kinh tế. Tất cả họ đều chia sẻ quan điểm chung rằng việc chuyển giao các
nguồn lực nước ngoài (thông qua các khoản vay, viện trợ và tài trợ) tại các nước
kém phát triển là cần thiết, nó bổ sung nguồn vốn thiếu hụt trong nước. Với nguồn
vốn được bổ sung sẽ giúp các nước chuyển đổi nền kinh tế của họ để tạo ra mức
tăng trưởng cao hơn. Qua quá trình này có thể thấy mối liên hệ giữa nợ nước ngoài
và tăng trưởng kinh tế là với một quốc gia đang phát triển mức vay nợ hợp lý có khả
năng tăng cường tăng trưởng kinh tế. Các quốc gia ở giai đoạn phát triển đầu với
dung lượng vốn nhỏ hơn sẽ có những cơ hội đầu tư với tỷ suất hoàn vốn cao hơn so
với các nền kinh tế phát triển. Do vậy chỉ cần các quốc gia này sử dụng vốn vay để
7
đầu tư sản xuất, tăng trưởng sẽ tăng và cho phép họ thanh toán các khoản nợ vay kịp
thời. Điều này cũng hàm ý rằng trong ngắn hạn mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa nợ
nước ngoài và tăng trưởng có thể giúp các nước này vượt qua chu kỳ nợ hợp lý.
Theo Soludo (2001), chu kỳ nợ có 3 giai đoạn: trong giai đoạn đầu tiên nợ phát triển
để bổ sung vào nguồn lực thiếu hụt trong nước, trong giai đoạn thứ hai, quá trình sử
dụng nợ tạo ra thặng dư nhưng có thể không đủ bù đắp các khoản thanh toán lãi
suất, trong khi giai đoạn thứ ba, quá trình sử dụng nợ phải tạo ra thặng dư đủ để
trang trải lãi và nợ gốc.
Câu hỏi đặt ra là tại sao mức nợ tích lũy cao quá mức hợp lý lại có thể dẫn tới tăng
trưởng kinh tế thấp hơn. Sự lý giải tốt nhất có thể xuất phát từ lý thuyết “debt
overhang”.
Theo Krugman (1988) định nghĩa “debt overhang” là tình trạng trong đó số tiền dự
kiến chi trả nợ nước ngoài sẽ giảm dần khi dung lượng nợ tăng lên. Lý thuyết “debt
overhang” cho rằng nếu như nợ trong tương lai vượt quá khả năng trả nợ của một
nước thì các chi phí dự tính chi trả cho các khoản nợ sẽ kìm hãm đầu tư trong nước
và đầu tư nước ngoài, từ đó ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng. Các nhà đầu tư tiềm
năng sẽ lo sợ rằng khi quốc gia đó sản xuất càng nhiều, họ sẽ bị các nước đánh thuế
nặng hơn để chi trả cho các khoản nợ nước ngoài, do đó các nhà đầu tư sẽ khó có
thể bỏ các chi phí đầu tư hiện tại để thu về sản lượng cao hơn trong tương lai. Lý
thuyết “debt overhang” còn đi đến một kết quả rộng hơn, đó là mức nợ nước ngoài
quá cao sẽ làm giảm các ưu đãi của chính phủ cho các hoạt động cải tổ cơ cấu và tài
khóa do việc củng cố tình hình tài khóa quốc gia có thể làm tăng áp lực trả nợ cho
nước ngoài. Những bất lợi này đối với công cuộc cải tổ đang là mối quan ngại lớn ở
các nước có thu nhập thấp, nơi mà việc cải cách cơ cấu là cần thiết để duy trì tốc độ
tăng trưởng kinh tế.
8
Tình trạng “Debt overhang” cũng đồng thời kìm hãm đầu tư và tăng trưởng do gây
ra sự lo ngại về các quyết định của Chính phủ. Khi quy mô nợ công tăng lên, khó có
thể chắc chắc rằng chính phủ sẽ viện tới những chính sách gì để giải quyết các
khoản nợ phải trả. Trên thực tế, người ta cho rằng Chính phủ có thể dùng các công
cụ tác động đến đầu tư để chi trả cho các khoản nợ (theo Agenor và Montiel 1996).
Lập luận này có thể được xem xét trong đường cong Laffer về nợ (Hình 2.1), cho
thấy rằng tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm. Trên phần dốc
lên của đường cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng sẽ đi cùng với khả năng trả nợ
cũng tăng lên.Trên phần dốc xuống của đường cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng
lại đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm.
Debt Overhang
Khả năng
trả nợ
Dung lượng nợ
Hình 2.1: Đường cong Laffer nợ
Nguồn: Catherine Pattillo, Hélène Poirson and Luca Ricci (2002): “External Debt
and Growth”, Magazine Finance and Development of the IMF
9
Đỉnh đường cong Laffer nợ (hình 2.1) là điểm mà tại đó sự tăng lên trong tổng nợ
bắt đầu tạo ra gánh nặng cho đầu tư, cải tổ kinh tế và các hoạt động khác, điểm này
có thể liên quan đến điểm mà tại đó nợ bắt đầu ảnh hưởng ngược chiều đến tăng
trưởng. Do vậy, ở mức nợ hợp lí, vay nợ tăng lên sẽ có tác động tích cực đến tăng
trưởng. Ngược lại, tổng nợ tích lũy lớn sẽ có thể cản trở tăng trưởng.
Dung lượng nợ lớn có thể ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng do tác động xấu
đến tích lũy vốn sản xuất và tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp. Bên cạnh
đó, môi trường chính sách của Chính phủ cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa nợ
và tăng trưởng.
Nợ công đã tăng lên đáng kể ở hầu hết các nước đã và đang phát triển hiện nay, đây
là hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. Và sự gia tăng nợ công
đã dấy lên lo ngại liệu nó đang bắt đầu đạt đến mức độ mà tại đó nó có thể làm chậm
tăng trưởng kinh tế. Có một "đỉnh điểm" tồn tại? Làm thế nào tác động tăng trưởng
mạnh mẽ được nếu nợ đã vượt qua ngưỡng? Điều gì sẽ xảy ra nếu nợ vẫn ở mức cao
trong một thời gian dài?
Theo nghiên cứu của Reinhart và Rogoff (2010), sử dụng biểu đồ tổng hợp từ 44
quốc gia phát triển và đang phát triển, họ tìm thấy một ngưỡng nợ của chính phủ
trên GDP 90%, nếu vượt quá mốc này tốc độ tăng trưởng thực tế giảm. Ngưỡng này
được xem là “điểm tới hạn” hay “ngưỡng nợ”.
Theo nghiên cứu của Mehmet Caner, Thomas Grennes và Koehler Fritzi-Geib, các
chuyên gia kinh tế của World bank (2010) bằng lý thuyết và thực nghiệm trên mẫu
là 101 quốc gia (75 quốc gia đang phát triển và 26 quốc gia phát triển), trong đó có
Việt Nam, về mối quan hệ trong dài hạn giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, giai
đoạn 1980 - 2008, phân tích này cung cấp một nền tảng cho sự phát triển các nghiên
cứu chứng minh sự tồn tại ngưỡng nợ và ước tính ngưỡng nợ (nợ công trên GDP)
10
cho từng quốc gia, từ đó có những chính sách phù hợp đối phó với nguy cơ khủng
hoảng nợ đang đe dọa các nước có nợ nước ngoài cao hiện nay. Và kết quả nghiên
cứu cho thấy có sự tồn tại ngưỡng nợ (Debt threshold), mức ngưỡng của tỷ lệ nợ
công trung bình dài hạn so với GDP là 77% cho các nhóm mẫu chung (gồm các
quốc gia đã phát triển và đang phát triển) và 64% cho các các nước đang phát triển.
Nếu nợ công vượt qua mức 77%, mỗi điểm phần trăm tăng thêm trong tỷ lệ nợ công
trên GDP của nền kinh tế làm mất 0,0174 điểm phần trăm tăng trưởng thực trung
bình hàng năm. Hiệu ứng này là rất quan trọng. Dưới ngưỡng này, mỗi điểm phần
trăm tăng thêm trong tỷ lệ nợ công trên GDP của nền kinh tế làm tăng 0,065 điểm
phần trăm tăng trưởng thực trung bình hàng năm. Như vậy, có sự tồn tại ngưỡng nợ,
đây là giá trị tới hạn.
2.1.4 Tiêu chí đánh giá mức độ an toàn nợ nước ngoài đối các quốc gia có thu
nhập thấp
Các chỉ số đánh giá mức độ an toàn về nợ nước ngoài được xây dựng thành hệ thống
nhằm xác định mức độ nghiêm trọng của nợ nước ngoài đối với an ninh tài chính
quốc gia. Cũng cần phải xác định lại là các chỉ tiêu đánh giá chung về nợ nước
ngoài, trong đó nợ nước ngoài của Chính phủ là chủ yếu, còn nợ của khu vực tư
nhân hầu như không đáng kể.
a. Tiêu chí đánh giá mức độ an toàn nợ nước ngoài của IMF
Theo quan điểm của IMF thì tiêu chí đánh giá an toàn nợ nước ngoài đối với các
quốc gia có thu nhập thấp dựa vào hiện giá thuần của nợ và dịch vụ nợ (nghĩa vụ trả
nợ), một chính sách nợ yếu đồng nghĩa an toàn về nợ và một chính sách nợ mạnh
đồng nghĩa với kém an toàn về nợ.
11
Bảng 2.1: Tiêu chí đánh giá mức độ an toàn về nợ của IMF
Gánh nặng nợ theo tiêu chí DSF
NPV của nợ so với
Dịch vụ nợ so với
(%)
Thu ngân
(%)
Xuất
khẩu
100
Thu ngân
Xuất
khẩu
15
GDP
30
sách
200
sách
25
Chính sách nợ yếu
Chính sách nợ
trung bình
Chính sách nợ
mạnh
150
200
40
250
300
20
25
30
35
50
- Tỷ lệ NPV của nợ/xuất khẩu (NPV/X): đo lường hiện giá thuần của nợ nước
ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia từ nguồn thu xuất khẩu.
Một nước có chính sách nợ yếu hay ở trong ngưỡng an toàn về nợ nước ngoài
thì sẽ có tỷ lệ NPV nợ/xuất khẩu ≤ 100%, chính sách nợ trung bình với tỷ lệ là
150% và chính sách nợ mạnh hay kém an toàn về nợ thì tỷ lệ này là 200%.
- Tỷ lệ NPV của nợ/thu ngân sách nhà nước (NPV/DBR): đo lường hiện giá
thuần của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ
nguồn thu ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, chỉ tiêu thứ hai chỉ được sử dụng nếu như đáp ứng hai điều kiện: (i)
tỷ lệ xuất khẩu/GDP (X/GDP) phải lớn hoặc bằng 30% và (ii) tỷ lệ thu ngân
sách nhà nước/GDP ( DBR/GDP) phải lớn hơn 15%. Một quốc gia được xem
là an toàn nếu như NPVcủa nợ/X nhỏ hơn 100%; NPVcủa nợ/DBR nhỏ hơn
200%.
- Tỷ lệ NPV của nợ/GDP (NPV/GDP): đo lường hiện giá thuần của nợ nước
ngoài trên tổng thu nhập quốc nội.
12
- Dịch vụ nợ/xuất khẩu (TDS/X) và dịch vụ nợ/nguồn thu ngân sách
(TDS/DBR): là những chỉ tiêu đo lường tính lỏng được IMF đưa vào để đánh
giá mức độ bền vững nợ công. TDS/X đo lường khả năng thanh toán dịch vụ
nợ từ nguồn thu xuất khẩu. Còn TDS/DBR đo lường khả năng thanh toán dịch
vụ nợ từ thu ngân sách nhà nước. Một quốc gia đảm bảo tính lỏng, TDS/X phải
thấp hơn 15% và TDS/DBR thấp hơn 25%.
b. Tiêu chí của Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá mức độ nợ của các quốc
gia vay nợ
Bảng 2.2: Tiêu chí đánh giá mức độ nợ nước ngoài của WB
Mức độ
bình thường
Mức độ
Mức độ
trầm trọng
Chỉ số
khó
Tỷ lệ % tổng nợ nước ngoài so
với GDP
≤30%
30-50%
≥50%
Tỷ lệ % tổng nợ nước ngoài so
với kim ngạch xuất khẩu hàng
hóa và dịch vụ
≤165%
165-200%
≥200%
Tỷ lệ % nghĩa vụ trả nợ so với
kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và
dịch vụ
Tỷ lệ % nghĩa vụ trả nợ so với
GDP
≤18%
≤2%
18-30%
2-4%
≥30%
≥4%
Tỷ lệ % nghĩa vụ trả lãi so với
kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và
dịch vụ
≤12%
12-20%
≥20%
Dựa vào các chỉ số trên, các tổ chức tài chính quốc tế có thể đánh giá mức độ nợ nần
và khả năng tài trợ cho các nước thành viên. Các chỉ số này cũng là căn cứ để các
quốc gia vay nợ tham khảo, xác định tình trạng nợ để hoạch định chiến lược vay nợ
cho quốc gia.
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
luan_van_no_nuoc_ngoai_doi_voi_tang_truong_kinh_te_cua_viet.pdf

