Tóm tắt Luận văn Nâng cao giải pháp sử dụng vạch sơn trong tổ chức giao thông mạng lưới đường bộ thành phố Quy Nhơn

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
HỒ QUANG TRUNG  
NÂNG CAO GIẢI PHÁP SỬ DỤNG VẠCH SƠN  
TRONG TỔ CHỨC GIAO THÔNG MẠNG LƯỚI  
ĐƯỜNG BỘ THÀNH PHỐ QUY NHƠN  
Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông  
Mã số: 60.58.02.05  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT  
Đà Nẵng - Năm 2015  
Công trình được hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS PHAN CAO THỌ  
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Quang Đạo  
Phản biện 2: TS. Trần Đình Quảng  
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt  
nghiệp thạc ngành Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông họp  
tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 08 tháng 08 năm 2015  
Có thể tìm hiểu luận văn tại  
- Trung tâm Thông tin-Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1. Đặt vấn đề  
Tổ chức giao thông là một phần không thể thiếu trong công  
tác thiết kế, quản lý và khai thác đường ô tô nói chung và càng  
quan trọng hơn đối với hệ thống mạng lưới đường đô thị. Tổ chức  
giao thông là những biện pháp tác động trực tiếp hoặc gián tiếp  
đến dòng giao thông về mặt không gian để nó vận hành theo ý  
muốn chủ quan của con người. Tổ chức giao thông là một bài toán  
tổng hợp kỹ thuật - kinh tế - xã hội. Các biện pháp tổ chức giao  
thông không chỉ là những biện pháp kĩ thuật giao thông đơn thuần  
dùng để cưỡng chế dòng giao thông mà nó còn là những biện pháp  
mang tính kinh tế - xã hội tác động đến những hành vi giao thông  
của con người. Các biện pháp tổ chức giao thông có thể được thực  
hiện với quy mô vĩ mô (cả mạng lưới đường) hoặc vi mô (một  
cung đường hoặc một nút giao thông).  
Vạch sơn đường là một trong những phương tiện kỹ thuật chủ  
yếu được sử dụng trong công tác tổ chức giao thông. Việc nghiên  
cứu sử dụng hợp lý và hiệu quả vạch sơn đường không những nâng  
cao được an toàn giao thông mà còn nâng cao thẩm mỹ cho tuyến  
đường. Vạch sơn đường cung cấp thông tin hướng dẫn giao thông,  
điều khiển giao thông, nhằm nâng cao an toàn và khả năng thông xe.  
Nó được phối hợp sử dụng với biển báo hiệu hoặc sử dụng độc lập.  
Vạch sơn đường là một trong những phương tiện kỹ thuật chủ yếu  
trong công tác tổ chức giao thông trên tuyến, tại nút giao thông hay  
quảng trường,…Vì vậy, đối với vạch sơn đường tiến hành nghiên  
cứu nâng cao giải pháp sử dụng là rất quan trọng.  
2
Năm 2012 Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quy chuẩn  
Quốc gia về báo hiệu đường bộ QCVN 41:2012 sử dụng thống  
nhất trên toàn lãnh thổ. Tuy nhiên một số nơi tình trạng sử dụng  
chưa thống nhất và đồng bộ. Qua tìm hiểu, trên địa bàn thành phố  
Quy Nhơn, hệ thống vạch sơn đường báo hiệu chưa được đầu tư  
xây dựng đúng theo Quy chuẩn, hoặc có những khiếm khuyết về  
vị trí, cách bố trí trên mặt cắt ngang,… Vì nhiều lý do khác nhau,  
có nhiều tuyến phố rất cần phải đặt dải phân cách thì lại bố trí  
vạch sơn, hoặc có nhiều tuyến phố chỉ cần dùng vạch sơn để phân  
cách thì lại dùng dải cứng con lươn…, Ngược lại nhiều tuyến phố  
nội bộ lưu lượng giao thông không nhiều không cần phải đặt dải  
phân cách cứng chỉ cần bố trí vạch sơn để phân chia 02 làn xe  
ngược chiều thì lại bố trí dãi phân cách gây nên sự chật chội và  
hạn chế khả năng thông hành. Xuất phát từ đó, trên cơ sở quy định  
về vạch tín hiệu giao thông hiện hữu, tác giả đề lựa chọn đề tài  
“Nâng cao giải pháp sử dụng vạch sơn trong tổ chức giao thông  
mạng lưới đường bộ thành phố Quy Nhơn” góp phần cao khả  
năng thông hành, chống ùn tắc, nâng cao tốc độ khai thác và đặc  
biệt góp phần giảm tai nạn giao thông cũng như thỏa mãn yêu cầu  
về mỹ quan đô thị.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Nghiên cứu tổng quan về ý nghĩa sử dụng và những chỉ tiêu  
kỹ thuật của các loại vạch kẻ đường, khảo sát, đánh giá hiện trạng  
sử dụng vạch sơn đường trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, trên  
cơ sở lý thuyết từ các tiêu chuẩn, qui chuẩn để từ đó đề xuất một  
số giải pháp thiết kế, sử dụng hệ thống vạch sơn trên địa bàn  
3
thành phố Quy Nhơn nhằm mục đích nâng cao hiệu quả khai thác  
và đảm bảo an toàn giao thông.  
Ví dụ ứng dụng thiết kế thiết kế vạch sơn kết hợp biển báo  
cho Đường Nguyễn Tất Thành, đoạn qua Quảng trường trung tâm  
thành phố Quy Nhơn.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: Tất cả vạch sơn giao thông trên đường  
bao gồm các vạch sơn kẻ ngang hoặc dọc trên mặt đường, mũi tên,  
chữ viết hoặc hình vẽ trên mặt đường và những ký hiệu theo chiều  
đứng thể hiện ở cọc tiêu hoặc hàng rào hộ lan, lan can, hàng vỉa.  
Phạm vi nghiên cứu: Tất cả các loại vạch sơn, vạch kẻ dùng  
trong công tác tổ chức giao thông. Hiện trạng sử dụng vạch sơn  
trong phạm vi nội thành thành phố Quy Nhơn, từ đó đưa ra các  
nhận xét, đánh giá.  
4. Phương pháp nghiên cứu  
- Nghiên cứu lý thuyết: phương pháp phân tích và tổng hợp lý  
thuyết.  
- Nghiên cứu thực nghiệm: tổ chức điều tra tại thực địa hiện  
trạng sử dụng vạch sơn đường, từ đó tổng hợp số liệu, so sánh kết  
quả và rút ra nhận xét cần thiết (Phương pháp thực nghiệm khoa  
học).  
5. Bố cục đề tài  
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu  
4
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN VỀ VẠCH SƠN TRONG  
TỔ CHỨC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ  
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM  
1.1.1. Khái niệm chung  
1.1.2. Nhóm các giải pháp pháp tổ chức giao thông  
- Nhóm các giải pháp tổ chức giao thông tầm vĩ mô và chiến  
lược;  
- Nhóm các giải pháp tổ chức giao thông bằng phân làn, phân  
luồng;  
- Nhóm các giải pháp tổ chức giao thông tại nút;  
- Nhóm các giải pháp tổ chức giao thông sử dụng các trang  
thiết bị trên đường: Tổ chức giao thông bằng đèn tín hiệu; Tổ chức  
giao thông bằng vạch sơn và biển báo; Tổ chức giao thông bằng hệ  
thống giao thông thông minh.  
- Nhóm các giải pháp tổ chức giao thông tĩnh.  
1.2. KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG  
VẠCH SƠN TRONG AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ  
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM  
1.2.1. Khái quát về lịch sử hình thành và sử dụng vạch sơn  
trong an toàn giao thông đường bộ một số nước trên Thế giới  
a. Lịch sử hình thành vạch sơn trên thế giới  
b. Hiện trạng sử dụng vạch sơn ở một số nước  
1.2.2. Khái quát về lịch sử hình thành và sử dụng vạch sơn  
trong an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam  
5
1.3. PHÂN LOẠI VẠCH SƠN ĐƯỜNG  
1.3.1. Các loại vạch tín hiệu giao thông trên đường có tốc  
độ >60km/h  
- Vạch chỉ dẫn: Chỉ dẫn làn đường xe chạy, hướng xe chạy,  
chỉ giới mép mặt đường, phân cách làn đường dành cho xe thô sơ,  
người đi bộ ...;  
- Vạch cấm: cảnh báo cho người tham gia giao thông phải  
chấp hành các quy định cấm hoặc hạn chế giao thông, người tham  
gia giao thông đều phải thực hiện theo nội dung quy định của vạch;  
- Vạch cảnh báo: chỉ dẫn cho người tham gia giao thông biết  
được tình hình giao thông trên đường nhằm nâng cao cảnh giác, đề  
phòng và ứng phó với các trường hợp bất trắc có thể gây ra tai nạn giao  
thông;  
1.3.2. Các loại vạch tín hiệu giao thông trên đường có tốc  
độ ≤60km/h  
- Vạch nằm ngang: là các loại vạch kẻ trên mặt đường như  
vạch dọc đường, ngang đường, các loại chữ viết, hình vẽ.  
- Vạch đứng: là các loại vạch kẻ trên thành vỉa hè các công  
trình giao thông và một số bộ phận khác của đường, kết hợp giữa  
màu trắng và đen.  
1.4. KẾT LUẬN  
Hiện nay ở một số nước phát triển như Anh, Canada, Mỹ,  
Singapore… đã ban hành Bộ tiêu chuẩn thiết kế và xây dựng ký hiệu  
biển báo và vạch sơn thống nhất trên toàn lãnh thổ. Ở Việt Nam năm  
2012 ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ  
(QCVN 41-2012/BGTVT) đã thể hiện đầy đủ và rất đa dạng các loại  
vạch sơn dùng cho công tác báo hiệu để hướng dẫn, điều khiển giao  
thông nhằm nâng cao an toàn và khả năng thông xe. Vạch kẻ đường  
có thể dùng độc lập và có thể kết hợp với các loại biển báo hiệu  
6
đường bộ hoặc đèn tín hiệu chỉ huy giao thông. Từ cách phân loại  
trên ta có thể thấy vạch kẻ đường bao gồm vạch nằm ngang và vạch  
đứng. Vạch nằm ngang bao gồm vạch trên mặt đường như vạch dọc  
đường, vạch ngang đường để quy định phần đường xe chạy có màu  
trắng hoặc màu vàng. Vạch đứng kẻ trên thành vỉa hè các công trình  
giao thông và một số bộ phận khác của đường, vạch đứng kết hợp  
giữa vạch trắng đen hoặc vạch vàng đen xen kẽ.  
CHƯƠNG 2  
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VẠCH SƠN  
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN  
2.1. KHÁI QUÁT VỀ GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ KHU VỰC  
THÀNH PHỐ QUY NHƠN  
2.1.1. Khái quát về thành phố Quy Nhơn  
2.1.2. Khái quát hiện trạng mạng lưới đường bộ khu vực  
thành phố Quy Nhơn  
a. Mạng lưới đường Quốc lộ và giao thông đối ngoại  
b. Mạng lưới giao thông đối nội  
c. Hệ thống nút giao thông đô thị  
d. Hệ thống cầu  
đ. Hệ thống bến xe trong đô thị  
e. Hệ thống xe buýt  
2.1.3. Hiện trạng tổ chức giao thông của thành phố Quy  
Nhơn  
a. Hiện trạng tổ chức làn đường và đèn tín hiệu  
b. Lưu lượng ở một số tuyến phố  
c. Hiện trạng an toàn giao thông trong đô thị Quy Nhơn  
7
2.2. THỰC TẾ SỬ DỤNG VẠCH SƠN TRÊN ĐỊA BÀN  
THÀNH PHỐ QUY NHƠN  
2.2.1. Hiện trạng vạch sơn trên một số tuyến phố  
- Tuyến đường Đống Đa: vạch đường tim phân chia 2 luồng  
xe ngược chiều bị mờ, bong tróc (hình 2.3); vạch gồ giảm tốc mất tác  
dụng (hình 2.4). Không có vạch phân chia làn xe cơ giới và xe thô  
sơ. Người dân qua đường bất cứ lúc nào họ muốn (hình 2.5).  
- Tuyến đường Âu cơ: vạch phân chia 2 luồng xe cùng chiều  
bị mờ rất khó nhận biết (hình 2.6), một số đoạn bị lãng quên làm cho  
người lái xe bị mất phương hướng, thậm chí trên bó vỉa dãi phân  
cách không có kẻ vạch đứng.  
- Tuyến đường Trần Hưng Đạo - Hùng Vương: vạch gồ giảm  
tốc bị bong tróc, mất tác dụng (hình 2.7). Không có vạch phân chia  
làn xe cơ giới và xe thô sơ (hình 2.8). Người đi bộ không an toàn khi  
đi trên phần đường dành cho mình.  
- Tuyến đường Tây Sơn: Thông thường người già và trẻ em sẽ  
không ước tính được khoảng thời gian để băng qua đường, vạch sơn  
kẻ ở mặt cắt ngang quá rộng sẽ gây mất an toàn cho người đi bộ  
(hình 2.10). Ở đây nên bố trí một bùng binh (đảo) an toàn ở tim  
đường để người đi bộ có thể dừng lại chờ, nhường đường cho  
phương tiện cơ giới. Vạch đứng trên dãi phân cách được bố trí màu  
trắng / đỏ; vạch đi bộ bị mờ, bố trí dẫn người đi bộ đến dãi phân cách  
không có lối băng qua đường (hình 2.11). Khi thiết kế, thi công  
người ta không quan tâm kẻ vạch như thế nào cho đúng (hình 2.12),  
rõ ràng ở đây hai vạch ngang đường kẻ song song không có tác dụng.  
- Nguyễn Thái Học: Vạch sơn kẻ quá dày đặc đồng thời không  
an toàn cho người đi bộ, tại vị này chỉ cần bố trí 01 vị trí vạch đi bộ  
8
qua đường (hình 2.13) hoặc vạch sơn hướng người đi bộ lên vỉa hè  
tại nơi có cột điện, gốc cây hoặc thùng rác (hình 2.14).  
2.2.2. Hiện trạng vạch sơn trong phạm vi một số nút giao  
thông  
- Nút giao Nguyễn Tất Thành - Đống Đa - Trần Hưng Đạo:  
Tại vị trí dừng trước đèn đỏ bố trí quá nhiều vạch trên một mặt cắt  
ngang đường dẫn đến người điều khiển phương tiện nhầm lẫn, làm  
cho người lái xe bị quá tải về thông tin trong khi anh ta cũng phải  
nhận tất cả các thông tin khác về tình hình giao thông (hình 2.15).  
Theo QCVN 41:2012 các vạch đứng kẻ trên hàng vỉa, trên các cột trụ  
tròn đặt trên đảo an toàn hoặc dải phân cách được bố trí vạch đen  
trắng song song với mặt phẳng nằm ngang, tuy nhiên ở đây được bố  
trí màu trắng/đỏ xen kẽ, vạch chéo góc 45o (hình 2.16). Hoặc tại  
nhánh đường Trần Hưng Đạo và tuyến Đống Đa nối vào nút không  
có vạch phân chia 2 luồng xe (hình 2.16 và 2.17).  
- Nút giao Lê Hồng Phong – Lý Thường Kiệt – Phan Bội  
Châu: Vạch ngựa vằn là một dạng đảo mềm để phân chia dòng xe,  
tuy nhiên ở đây không nên bố trí vạch ngựa vằn, người lái xe trong  
một số trường hợp không tuân thủ theo vạch mà lái xe đè lên vạch,  
nên bố trí đảo tam giác để phân luồng xe chạy.  
- Nút giao Tây Sơn – Nguyễn Thái Học – Chương Dương:  
Vạch sơn bị mờ (hình 2.21); ở hình 2.22 không nên bố trí vạch ngựa  
vằn, ở đây nên bố trí phân luồng xe bằng đảo cứng. Hoặc ở hình  
2.23: đường có 4 làn xe cơ giới và 02 làn xe thô sơ, nên bố trí dải  
phân cách cứng phân chia 2 luồng xe ngược chiều và kéo dài đảo dẫn  
hướng trên nhánh này; Thông thường người già và trẻ em sẽ không  
ước tính được khoảng thời gian để băng qua đường, vạch sơn kẻ ở  
nút quá rộng sẽ gây mất an toàn.  
9
- Nút giao Ngô Mây – An Dương Vương – Nguyễn Huệ: Vạch  
sơn bố trí tương đối đầy đủ, tuy nhiên tại nhánh Nguyễn Huệ hướng  
vào nút chưa phù hợp; cụ thể tuyến nhánh này rộng 27m, bố trí 4 làn  
xe cơ giới và 02 làn xe thô sơ, nên bố trí dải phân cách cứng thay cho  
vạch sơn kép, bố trí đảo phân làn cho xe chạy trước khi vào nút; tại vị  
trí vạch người đi bộ bố trí dải phân cách kết hợp đảo trú chân cho  
người đi bộ (hình 2.24). Vạch phân làn xe bố trí chưa hợp lý (hình  
2.25), ở đây không nên bố trí vạch liền nét phân chia dòng xe phía  
ngoài cùng.  
- Một số nút giao giữa đường chính và đường nhánh: Vạch  
"Dừng lại" chỉ rõ vị trí mà lái xe phải dừng lại khi có tín hiệu đèn  
đỏ, người điều khiển hoặc nơi không có tín hiệu giao thông để  
quan sát, được dùng kèm theo biển số 122 "STOP", khi thấy an  
toàn mới được đi. Ở hình 2.26 và 2.27 nơi giao nhau giữa đường  
phố nội bộ và đường trục chính nên có vạch dừng kết hợp biển  
báo "STOP". Khi phương tiện đi với tốc độ trên 30km/h thì rất  
nguy hiểm nếu đứng trên góc độ an toàn đường bộ. Xe trên đường  
phụ sử dụng các khe hở thời gian giữa các xe trên đường chính  
(Δt) để nhập dòng hoặc cắt qua. Khi có những quảng thời gian Δt  
đủ lớn thì người lái thực hiện vận động này.  
Tuy nhiên, đôi lúc người ta lại kẻ vạch gồ giảm tốc phía trước  
ngay tại nút giao có bố trí đèn tín hiệu (hình 2.28) hoặc ngay tại nơi  
dừng xe trước đèn đỏ (hình 2.29).  
2.2.3 Thi công vạch sơn  
2.3. KẾT LUẬN  
Nếu thiết kế sơn kẻ đường hợp lý sẽ có nhiều thuận lợi kể cả  
khu vực đô thị và ngoài đô thị, chúng đặc biệt có tác dụng vào ban  
đêm. Sơn kẻ đường có hai chức năng là kiểm soát sự đi lại của phương  
10  
tiện ở các tình huống tiềm ẩn nguy hiểm và đưa ra những thông tin  
cảnh báo và hướng dẫn. Tuổi thọ của sơn kẻ đường rất ngắn vì chúng  
sẽ mờ dần và mất hẳn, việc sơn lại phải đặc biệt chú trọng vấn đề an  
toàn cho công nhân thực hiện. Trong nhiều năm người ta đã dùng sơn  
kẻ đường bằng chất dẻo và dùng cho đường mới xây dựng hoặc khôi  
phục. Sơn kẻ đường ở mỗi điểm nên hạn chế để đảm bảo thẩm mỹ và  
giới hạn số lượng thông tin. Để đảm bảo điều khiển giao thông hiệu  
quả thì cần phải đảm bảo thống nhất thông tin của biển báo và sơn kẻ  
đường.  
Trên một số tuyến đường ở đô thị Quy Nhơn, việc sơn kẻ vạch  
trên tuyến còn tồn tại một số vấn đề: vạch sơn bị mờ, bong tróc, thậm  
chí một số tuyến người ta lãng quên không sơn kẻ vạch; các vạch  
đứng bố trí trên hàng vỉa chưa phù hợp theo quy chuẩn dẫn đến  
người điểu khiển phương thiện giao thông đi nhầm đường hoặc có  
thể gây mất an toàn giao thông. Trên một số tuyến phố cần bố trí dãi  
phân cách cứng phân chia giữa 2 luồng xe ngược chiều thì lại bố trí  
vạch sơn hoặc ngược lại; một số tuyến cần bố trí vạch sơn tim đường  
hoặc vạch sơn phân chia giữa làn xe cơ giới và làn xe thô sơ thì lại  
không bố trí; hoặc khi thiết kế, thi công kẻ vạch sơn cho người đi bộ  
người ta không qua tâm đến việc người đi bộ có đi trên đó hay  
không,…  
Trên một số nút giao: việc tổ chức giao thông còn chưa hợp  
lý, các vạch sơn hướng dẫn dòng xe ra vào nút còn lộn xộn chưa có  
quy củ như sơn quá nhiều vạch trên một mặt cắt ngang đường làm  
cho người lái xe bị mất phương hướng; một số nút giao dùng vạch  
ngựa vằn để phân chia dòng xe dòng xe ra vào nút chưa phù hợp;…  
11  
CHƯƠNG 3  
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  
SỬ DỤNG VẠCH SƠN TRONG TỔ CHỨC GIAO THÔNG  
ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN  
3.1. CÁC CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP  
3.1.1. Cơ sở lý thuyết  
Từ những khiếm khuyết cơ bản về hệ thống vạch sơn trên địa  
bàn thành phố Quy Nhơn đã nêu ở mục 2.2, trong chương này sẽ trình  
bày một số giải pháp bằng việc áp dụng kinh nghiệm ở một số nước trên  
thế giới mà đã phát huy hiệu quả để khắc phục một số khiếm khuyết đó.  
- Các tiêu chuẩn, quy chuẩn trong nước  
- Các chỉ dẫn, tiêu chuẩn nước ngoài  
3.1.2. Cơ sở thực tế  
Hệ thống các vạch sơn trên phần xe chạy của đường phố, đây là  
biện pháp điều chỉnh giao thông đơn giản nhưng mang lại hiệu quả cao.  
Trong dòng xe chuyển động liên tục, hệ thống sơn phân làn, chỉ dẫn  
hướng đường… đã thông tin một cách rõ ràng, tức thời, với một mức độ  
tin cậy cao, bởi người lái xe luôn phải chú ý nhìn xuống mặt đường  
trong suốt quá trình điều khiển xe chạy. Sử dụng vạch sơn đề “thông tin  
trùng lặp” thông báo cho người lái xe ngay trên mặt đường cho ta hiệu  
quả rõ rệt về tăng độ an toàn giao thông mà chi phí không quá tốn kém.  
Theo số liệu của Mỹ, nếu sơn vạch các mép đường sẽ giảm  
được hai lần số lái xe trượt ra lề do thiếu chú ý, theo số liệu của Liên  
Xô (cũ) thì nhờ sơn vạch đường 3 làn xe mà dòng xe tăng được tốc  
độ 10-15% và bề dày vạch sơn là 10cm là đủ.  
Ở nước ta, việc sơn vạch trên các đường phố tại các nút giao  
thông lớn để phân làn, vạch hướng cho xe chạy, sơn kẻ dành cho  
12  
người đi bộ và cho các đảo mềm đã được thực hiện hầu hết ở các  
thành phố lớn và nhiều đô thị trong cả nước. Việc phân loại, bề dày,  
màu sắc, … của sơn vạch cũng đều được tuân theo quy định của Bộ  
Giao thông Vận tải.  
Các tín hiệu giao thông được sơn vạch trên mặt đường kể cả  
các sơn vạch theo chiều đứng ở dãi phân cách, cọc tiêu hàng rào bao  
gồm các loại đường kẻ (nét liền hoặc nét đứt), mũi tên chỉ hướng xe  
chạy trên mỗi làn, hình vẽ trên mặt đường… đều nhằm mục đích  
cung cấp cũng như giải thích ý nghĩa hoặc hướng dẫn lưu thông cho  
các loại phương tiện tham gia giao thông trên đường phố.  
3.1.3. Các đặc trưng dòng xe trên các tuyến đường trên địa  
bàn thành phố Quy Nhơn  
a. Khái niệm về dòng xe  
b. Đặc điểm dòng xe trên các tuyến đường nội thị ở Quy  
Nhơn  
Một đặc thù giao thông tại Quy Nhơn cũng như các thành phố  
khác trong cả nước là phương tiện giao thông bằng xe gắn máy  
chiếm tỷ lệ lớn, cả nước ta có khoảng 26 triệu xe gắn máy, thì thành  
phố Quy Nhơn có khoảng 72.500 xe gắn máy (dân số khoảng  
281.100 người). Ngoài các phương tiện giao thông cơ giới là xe con,  
xe tải, xe buýt, còn có các dạng phương tiện cơ giới tự chế khác lưu  
thông trong thành phố như: Xích lô máy, xe ba gác máy, xe ba bánh  
(xe lam), và các phương tiện giao thông thô sơ như: xe đạp, xích lô,  
xe ba gác kéo. Hiện nay thành phố Quy Nhơn có khoảng 500 xe xích  
lô, ba gác và gần 11 ngàn xe đạp và xe đạp điện.  
3.2. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ  
VẠCH SƠN TRONG TỔ CHỨC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ  
3.2.1. Nhóm giải pháp vạch sơn trên tuyến  
13  
a. Nhóm giải pháp vạch sơn hạn chế tốc độ  
+ Vạch sơn giảm tốc  
+ Vạch sơn gồ  
b. Nhóm giải pháp về vạch sơn cho người đi bộ  
+ Vạch sơn người đi bộ qua đường trên tuyến có dãi phân  
cách  
+ Vạch sơn người đi bộ qua đường kết hợp đảo giao thông  
trên tuyến không có dãi phân cách.  
c. Giải pháp vạch đứng  
+ Vạch đứng tại các khúc cua  
+ Vạch đứng trên hàng vỉa  
d. Vạch dọc đường  
+ Vạch liền nét loại 1: Vạch liền nét màu trắng, rộng 10cm,  
phân chia 2 dòng phương tiện ngược chiều, vạch được kẻ ở các khúc  
cua, xe không được phép đè lên vạch.  
+ Vạch liền nét loại 2: Vạch liền nét màu trắng, rộng 20cm,  
phân chia 2 dòng phương tiện cơ giới và thô sơ cùng chiều, xe được  
phép đè lên vạch trong trường hợp cần thiết.  
+ Vạch kép loại 1: Hai vạch liên tục màu trắng có chiều rộng  
bằng nhau và bằng 10cm cách nhau là 10cm tính từ 2 mép vạch kề  
nhau, phân chia 2 dòng phương tiện giao thông đi ngược chiều nhau  
trên những đường có từ 4 làn xe trở lên, xe không được đè lên vạch.  
+ Vạch kép loại 2: Vạch kép (một vạch liền, một vạch đứt  
quãng) song song màu trắng, chiều rộng bằng nhau bằng 10cm, hai  
mép liên tiếp cách nhau 10cm, để phân chia dòng phương tiện 2  
14  
hướng ngược chiều nhau trên các đường có 2 hoặc 3 làn xe chạy. Lái  
xe bên vạch đứt quảng được phép đè lên vạch để vượt xe.  
+ Vạch đứt nét: Vạch đứt quãng màu trắng, rộng 10cm. Phân  
chia 2 dòng phương tiện giao thông đi ngược chiều nhau trên những  
đường có 2 hoặc 3 làn xe chạy hoặc xác định danh giới làn xe khi có  
từ 2 làn xe trở lên chạy theo một chiều.  
+ Vạch mép ngoài làn xe: Vạch giới hạn ngoài các làn xe là  
đường liền màu trắng, dùng để chia ranh giới phần xe chạy với lề  
đường hoặc đường thô sơ, đường người đi bộ hoặc dải phân cách giữa.  
3.2.2. Nhóm giải pháp vạch sơn trong phạm vi một số nút  
giao  
a. Vạch sơn tại nút ngã tư  
+ Nút giao loại 1: Nút giao ngã tư giữa đường trục chính 4 làn  
xe với đường nhánh 2 làn xe không có đèn tín hiệu.  
+ Nút giao loại 2: Nút giao ngã tư giữa đường trục chính 4 làn  
xe với đường nhánh 2 làn xe có đèn tín hiệu, có bố trí đảo phân làn  
ưu tiên chi xe rẽ phải, có làn chờ rẽ trái.  
+ Nút giao ngã tư giữa đường trục chính 4 làn xe với đường  
nhánh 2 làn xe, tuyến nhánh bố trí vạch dừng kết hợp biển báo  
“STOP”.  
b. Vạch sơn tại nút giao ngã 3 (chữ T)  
+ Nút giao loại 1: Nút giao ngã 3 giữa đường trục chính 4 làn  
xe và đường nhánh 2 làn xe, tuyến nhánh có bố trí vạch dừng kết hợp  
biển báo “STOP”. Tại các điểm đầu đảo phân cách có bố trí vạch  
đứng vàng đen xen kẽ.  
15  
+ Nút giao loại 2: Nút giao chữ T giữa đường nhánh và đường  
trục chính, trên đường nhánh có bố trí vạch dừng kết hợp biển báo  
“STOP”.  
c. Một số vạch sơn khác  
+ Vạch sơn người đi bộ qua đường kết hợp đảo tam giác tại  
nút giao thông cùng mức.  
+ Sơn phân làn trong nút giao thông kết hợp đảo nổi  
+ Vạch đứng trên bó vỉa đảo giao thông.  
CHƯƠNG 4  
VÍ DỤ ỨNG DỤNG THIẾT KẾ VẠCH SƠN KẾT HỢP  
BIỂN BÁO HIỆU CHO ĐƯỜNG NGUYỄN TẤT THÀNH,  
ĐOẠN QUA QUẢNG TRƯỜNG TRUNG TÂM  
THÀNH PHỐ QUY NHƠN  
4.1. GIỚI THIỆU VỀ ĐOẠN TUYẾN THIẾT KẾ  
4.1.1. Chức năng đường bộ  
Đoạn tuyến nghiên cứu có chiều dài 1,3km, điểm đầu tại nút  
giao với đường Nguyễn Thái Học – Lý Thường Kiệt, điểm cuối tại  
nút giao An Dương Vương – Nguyễn Huệ. Tuyến đường đi qua khu  
vực trung tâm của thành phố Quy Nhơn, có vai trò rất quan trọng  
trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Bình Định nói chung và  
thành phố Quy Nhơn nói riêng, nó là xương sống của đô thị Quy  
Nhơn.  
Quy mô mặt cắt ngang B = 7,0 (m) + 12,25 (m) + 6,5 (m) +  
12,25 (m) + 10,0 (m) = 48,0 (m), được đầu tư xây dựng năm 1996  
trên nền sân bay Quy Nhơn, được đầu tư cải tạo mặt đường vào năm  
2004 và năm 2014. Năm 2014 được đầu tư xây dựng lại bó vỉa, vỉa  
16  
hè bằng đá granite và thảm lại toàn bộ mặt đường bằng nguồn vốn  
kết dư của dự án Vệ sinh môi trường giai đoạn 2.  
Hình 4.1 Tuyến Nguyễn Tất Thành  
4.1.2. Đặc điểm tuyến  
- Đặc điểm: Trên đoạn tuyến khảo sát có một Trung Tâm Hội  
chợ triển lãm, một Siêu thị, một số nhà làm việc làm việc của các cơ  
quan….  
- Tình hình giao thông: kết quả đếm xe vào ngày 06/5/2015  
trước siêu thị Co.opmart Quy Nhơn như sau:  
Bảng 4.1. Kết quả đếm xe trên tuyến Nguyễn Tất Thành  
Tải  
nhẹ + trung  
buýt + buýt nặng  
Tải  
Xe  
thô  
sơ  
Loại xe  
Xe  
Xe  
Tải  
Xe  
Tổng  
máy con  
moóc  
nhỏ  
lớn  
Giờ đếm  
(xe) (xe) (xe)  
(xe)  
(xe)  
(xe)  
0
(xe)  
0
(xcqđ)  
154  
6h30 - 6h45  
6h45 - 7h00  
7h00 - 7h15  
7h15 - 7h30  
23  
26  
28  
34  
741  
785  
767  
767  
23  
28  
22  
21  
5
6
8
7
1
0
1
0
0
166  
0
0
165  
160  
Xe con quy  
645  
đổi /giờ:  
17  
4.1.3. Tiêu chuẩn đường bộ  
4.1.4. Kết quả khảo sát đoạn tuyến  
Bảng 4.2. Kết quả khảo sát tuyến đoạn tuyến Nguyễn Tất Thành  
Chiều dài  
1,3km  
kiểm tra  
Quy định về  
tốc độ hiện  
hành  
Tốc độ không quá 40km/h  
1. Chức năng  
của đường  
2. Mặt cắt  
ngang  
Đường đại lộ  
Chức năng hỗn hợp  
B = 7,0 (m) + 12,25 (m) + 6,5 (m) + 12,25 (m) + 10,0  
(m) = 48,0 (m), có 4 làn xe cơ giới và 2 làn xe thô sơ.  
Đoạn tuyến khảo sát là đường thẳng không có đường  
cong nào (tuyến được xây dựng trên cơ sở đường băng  
cất/hạ cánh của sân bay Quy Nhơn cũ)  
3. Tuyến  
Hình 4.4. Hình dạng tuyến  
Trên tuyến có 03 nút giao hình xuyến đó là nút giao với  
đường Nguyễn Thái Học – Lý Thường Kiệt (điểm đầu đoạn  
khảo sát), nút giao với đường An Dương Vương – Nguyễn  
Huệ (điểm cuối đoạn khảo sát) và nút giao với đường  
Trường Chinh còn lại đều là nút giao đơn giản ngã 3 hoặc  
ngã tư có hoặc không có đèn tín hiệu. Có 02 nút ngã tư là  
nút giao với đường Mai Xuân Thưởng và nút giao với  
5. Nút giao  
18  
đường Hoàng Diệu – Trần Thị Kỷ, 03 nút ngã 3 là nút giao  
với đường Nguyễn Lương Bằng, nút giao với đường Chu  
Văn An và nút giao với đường Vũ Bảo.  
- Các nút giao chưa được thiết kế mở rộng, bố trí đảo  
trên đường phụ.  
- Nút giao với đường Hoàng Diệu – Trần Thị Kỷ có bố  
trí đèn tín hiệu.  
Trên đoạn tuyến có 01 Trung Tâm Hội chợ triển lãm,  
một Siêu thị, một số nhà làm việc làm việc của các cơ  
quan, điểm dừng xe buýt.  
Tại các điểm dừng xe buýt không có vạch sơn phần  
đường dành cho người đi bộ, không có vạch sơn quy  
định vị trí dừng xe buýt.  
6. Các công  
trình công  
cộng dọc  
tuyến  
Hình 4.5. Một điểm dừng xe buýt không có vạch sơn quy  
định vị trí dừng xe buýt  
- Hệ thống biển báo được bố trí đầy đủ, tuy nhiên một số  
biển báo bị che khuất bởi cây xanh.  
7. Sơn kẻ  
đường và biển  
báo  
Hình 4.6. Biển báo tại nút giao với đường Nguyễn Thái  
Học – Lý Thường Kiệt  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 18980 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nâng cao giải pháp sử dụng vạch sơn trong tổ chức giao thông mạng lưới đường bộ thành phố Quy Nhơn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nang_cao_giai_phap_su_dung_vach_son_trong_t.pdf