Tóm tắt Luận án Quản trị công cấp tỉnh đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
------o0o-------  
ĐỖ XUÂN BÁCH  
QUẢN TRỊ CÔNG CẤP TỈNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG  
KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA  
TẠI VIỆT NAM  
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị  
Mã số: 9310102.01  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ  
HÀ NỘI – 2020  
Công trình được hoàn thành tại:  
Trường đại học Kinh tế –Đại học Quốc gia Hà Nội  
Người hướng dẫn khoa học:  
1. PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh  
2. PGS.TS Nguyễn Trúc Lê  
Phản biện: 1. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
Phản biện: 2. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ họp tại:  
Trường Đại học Kinh tế, Đại Học Quốc Gia Hà Nội  
Vào hồi ... giờ ...., ngày .... tháng .... năm 2020  
Có thể tìm hiểu luận án tại:  
- Thư viện Quốc gia Việt Nam  
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội  
LỜI MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Tầm quan trọng của chất lượng thể chế và quản trị công trong đời sống kinh tế  
hiện đại đã được khẳng định(North 1986, 1993). Chất lượng quản trị công dẫn đến sự  
khác biệt về chi phí giao dịch giữa các nền kinh tế, và là một nhân tố quan trọng ảnh  
hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau (Olson,  
1996; Acemoglu et al., 2005Dollar, Hallward-Driemier, & Mengistae, 2005; Lu, Png,  
& Tao, 2013). Chất lượng quản trị công có xu hướng tương đối cao ở các nước phát  
triển, trong khi đó tại các nước đang phát triển chất lượng quản trị công được đặc  
trưng bởi mức độ tham nhũng cao, môi trường pháp lý méo mó và trình độ hạn chế  
của chính quyền địa phương trong quản lý kinh tế-xã hộiThêm nữa, quản trị công yếu  
kém có thể xuất phát từ cơ sở hạ tầng thể chế không đầy đủ như quyền tài sản được  
quy định kém và hệ thống pháp luật kém hiệu quả (Li và Atuahene-Gima, 2001; Nee,  
1992; North, 1990), các khoảng trống thể chế như thị trường lao động và thị trường  
vốn kém phát triển (Khanna và Palepu, 1997), hoặc tính nhạy cảm về quản trị công  
như các yêu cầu pháp lý quá mức và những yêu cầu hối lộ (Luo và Junkunc, 2008;  
Tybout, 2000). Tất cả những yếu tố này góp phần làm suy yếu hoạt động kinh doanh  
của các doanh nghiệp ở các quốc gia đang phát triển. Khi chính phủ rất quan liêu và  
tham nhũng, lợi nhuận từ các khoản đầu tư tiềm năng của các doanh nghiệp sẽ thấp  
và không chắc chắn, và các doanh nghiệp sẽ không mong đợi sự tích lũy và tăng  
trưởng nhiều trong các môi trường này (Dollar et al., 2005). Cụ thể, các quy định, bộ  
máy quan liêu và chất lượng quản trị công yếu kém sẽ làm gia tăng chi phí giao dịch  
và giảm nguồn lực cho sản xuất và do đó kìm hãm hiệu suất hoạt động kinh doanh  
các doanh nghiệp (Qureshi & Te Velde, 2012).  
Thêm nữa, chất lượng hoặc hiệu quả quản trị công kém được coi là nguyên  
nhân chính của việc thu thuế kém ở các nước đang phát triển (Chand và Moene,  
1997; Ghura, 1998). Một số nghiên cứu chỉ ra tham nhũng gây thiệt hại hơn 50%  
doanh thu thuế ở các nước đang phát triển (Richupan, 1984; Alm và đồng sự, 1991;  
Bird, 1990 và 1992; Krugman et al., 1992). Hành vi của người nộp thuế cũng phụ  
1
thuộc vào các quy định của chất lượng quản trị công (Torgler, 2003). Trên thực tế,  
chất lượng quản trị công đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng  
kinh tế, tác động đến các hoạt động kinh tế và phân bổ nguồn lực (Efendic et al.,  
2011).  
Ảnh hưởng của quản trị công ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh  
nghiệp cũng được đánh giá thông qua tác động phái sinh như lợi ích của người lao  
động trong các doanh nghiệp. Các tổ chức địa phương hoặc chính quyền quan liêu có  
thể ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động qua khía cạnh quan hệ cung cầu trên  
thị trường lao động. Môi trường kinh doanh địa phương, nghĩa là cạnh tranh cục bộ,  
có thể ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp liên quan đến đầu tư và nơi bắt  
đầu kinh doanh. Một môi trường kinh doanh tốt hơn sẽ thu hút nhiều doanh nghiệp  
đầu tư vào các lĩnh vực nhất định và do đó nhu cầu lao động sẽ tăng lên. Cạnh tranh  
kinh doanh khốc liệt hơn đòi hỏi các doanh nghiệp phải giảm chi phí và tận dụng  
công nghệ tiên tiến và đổi mới bằng cách sử dụng lực lượng lao động có tay nghề cao  
hơn. Cạnh tranh thị trường lớn hơn dẫn đến thu nhập của lao động cao hơn khi các  
doanh nghiệp tìm kiếm người lao động năng suất cao hơn để cải thiện hiệu quả sản  
xuất. Cạnh tranh mạnh mẽ hơn cho công nhân năng suất cao hơn dẫn đến mức lương  
cao hơn. Nếu thị trường lao độnghoàn toàn cạnh tranh, các doanh nghiệp trả tiền  
lương theo thị trường (Nickell 1999). Khi đó người lao động sẽ được trả lương cao  
hơn, do doanh nghiệp có nhu cầu cao hơn về kỹ năng của họ (Griffith, Harrison và  
McCartney 2007, Guadalupe 2007).  
Quản trị công cũng ảnh hưởng tới các khía cạnh môi trường trong hoạt động  
kinh doanh của doanh nghiệp ( ví dụ: các pháp luậ,t quy định và hiệu lực thực thi về  
môi trường)Khi chất lượng quản trị công yếu sẽ làm gia tăng hoạt độngkinh tế ngầm  
của doanh nghiệp, và sự gia tăng hoạt động kinh tế ngầm khiến sẽ làm cho vấn đề ô  
nhiễm trầm trọng hơn, gây ra các tác động ngoại ứng tiêu cực (Baksi và Bose, 2010).  
Các doanh nghiệp ngầm thoát khỏi sự giám sát bằng hoạt động bên ngoài các kênh  
chính thức thông qua các hoạt động không có được giấy phép hoặc các giấy phép cần  
thiết. Ngoài ra, họ không báo cáo hoạt động của họ. Do đó, lượng khí thải được ghi  
nhận cho các doanh nghiệp này sẽ giảm khi họ chuyển từ khu vực chính thức sang  
2
khu vực không chính thức. Thêm nữa, cũng có thể xảy ra trường hợp trong một nền  
kinh tế ngầm đang phát triển, một số nhà hoạt động hợp pháp bị cám dỗ hoạt động  
ngầm một phần hoặc toàn bộ bởi vì họ thấy các cơ hội hành động pháp lý giảm bớt  
đối với một khu vực ngầm là lớn. Nói cách khác, sự hiện diện của một nền kinh tế  
ngầm thúc đẩy sự thay thế khí thải từ chính thức sang không chính thức.  
Việt Nam đã chuyển đổi từ mọt nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đặc trưng bởi sự  
quan liêu và cứng nhắc sang một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa  
với những cải cách ngày càng thuận hơn cho các hoạt động kinh doanh của doanh  
nghiệp (Santarelli và Tran, 2012, 2013; Tran và Santarelli, 2014). Theo một số  
nghiên cứu trước đây (ví dụ: Malesky, 2004, 2008, Tuyến và cộng sự (2018), các tỉnh  
ở Việt Nam có rất nhiều sự khác biệt trong văn hóa kinh doanh và mức độ phát triển  
kinh tế. Họ có quyền tự chủ thực hiện hoặc thực thi chính sách và các quy định theo ý  
riêng ngay cả khi chính phủ đã có luật lệ hay quy định chung cho tất cả các tỉnh  
thành. Trong thực tế, các tỉnh thực thi pháp luật và chính sách của chính phủ theo  
những cách khác nhau (Malesky, 2004, 2008). Luật pháp tại Việt Nam thường chưa  
rõ ràng và có thể được diễn giải theo nhiều cách khác nhau. Hơn nữa, chất lượng  
quản trị công của các tỉnh khá khác nhau. Ví dụ, một số tỉnh đã có những tiến bộ  
đáng kể trong quản trị công trong khi các tỉnh khác tụt hậu phía sau và rất quan liêu  
(Malesky, 2007, 2014). Điều đó hàm ý rằng sự khác biệt về chất lượng quản trị công  
cấp tỉnh sẽ có những tác động trực tiếp và tác động trung gian tới hoạt động kinh  
doanh của doanh nghiệp.  
Vai trò của quản trị công đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đã được nghiên  
cứu ở các mức độ khác nhau. Tuy thế, các kết quả nghiên cứu lại không thống nhất.  
Ví dụ, Méon và Weill (2010) đã phân tích một mẫu nghiên cứu của 69 quốc gia và  
thấy rằng chất lượng quản trị công có cả tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả  
doanh nghiệp. Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về tác động của tham nhũng  
đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp (ví dụ, Tuyen và cộng sự (2018)). Tuy nhiên,  
nghiên cứu này duy nhất xem xét một khía cạnh về quản trị công với hiệu quả kinh  
doanh của doanh nghiệp. Thêm nữa, các nghiên cứu này dựa trên một mẫu cụ thể về  
3
doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân trong lĩnh vực chế tạo, và vì vậy làm cho kết quả  
không thể khái quát hóa cho toàn bộ doanh nghiệp, cũng như các khía cạnh tác động  
khác nhau của quản trị công tới hoạt động doanh nghiệp như lợi ích của người lao  
động, doanh thu thuế và chất lượng môi trường. Quan trọng hơn, cho đến nay chưa có  
nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của chất lượng quản trị công đến hoạt động của doanh  
nghiệp dưới góc độ kinh tế chinh trị. Đó là các khía cạnh về ích lợi của nhà nước,  
người lao động và môi trường trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh  
nghiệp. Những vấn đề nêu trên đã thúc đẩy nghiên cứu sinh lựa chọn chủ đề: “Quản  
trị công cấp tỉnh đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa  
tại Việt Nam” làm luận án tiến sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị.  
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu  
2.1. Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu nghiên cứu luận án là phân tíchảnh hưởng của chất lượng quản trị  
công cấp tỉnh tới các khía cạnh hoạt động của DNNVV tư nhân ( đối với hiệu quả  
hoạt động, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nhà nước, xã hội, và môi trường) ở  
ViệtNam.. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị giúp các nhà chính  
sách, doanh nghiệp, các nhà đầu tư đưa ra được các chính sách phù hợp nhằm nâng  
cao chất lượng quản trị công và hiệu quả hoạt động của DNNVV tư nhân trong bối  
cảnh hội nhập.  
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Để đạt được mục tiêu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:  
a. Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và xây dựng khung phân tích vềảnh hưởng của  
chất lượng quản trị công cấp tỉnh đến hoạt động của doanh nghiệp với các khía cạnh  
khác nhau như hiệu quả hoạt động của DNNVVN; việc làm của người lao động trong  
doanh nghiệp, nghĩa vụ nộp thuế và trách nhiệm môi trường  
b. Phân tích tác động của chất lượng quản trị cộng cấp tỉnh đến hiệu quả hoạt  
động kinh doanh của các DNNVV.  
c. Phân tích tác động của quản trị cộng cấp tỉnh đến trách nhiệm của các  
DNNVV đối các bên như: với nhà nước ( nộp thuế, phí), người lao động ( tiền lương,  
điều kiện làm việc,..) và môi trường ( tuân thủ các quy định môi trường,..)  
4
d. Đề xuất một số kiến nghị cho nhà chính sách, nhà đầu tư nhằm đưa ra được  
các chính sách nhằm nâng cao năng lực tài chính của các DNNVV, hoàn thiện chất  
lượng quản trị công để qua đó góp phần hài hòa lợi ích các bên trong nền kinh tế thị  
trường định hường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.  
3. Câu hỏi nghiên cứu  
Để đạt được mục tiêu của luận án, nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi chính như sau:  
Thực trạng hiệu quả hoạt động của các DNNVV tại Việt Nam hiện nay như  
thế nào?  
Thực trạng chất lượng quản trị công giữa các tỉnh ra sao?  
Chất lượng quản trị công giữa các tỉnh có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả  
tài chính và hiệu quả kỹ thuật của DNNVV?  
Chất lượng quản trị công giữa các tỉnh có ảnh hưởng như thế nào đến việc  
đóng thuế (trách nhiệm của DNNVV đối với nhà nước)?  
Chất lượng quản trị công giữa các tỉnh có ảnh hưởng như thế nào đến việc bảo  
vệ môi trường và lợi ích của người lao động?  
Các nhà chính sách cần làm gì để đưa ra chính sách nâng cao chất lượng quản  
trị công cấp tỉnh và hiệu quả hoạt động của các DNNVV?  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động của quản trị công cấp tỉnh đến  
hoạt động của các DNNVV, được đo lường ở các khía cạnh khác nhau như hiệu quả  
doanh nghiệp, lợi ích của người lao động, nghĩa vụ nộp thuế và phí, trách nhiệm môi  
trường của DNNVV ở Việt Nam.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
Phạm vi không gian: Luận án tập trung xem xét toàn bộ các DNNVV trên toàn  
quốc  
Phạm vi thời gian: nghiên cứu sử dụng dữ liệu của DNNVV từ năm 2016-2018.  
Phạm vi nội dung: nghiên cứu tập trung vào xem xét vai trò của chất lượng  
môi trường quản trị công cấp tỉnh đến vận hành và các khía cạnh hoạt động của  
DNNVV.  
5
5. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích định tính, thống kê mô tả và các  
mô hình kinh tế lượng vi mô như mô hình ước lượng đối với dữ liệu gôp, mảng để  
kiểm soát các yếu tố không quan sát được trong mô hình nhằm phân tích ảnh hưởng  
của chất lượng quản trị công cấp tỉnh đến các khía cạnh hoạt động của DNNVV. Chi  
tiết về dữ liệu và phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày chi tiết ở chương 3  
6. Những đóng góp mới của luận án  
6.1. Về mặt lý luận  
Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và xây dựng khung phân tích về ảnh hưởng của  
chất lượng quản trị công cấp tỉnh đến các khía cạnh hoạt động của DNNVV;  
Đề xuất mô hình đánh giá tác động của chất lượng quản trị công và các  
thành tố của nóđến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNVV và trách  
nhiệm của doanh nghiệp đối với nhà nước, xã hội, môi trường và người lao động.  
6.2. Về mặt thực tiễn  
Kết quả nghiên cứu giúp xác định được tác động của chất lượng quản trị công  
cấp tỉnh đến các khía cạnh hoạt động của DNNVV.  
Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng sẽ cung cấp những bằng chứng thực nghiệm  
đầu tiên cho các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà làm chính sách xác định ra  
được những nhân tố và vùng ưu tiên để từ đó có thể cải thiện chất lượng quản trị công  
và hiệu quả hoạt động của DNNVV; từ đó góp phần hài hòa lợi ích các bên trong quá  
trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và điều hành kinh tế của nhà nước.  
Đưa ra một số hàm ý cho nhà làm chính sách và DNNVV  
7. Kết cấu của luận án  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án  
được bố cục gồm 05 chương. Các đầu mục chi tiết của của các Chương như sau:  
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế về nâng  
cao chất lượng quản trị công  
Chương 2: Cơ sở lý luận về và khung phân tích về ảnh hưởng của chất lượng  
quản trị công cấp tỉnh đến các khía cạnh hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa  
6
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
Chương 4: Thực trạng tác động của quản trị công cấp tỉnh đối với hoạt động  
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa  
Chương 5: Một số giải pháp hoàn thiện chất lượng quản trị công cấp tỉnh ở  
Việt Nam.  
7
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ KINH NGHIỆM  
QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ CÔNG  
1.1. Tổng quan nghiên cứu  
1.1.1. Các nghiên cứu ngoài Việt Nam  
Quản trị công là một nhân tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế dài hạn với  
mọi quốc gia. Tác động của quản trị công đối với tăng trưởng kinh tế không được đề  
cập trong lý thuyết tân cổ về tăng trưởng, nhưng chất lượng quản trị công đã trở  
thành một thành phần quan trọng của kinh tế tăng trưởng với sự xuất hiện của các lý  
thuyết tăng trưởng nội sinh vào cuối những năm 1980 (Bayar, 2016). Sự xuất hiện  
của các lý thuyết tăng trưởng nội sinh mới đã định hướng các học giả xác địnhcác  
nguồn lực thay thế cho tăng trưởng kinh tế và xác định xem đâu là các rào cản khác  
nhau giữa các quốc gia đối với sự phát triển kinh tế. Về vấn đề này, tác động của chất  
lượng của quản trị công với tăng trưởng kinh tế đã đượcnghiên cứu về mặt lý thuyết  
cũng như thực tiễn.  
1.1.2. Các nghiên cứu về Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á  
Dựa trên quan điểm lý thuyết, các nhà kinh tế học thể chế mới (new  
institutional economics) chỉ ra rằng quản trị công tốt giúp giảm chi phí giao dịch  
(transaction costs theory) của các hoạt động kinh tế, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế  
(Krueger, 1974; North D. C., 1994; North D. C., 1995; Williamson, 1985). Các nhà  
kinh tế học trường phái Keyne mới cho rằng khuôn khổ luật pháp minh bạch và chính  
sách thuế rõ ràng sẽ giúp cho thị trường vận hành hiệu quả (Stiglitz, 2002). Gần đây,  
Brinkerhoff (2008) lập luận rằng nâng cao chất lượng quản trị công ở cấp độ quốc gia  
(national level) hay cấp quốc tế (international level) là nhân tố quan trọng cho sự phát  
triển của các nước nghèo.  
1.2. Kinh nghiệm quốc tế về nâng cao chất lượng quản trị công  
Trước hết, một trong những quan điểm phổ biến được thảo luận liên quan đến  
vấn đề quản trị công là tự do hóa nền kinh tế. Theo các quan điểm phương Tây, đa  
phần cho rằng việc can thiệp sâu rộng của chính phủ, đặc biệt là các kế hoạch chiến  
lược dài hạn của chính phủ tác động vào nền kinh tế, như kế hoạch 5 năm cho phát  
8
triển bền vững hoặc kế hoạch 10 năm phát triển xanh kinh tế xã hội có thể được xem  
là hạn chế sự phát triển kinh tế. Theo đó, thương mại tự do, cạnh tranh bình đẳng  
được xem là yếu tố chính để thúc đẩy phát triển kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn.  
Tuy nhiên, thực tế, trong giai đoạn đầu của sự phát triển, các quốc gia phát triển như  
Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Hàn Quốc,… cũng sử dụng nhiều các biện pháp can thiệp nhằm  
giành nhiều lợi thế trong trao đổi quốc tế. Đó là các chính sách bảo trợ, thuế và phi  
thuế nhằm bảo hộ cho các nền công nghiệp, các chính sách can thiệp hoặc kế hoạch  
phát triển dài hạn có tác động lớn tới sự phát triển của các quốc gia này. Do đó,  
nghiên cứu sẽ học hỏi chất lượng quản trị công từ các quốc gia có nhiều nét tương  
đồng trong phát triển và được ghi nhận là thành công trong chất lượng quản trị công:  
Hàn Quốc, Singapore và Trung Quốc thay vì các chính sách theo hướng tự do và mở  
cửa hoàn toàn.  
1.2.1. Kinh nghiệm quản trị công từ Singapore  
Thứ nhất, cải cách chất lượng dịch vụ công phải dựa trên bối cảnh lịch sự cụ thể.  
Thứ hai, nâng cao sự tham gia của người dân, minh bạch thông tin, tiêu chuẩn  
quản lý và tạo động lực cạnh tranh phát triển trong điều hành dịch vụ công.  
Thứ ba, tiến hành từng bước tái cơ cấu các cơ sở công nhằm nâng cao chất  
lượng quản trị và hạn chế thâm hụt ngân sách.  
Thứ tư, liên tục thích ứng với bối cảnh mới đặc biệt là toàn cầu hóa  
Thứ năm, liên kết các cơ quan quản trị dịch vụ công và xây dựng hệ thống quản  
trị chặt chẽ.  
Thứ sáu, Singapore chú trọng vào hạn chế tham nhũng và xây dựng chính phủ  
bền vững.  
1.2.2. Kinh nghiệm quản trị công từ Trung Quốc  
Trung Quốc đã tiến hành đại hội đảng 19 với nhiều những chuyển biến trong  
chính sách trong suốt nhiệm kỳ đầu của Tập Cận Bình đến nay. Một số các dấu ấn rõ  
nét: Các sáng kiến quan trọng như Vành đai, Con đường (BRI), chiến dịch chống  
tham nhũng, hoạch định lộ trình và phương hướng cải cách Hội nghị trung ương 3  
khóa 18 đều do ông Tập Cận Bình trực tiếp chỉ đạo; nâng cao tính tập quyền của hệ  
thống chính trị Trung Quốc… Thực tế, hệ thống quản trị công của Trung Quốc có  
9
nhiều nét tương đồng tại Việt Nam và trong khi kinh nghiệm quản trị công của  
Singapore mang tính dân chủ cao hơn và đòi hỏi sự theo đuổi dài hạn thì kinh nghiệm  
quản trị công của Trung Quốc có tính thực tiễn hơn trong bối cảnh Việt Nam hiện tại.  
Thứ nhất, kiểm soát tham nhũng.  
Thứ hai, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.  
1.2.3. Kinh nghiệm quản trị công từ Hàn Quốc  
Thứ nhất, Chiến lược quản trị gắn liền với tăng trưởng xanh.  
Chiến lược tăng trưởng xanh của Hàn Quốc được Tổng thống Lee Myung – bak  
công bố vào ngày 15 tháng 8 năm 2008. Đây là một chiến lược tổng thể về kinh tế -  
môi trường – xã hội nhằm tạo sự gắn kết giữa tăng trưởng và bảo vệ môi trường.  
Thứ hai, nâng cao chất lượng quản trị công Hàn Quốc thông qua các biện  
pháp quản trị cụ thể sau:  
(i) Nâng cao sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống quản trị. Hàn Quốc cho rằng,  
nâng cao hiệu quả quản trị công cần nâng cao sự tham gia của phụ nữ vào cơ quan nhà  
nước. Điều này vừa phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế toàn cầu hóa vừa đóng góp  
cho mục đích phát triển văn hóa – xã hội toàn dân.  
Kết luận  
Như vậy, từ kinh nghiệm quản trị công của 3 quốc gia Trung Quốc, Hàn Quốc,  
Singapore ứng với sự phát triển hiện tại của Việt Nam, nghiên cứu sinh nhận thấy  
một số vấn đề quan trọng Việt Nam nên tham khảo:  
10  
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG VÀ HIỆU QUẢ  
DOANH NGHIỆP  
2.1. Một số vấn đề chung về quản trị công  
2.1.1. Khu vực công  
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khu vực công. Thuật ngữ khu vực công  
“public sector” thường hiểu đồng nghĩa với khu vực nhà nước “state sector”.  
Theo nghĩa đó, thì khu vực nhà nước là khu vực hoạt động mà nhà nước giữ vai  
trò quyết định. Thuật ngữ này được dùng để phân biệt với khu vực tư nhân, là  
khu vực hoạt động do tư nhân quyết định (Bùi & Nguyễn, 2013).  
2.1.2. Quản trị công  
Quản trị (governance) là một khái niệm rất rộng, và hoạt động quản trị được hiểu  
ở mọi cấp độ, từ hộ gia đình, làng xã, cộng đồng, vùng miền, quốc gia và toàn cầu (G  
Nzongola-Ntalaja, 2002). Từ sự đa dạng về truyền thống và văn hóa mỗi quốc gia vùng  
miền, các định nghĩa về quản trị trong các tài liệu nghiên cứu cho thấy quản trị được chia  
thành ba loại: quản trị công (public governance); quản trị kinh tế (economic governance)  
và quản trị xã hội (social governance) (Georges Nzongola-Ntalaja, 2003).  
Luận án này sử dụng khái niệm quản trị công hay quản trị nhà nước của UNDP  
(1997, p 2) như sau: “Quản trị công có thể được xem như là việc thực thi thẩm quyền  
về kinh tế, chính trị và hành chính của nhà nước để quản lý công việc của một quốc  
gia ở mọi cấp độ. Nó bao gồm các cơ chế, quy trình và thể chế thông qua đó các  
công dân và các nhóm biểu đạt lợi ích của họ, thực hiện các quyền hợp pháp của họ,  
đáp ứng các nghĩa vụ của họ và hòa giải sự khác biệt của họ”.  
2.1.3. Chất lượng quản trị công  
Quản trị công có vai trò quan trọng với sự phát triển kinh tế xã hội của mọi  
quốc gia (WB, 1992). Vì lẽ đó, việc hiểu và đo lường chất lượng quản trị công có ý  
nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu (Löffler & Bovaird,  
2004). Theo (UNDP, 1997), quản trị công tốt bao gồm nhiều yếu tố nhau, trong đó  
cần có sự tham gia của người dân, tính minh bạch và có trách nhiệm giải trình. Quản  
trị công tốt phải đảm bảo tính hiệu quả và công bằng và quản trị công tốt phải khuyến  
khích sự thượng tôn pháp luật ( nhà nước pháp quyền). Quản trị tốt đảm bảo rằng các  
ưu tiên chính trị, xã hội và kinh tế dựa trên sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội và  
tiếng nói của người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất được tiếp thu trong việc ra  
11  
quyết định về phân bổ nguồn lực phát triển.  
Quản trị công tốt cũng được đánh giá qua một số chỉ số như tính hiệu quả, tính  
minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia (Mimicopoulos et al., 2007). Trong  
đó, tính hiệu quả được hiểu là khả năng của chính phủ trong việc tạo lập một môi  
trường kinh chính sách và kinh doanh có thể dự đoán được. Tính hiệu quả cũng được  
thể hiện qua việc chính phủ đáp ứng tốt các nhu cầu của công dân về các dịch vụ như  
an ninh, giáo dục và y tế. Cũng theo UNDP (1997), một mô hình quản trị công hay  
quản trị nhà nước tốt có 8 đặc điểm và cũng là 8 tiêu chí sau đây:  
2.2. Một số vấn đề chung về hiệu quả doanh nghiệp  
2.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa  
Hiện nay, định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thường khác  
nhau tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, vị trí địa lý, đặc điểm dân cư… Tuy thế, ba tiêu  
chí định lượng thường được sử dụng để định nghĩa về DNNVV. Tiêu chí thứ nhất là  
số lượng lao động doanh nghiệp sử dụng. Tiêu chí thứ hai là các số liệu về tài chính  
của doanh nghiệp như quy mô doanh thu, thu nhập hoặc tổng giá trị tài sản doanh  
nghiệp. Tiêu chí thứ ba liên quan đến sự độc lập về sở hữu của một DNNVV.  
Bảng 2.1: Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước  
Nước  
Năm  
định nghĩa DNNVV  
Các nước đang phát triển  
Đài loan  
Trung Quốc  
Hàn Quốc  
Việt Nam  
Singapore  
Malaysia  
Indonesia  
Thái Lan  
Mauritius  
Tanzania  
Malawi  
đầu thập kỷ 1990  
đầu thập kỷ 1990  
1995  
đầu thập kỷ 1990  
đầu thập kỷ 1990  
đầu thập kỷ 1990  
đầu thập kỷ 1990  
đầu thập kỷ 1990  
1997  
<100 lao động  
<100 lao động  
<300 lao động  
<200 lao động  
<100 lao động  
<75 lao động  
<100 lao động  
<100 lao động  
<50 lao động  
<50 lao động  
<50 lao động  
2002  
2003  
OECD  
đan Mạch  
Pháp  
Thuỵ điển  
Phần Lan  
Nhật  
đầu thập kỷ 1990  
1994  
đầu thập kỷ 1990  
1991  
1991  
1994  
<500 lao động  
<500 lao động  
<200 lao động  
<500 lao động  
<300 lao động  
<500 lao động  
USA  
Nguồn: [OECD, 2004]  
12  
Theo Ngân hàng Thế giới định nghĩa về DNNVV sử dụng ba tiêu chí định  
lượng để xác định là: số lượng nhân viên, tổng tài sản bằng đô la Mỹ và doanh thu  
hàng năm bằng đô la Mỹ. Doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chí định lượng về số  
lượng nhân viên và ít nhất một tiêu chí tài chính được phân loại là doanh nghiệp nhỏ,  
vừa hoặc nhỏ.  
Bảng 2.2: Định nghĩa các DNNVV theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới  
Chỉ số doanh  
nghiệp (2/3)  
DN vừa  
Tổng số lao động  
Tổng tài sản  
(đô la)  
Hoặc  
Hoặc  
Hoặc  
Hoặc  
Tổng doanh  
thu (đô la)  
>3.000.000;  
≤15.000.000  
>100.000;  
(người)  
>50;  
≤300  
>10;  
≤50  
>3.000.000;  
≤15.000.000  
>100.000;  
≤3.000.000  
≤100.000  
DN nhỏ  
≤3.000.000  
≤100.000  
DN siêu nhỏ  
<10  
Nguồn: Gemtrit và Justina (2015)  
Ở Việt Nam, định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng biến động theo từng  
thời kỳ. Trước tiên, theo quy định tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của  
Chính Phủ thì DNNVV được định nghĩa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh  
theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng  
nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân  
đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là  
tiêu chí ưu tiên).  
Bảng 2.3: định nghĩa về DNNVV ở Việt nam  
Quy mô DN siêu nhỏ  
DN nhỏ  
DN vừa  
Số lao động Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Số lao động  
(người) vốn (tỷ đồng) (người) vốn (tỷ đồng) (người)  
Khu vực  
Nông, lâm  
nghiệp và thủy  
sản  
Công nghiệp và  
xây dựng  
>10;  
≤200  
>20;  
≤100  
>200;  
≤300  
≤10  
≤10  
≤10  
≤20  
≤20  
≤10  
>10;  
≤200  
>10;  
≤50  
>20;  
≤100  
>10;  
≤50  
>200;  
≤300  
>50;  
Thương mại và  
dịch vụ  
≤100  
13  
Định nghĩa theo Nghị định 56/2009 được cung cấp chi tiết hơn với Nghị định  
số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính Phủ, quy định chi tiết một số điều của  
Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó tại khoản 1, Điều 4 - Tiêu chí xác  
định DNNVV được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp  
nhỏ, doanh nghiệp vừa, cụ thể:  
Bảng 2.4: Doanh nghiệp siêu nhỏ  
Số lao động tham  
Tổng doanh thu  
Lĩnh vực  
gia đóng BHXH  
bình quân năm  
Tổng nguồn vốn*  
của năm *  
Nông nghiệp, lâm  
nghiệp, thủy sản  
Công nghiệp, xây  
dựng  
Không quá 3 tỷ đồng  
Không quá 10 người  
Không quá 10 tỷ  
đồng  
Không quá 3 tỷ  
đồng  
Thương mại, dịch vụ  
Bảng 2.5: Doanh nghiệp nhỏ  
Số lao động tham  
gia đóng BHXH  
bình quân năm  
Lĩnh vực  
Tổng nguồn  
vốn*  
Tổng doanh thu*  
Nông nghiệp, lâm  
nghiệp, thủy sản  
Công nghiệp, xây  
dựng  
Không quá 100  
người  
Không quá 50 tỷ Không quá 20 tỷ  
đồng  
đồng  
Không quá 50  
người  
Không quá 100 tỷ Không quá 50 tỷ  
đồng đồng  
Thương mại, dịch vụ  
Bảng 2.6: Doanh nghiệp vừa  
Số lao động tham  
Lĩnh vực  
gia đóng BHXH  
bình quân năm  
Tổng doanh thu* Tổng nguồn vốn*  
Nông nghiệp, lâm  
nghiệp, thủy sản  
Công nghiệp, xây  
dựng  
Không quá 200  
người  
Không quá 200 tỷ Không quá 100 tỷ  
đồng  
đồng  
Không quá 100  
người  
Không quá 300 tỷ Không quá 100 tỷ  
đồng đồng  
Thương mại, dịch vụ  
14  
Như vậy việc phân loại DNNVV theo Luật hỗ trợ DNNVV và Nghị định số  
39/2018/NĐ-CP của Chính phủ đã có sự điều chỉnh rõ rệt so với Nghị định số  
56/2009/NĐ-CP của Chính phủ. Cụ thể các chỉ tiêu dùng để phân loại ngoài tổng  
nguồn vốn thì đã bổ sung thêm tiêu chí tổng doanh thu đồng thời điều chỉnh nâng cao  
tiêu chí số lượng lao động bằng tiêu chí số lao động có đóng BHXH bình quân năm  
điều này làm tăng chính xác trong việc xác định loại hình doanh nghiệp cũng như  
nâng cao yêu cầu đối với hoạt động của DNNVV. Ngoài ra việc phân chia các nhóm  
cũng đã có sự điều chỉnh rõ nét với các nhóm doanh nghiệp khác nhau đã có sự phân  
chia theo loại hình hoạt động của doanh nghiệp cụ thể mỗi nhóm chia thành 3 loại  
hình doanh nghiệp: Nông lâm nghiệp thủy sản; công nghiệp xây dựng; thương mại  
dịch vụ.  
- Doanh nghiệp siêu nhỏ:  
- Doanh nghiệp nhỏ:  
- Doanh nghiệp vừa:  
2.2.2. Các chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh  
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh:  
a. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)  
b. Tỷ suất sinh lời trên tài sản(ROA)  
c. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư (ROI)  
d. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)  
e. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần thường  
2.3. Khung phân tích về tác động của quản trị công tới hiệu quả doanh nghiệp  
Môi trường thể chế được quyết định bởi khuôn khổ hành chính và luật pháp và  
từ đó các cá nhân, công ty và chính phủ tương tác hoạt động để tạo ra hàng hóa và  
dịch vụ cho xã hội. Tầm quan trọng của quản trị công một cách công bằng và lành  
mạnh đã thể hiện ngày càng rõ hơn trong các cuộc khủng khoảng kinh tế và tài chính  
gần đây và đặc biệt quan trọng cho việc củng cố sự phục hồi sau khủng hoảng một  
cách nhanh chóng (WEF, 2012).  
2.4. Quan hệ lợi ích của các bên dưới tác động quản trị công tới hoạt động của  
các doanh nghiệp  
15  
2.4.1. Các chủ thể có lợi ích dưới tác động của quản trị công tới doanh nghiệp  
Trong nền kinh tế thị trường, có nhiều bên liên quan chịu tác động của quản trị  
công với hoạt động của doanh nghiệp. Trước hết, doanh nghiệp là chủ thể nhận tác  
động trực tiếp từ chất lượng điều hành và quản lý kinh tế của chính phủ. Như đã phân  
tích, chất lượng quản trị công tốt giúp tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, giúp  
doanh nghiệp giảm thiểu các chi phí và thời gian tiền bạc, và ở nghĩa rộng hơn thì  
quản trị công còn bao gồm việc nhà nước cung cấp các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật và từ  
đó giúp cho doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn.  
2.4.2. Sự thống nhất và mâu thuẫn về lợi ích của các bên dưới tác động của quản  
trị công tới doanh nghiệp  
Những lợi ích trên của các bên: xã hội và cộng đồng, nhà nước, doanh nghiệp  
và người lao động có thể thống nhất và mâu thuẫn nhau, tùy thuộc và chất lượng quản  
trị công. Sự thống nhất, nhìn chung, sẽ đạt được nếu như một chính phủ trung ương  
hay địa phương tạo lập một môi trường thể chế và thực thi chính sách có hiệu quả, sẽ  
giúp cho các doanh nghiệp hướng tới sự đầu từ và sáng tao, mở rộng đầu tư và sử  
dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Từ đó doanh nghiệp sẽ có lợi hơn, và nhà nước sẽ thu  
được nhiều thuế hơn từ doanh nghiệp, người lao động có nhiều cơ hội việc làm với  
thu nhập tốt hơn. Sau cùng, xã hội và cộng đồng sẽ được lợi hơn nhờ doanh nghiệp  
thực thi đầy đủ các nghĩa vụ và trách nhiệm với xã hội và cộng đồng trong bảo vệ  
môi trường và bản sắc văn hóa.  
16  
CHƯƠNG 3. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
3.1. Nguồn số liệu, cách thu thập và phương pháp chuẩn bị dữ liệu cho nghiên cứu  
Nguồn dữ liệu thứ nhất là cuộc tổng điều tra doanh nghiệp hàng năm được  
tiến hành bởi Tổng Cục Thống Kê Việt Nam trong các năm gần đây nhất là năm 2017  
và 2018. Tất cả các công ty đăng ký kinh doanh phải điền vào bộ câu hỏi. Bộ điều tra  
này cung cấp rất nhiều thông tin về đặc tính doanh nghiệp, loại hình sở hữu, hoạt  
động kinh doanh và việc làm, lợi nhuận, doanh thu và tài sản. Đối tượng điều tra là  
các doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập được thành lập, chịu sự điều tiết bởi Luật  
Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước  
ngoài tại Việt Nam đã đi vào hoạt động SXKD trước 01/01/2005 và hiện đang tồn tại.  
Trong đó, bao gồm cả những doanh nghiệp hoạt động theo thời vụ không sản xuất đủ  
12 tháng trong năm 2004, những doanh nghiệp tạm ngừng SXKD để đầu tư đổi mới,  
sửa chữa, xây dựng, mở rộng sản xuất, những doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ sát  
nhập, giải thể nhưng vẫn còn bộ máy quản lý để có thể trả lời được các câu hỏi trong  
phiếu điều tra (trường hợp không còn bộ máy quản lý để trả lời các câu hỏi của phiếu  
điều tra thì không đưa vào đối tượng điều tra).  
3.2. Các phương pháp ước lượng hiệu quả doanh nghiệp  
3.2.1. Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa  
a. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)  
b. Tỷ suất sinh lời trên tài sản(ROA)  
c. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)  
3.2.2. Hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp nhỏ và vừa  
Hiệu quả kỹ thuật được xem xét ở hai góc độ khác nhau: hiệu quả tiếp cận theo  
đầu vào (Debreu, 1957) và hiệu quả tiếp cận theo đầu ra (Farrell, 1957). Khi đặt trong  
một khung phân tích về hiệu quả thì các nhóm hiệu quả được thể hiện trong Hình 1  
dưới đây.  
17  
Hiệu quả kỹ thuật  
Koopmans (1951)  
Cách tiếp cận đầu vào  
Debreu (1957)  
Cách tiếp cận đầu ra  
Farrell (1957)  
Hình 3.1: Khung nghiên cứu về hiệu quả  
Nguồn: Tổng hợp của tác giả  
3.2.3 Xây dựng khung phân tích và kênh tác động trong mô hình phân tích  
Phần này, dựa trên phần tổng quan tài liệu, cung cấp một khung phân tích cho  
nghiên cứu hiện tại. Ở phía bên trái của Hình 1 là các biến về đặc điểm của doanh  
nghiệp như quy mô doanh nghiệp, tuổi của doanh nghiệp, loại hình sở hữu. Các biến  
về đặc điểm của doanh nghiệp này được liên kết với năng suất tài chính của doanh  
nghiệp và được trình bày trên phía bên tay phải của Hình 3.1.  
3.2.4. Các phương pháp phân tích  
3.2.4.1.Thống kê mô tả  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để cung cấp các giá trị thống kê  
bao gồm giá trị trung bình, giá trị trung vị và sai số chuẩn của các biến trong mô hình.  
3.2.4.2. Phân tích tương quan  
Hệ số tương quan phản ánh mức độ tương quan giữa biến phụ thuộc với các  
biến độc lập và giữa các biến độc lập với nhau trong mô hình (Gujirati, 2004). Kết  
quả phân tích chỉ ra rằng giữa các biến có thực sự là tương quan với nhau hay không  
ở mức ý nghĩa thống kê 5 phần trăm. Mục đích chính của tiến hành tương quan là  
cung cấp bức tranh ban đầu về mối quan hệ giữa các biến.  
3.2.4.3. Phân tích hồi quy  
Để xem xét tác động của các chất lượng quản trị công cấp tỉnh và các thành tố  
của nó đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong nghiên cứu này,  
nghiên cứu này vận dụng mô hình của một số nghiên cứu gần đây (ví dụ: Newman,  
Rand, Tarp, & Trifkovic, 2020). Theo đó, mô hình được chỉ định dưới dạng hàm sản  
xuất Cobb-Douglas như sau:  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 16940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Quản trị công cấp tỉnh đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_quan_tri_cong_cap_tinh_doi_voi_hoat_dong_kin.pdf