Tóm tắt Luận án Nghiên cứu văn bia tỉnh Bắc Giang

VIỆN HÀN LÂM  
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
KHẢM  
NGUYỄN VĂN PHONG  
NGHIÊNCỨUVĂNBIATỈNHBẮCGIANG  
Chuyên ngành: Hán Nôm  
Mã số  
: 62 22 01 04  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN  
HÀ NỘI, 2016  
Công trình được hoàn thành tại:  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
Người hướng dẫn khoa học:  
PGS. TS. NGUYỄN TÁ NHÍ  
PGS.TS. NGUYỄN VĂN THỊNH  
Phản biện 1: PGS.TS. HÀ VĂN MINH  
Phản biện 2: PGS.TS. NGUYỄN HỮU SƠN  
Phản biện 3: PGS.TS. TRẦN NHO THÌN  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp  
Học viện tại: Học viện khoa học xã hội  
Vào hồi ...... giờ, ngày ....... tháng ...... năm 2016  
Có thể tìm hiểu luận án tại:  
- Thư viện Quốc gia Việt Nam  
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội  
DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT  
CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN  
1.  
2.  
3.  
4.  
5.  
6.  
7.  
8.  
Hệ thống văn bia văn miếu Bắc Ninh (in trong Thông báo Hán Nôm năm 1995),  
NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Bia lăng chúa Đôi tạo năm 1655 có nhắc tới Quốc hiệu Việt Nam (in trong Những  
phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1999), NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Bia đá từ Vũ Khánh Thọ làng Lũ Phú, huyện Yên Dũng, tỉnh Hà Bắc (in trong  
Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1999), NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Tìm hiểu về Hán Quận Công Thân Công Tài qua tư liệu điền dã vùng Bắc Giang  
(in trong Thông báo Hán Nôm năm 1997), NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Phát hiện sách đá ở mộ thân phụ Trạng nguyên Giáp Hải (in trong Thông báo  
Hán Nôm năm 1998), NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Phát hiện bia đá tạo năm 1651 có nhắc tới quốc hiệu Việt Nam (in trong Những  
phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1999), NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Phát hiện bia đá thời Trần ở chùa Hang Tràm, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang  
(in trong Thông báo Hán Nôm năm 2000), NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Đôi nét về vấn đề bảo tồn, nghiên cứu di sản Hán Nôm các dân tộc thiểu số tỉnh  
Bắc Giang (in trong Thông báo Hán Nôm năm 2001), NXB. Khoa học xã hội, Hà  
Nội.  
9.  
Phát hiện văn bia thời Mạc ở chùa Diễn Khánh huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang  
(in trong Thông báo Hán Nôm năm 2001), NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Khen ai khéo tạc bia Nghè Nếnh, TC Sông Thương, năm 2006)  
10.  
11.  
Bước đầu khảo sát văn bia Bắc Giang trước thế kỷ XVIII (in trong Thông báo Hán  
Nôm năm 2002), NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
12.  
13  
14  
15  
Văn bia Bắc Giang (tập I, tuyển dịch văn bia Bắc Giang trước thế kỷ XVIII), Bản  
thảo lưu tại Sở KHCN Bắc Giang.  
Khảo cổ học về văn bia Bắc Giang trước thế kỷ XVIII (In trong Di sản văn hóa  
Bắc Giang, Khảo cổ học từ tiền sử đến lịch sử), Bảo tàng tỉnh Bắc Giang.  
Quê hương, thân thế sự nghiệp Lộc Quận công Hoàng Công Phụ, (in trong Thông  
báo Hán Nôm năm 2008), NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Di sản Hán Nôm tỉnh Bắc Giang - Hướng tiếp cận mới, in trong Hội nghị luận  
văn tập (Kỷ yếu hội thảo khoa học) do Khoa Ngữ văn Đông Á, Đại học Cao Hùng  
(Đài Loan) xuất bản.  
16  
Văn bia chùa Vĩnh Nghiêm - Những trang sử đá về chốn tổ Trúc lâm qua các thời  
kỳ suy vi và phát triển, In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế chuyên đề bảo  
tồn Khai thác giá trị mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Giang do Đại học  
KHXH&NV Hà Nội - Sở VHTT&DL Bắc Giang - Đại học Cao Hùng (Đài Loan)  
- Viện Nghiên cứu Phật học tại Hà Nội tổ chức.  
17  
18  
19  
Khảo sát văn bản văn bia Tiên khảo Thái bảo Giáp phủ quân mộ chí, Tạp chí Hán  
Nôm số 3/2015  
Mật Quân công Vi Đức Thăng và dòng họ võ quan xứ Nghệ trên đất Bắc, Tạp chí  
Khoa học xã hội & nhân văn Nghệ An, số năm 5/2015.  
Trạng nguyên Đào Sư Tích qua tư liệu điền dã tỉnh Bắc Giang, Tạp chí Xưa  
&Nay.  
20  
21  
Kho “Mộc thư”chùa Vĩnh Nghiêm với giá trị văn hóa, TCHN số 5/2005  
Tấm bia đá thời Trần ở chùa Hang Tràm, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang,  
TCHN số 1/2001  
22  
23  
Sưu tập mộc bản động Thiên Thai, TCHN số 4/ 2014  
Xác Lộc hầu Phùng Đức Nhuận, In trong kỷ yếu Hội thảo khoa học Danh nhân võ  
lược tỉnh Bắc Giang thế kỷ XV - XVIII, NXB Thông tấn, Hà Nội, 2013.  
Văn bia Bắc Giang thế kỷ XVIII - XIX (Bản thảo tập I), lưu tại Sở KHCN tỉnh Bắc  
Giang, 2006.  
24  
25  
Tào Nham hầu Nguyễn Đức Hưng qua văn bia Hậu Thần bi ký (In trong kỷ yếu  
Hội thảo khoa học Danh nhân võ lược tỉnh Bắc Ninh, do Viện Sử học và UBND  
tỉnh Bắc Ninh tổ chức năm 2014)  
26  
Danh nhân khoa bảng Bắc Giang từng giữ chức Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử giám  
Thăng Long thời Lê Mạc, In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tế Tửu, Tư nghiệp  
Quốc Tử giám Thăng Long, do Viện Sử học và Trung tâm VHKH Văn miếu  
Quốc Tử giám tổ chức năm 2015)  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Bắc Giang là miền đất thuộc lộ Bắc Giang thời Lý - Trần, thời Lê - Mạc,  
miền thượng của trấn/xứ Kinh Bắc ngàn năm văn hiến. Trong lịch sử, Bắc  
Giang có vị trí chiến lược trọng yếu, được xem như miền đất “phên giậu”ở  
phía bắc kinh thành Thăng Long. Đây là miền đất cổ được khai phá từ lâu đời  
và có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa. Trên mỗi làng quê Bắc Giang vẫn  
còn in đậm bóng dáng nhiều ngôi đình, ngôi chùa, ngôi đền, ngôi miếu, văn  
chỉ, từ chỉ hay các từ đường cổ kính của các dòng họ. Các di tích xưa kia được  
cư dân làng xã đứng ra hưng công xây dựng có sự đóng góp công sức, tiền của  
từ các tổ chức làng xã, phường hội, dòng họ hay những cá nhân có tiềm lực  
kinh tế nên được dân làng xã tri ân bằng việc khắc bia ghi lưu niệm, biểu  
dương lưu truyền cho muôn đời con cháu noi gương. Đó cũng là lý do ở các  
làng quê Bắc Giang có nhiều văn bia do tiền nhân để lại.  
Văn bia là di sản tư liệu mang tính đặc thù và có vai trò, ý nghĩa đặc biệt  
đối với việc tìm hiểu, nghiên cứu đời sống xã hội của mỗi vùng quê đương  
đại. Vấn đề tìm hiểu nội dung mà khối tư liệu văn bia lưu lại là mối quan tâm  
của toàn xã hội, nhất là lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.  
VBBG nằm trong tổng thể di sản văn bia Việt Nam nên vấn đề nghiên cứu  
VBBG là công việc hữu ích, thiết thực và cấp bách góp phần quan trọng vào  
công tác khai thác, bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp, quý báu của di sản  
văn hóa Việt Nam. Kết quả nghiên cứu VBBG cũng góp phần vào công cuộc  
xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, đất nước trong thời kỳ  
đổi mới, hội nhập và phát triển.  
Văn bia Bắc Giang (sau đây viết tắt là VBBG) là di sản văn hóa được các  
thế hệ cha ông tinh tạo, trao truyền cho thế hệ hôm nay và mai sau. Hiện tại,  
nhà nước chưa trực tiếp quản lý, văn bia/bia đá (từ đây gọi chung là văn bia)  
vẫn do nhân dân các làng xã sở hữu và bảo quản. Sự tồn tại hay không tồn tại  
của văn bia phụ thuộc hoàn toàn vào ý thức của người dân mỗi địa phương.  
Nơi nào ý thức cộng đồng được nâng cao thì văn bia được trân trọng giữ gìn.  
Ngược lại, có nơi văn bia vẫn bị lãng quên, tồn tại cùng sự thờ ơ vô tình của  
người dân sở tại. Ở một số làng xã tỉnh Bắc Giang vẫn còn tình trạng bia đá  
nằm vạ vật bên đường, bên cầu ao, mương máng... Sự vô tình của con người  
cùng khí hậu khắc nghiệt sẽ hủy hoại bia đá. Cho nên, vấn đề bảo tồn, nghiên  
cứu, khai thác phát huy giá trị của văn bia đã trở nên cấp thiết.  
Với những nguồn thông tin tư liệu hiện có, chúng ta biết VBBG có tổng  
số 1452 văn bia, trong đó: 1278 văn bia đã được in rập, lưu thác bản tại Viện  
Nghiên cứu Hán Nôm (sau đây viết tắt là VNCHN) và 1296 văn bia hiện vật  
còn lưu tại các làng xã trong tỉnh. Vì có văn bia đã được in rập, sưu tầm thác  
bản nhưng không còn bia hiện vật. Ngược lại, có bia còn ở thực địa nhưng  
không có thác bản ở VNCHN và chúng tôi đã thống kê được 174 văn bia chưa  
làm thác bản.. Khung niên đại VBBG được xác định trong thời gian 560 năm  
(1387 - 1947) nhưng đa dạng về loại hình, bao hàm nội dung rất rộng, đề cập  
đến nhiều lĩnh vực, liên quan đến nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, nên từ lâu  
văn bia đã trở thành đề tài được nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội nói  
chung, chuyên ngành Hán Nôm nói riêng quan tâm. Tuy nhiên, đến nay vẫn  
chưa có tác giả nào đi sâu khai thác nghiên cứu VBBG thành một đề tài  
chuyên biệt. Thêm nữa, do nguồn tư liệu về thời kỳ trung - cận đại viết về  
vùng đất, các làng xã hay các danh nhân lịch sử Bắc Giang còn khan hiếm thì  
văn bia là nguồn tư liệu chân thực, phong phú có thể bổ khuyết, nhưng đến  
nay vẫn chưa có tác giả nào quan tâm nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện. Là  
người con của quê hương Bắc Giang, được đào tạo chuyên ngành Hán Nôm,  
có nhiều năm công tác tại địa phương và luôn để tâm sưu tầm, tìm hiểu đến  
mảng tư liệu này nên tôi đã lựa chọn đề tài Nghiên cứu văn bia tỉnh Bắc  
Giang để thực hiện luận án tiến sĩ tại Học viện Khoa học xã hội Việt Nam.  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
2.1 Cơ sở lý thuyết  
Luận án dựa trên quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc sưu  
tầm, bảo tồn, nghiên cứu, khai thác và phát huy những giá trị tốt đẹp của văn  
hóa truyền thống trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,  
đậm đà bản sắc dân tộc.  
Luận án đã vận dụng những tri thức khoa học về phương pháp nghiên cứu  
Ngữ văn Hán Nôm trên cơ sở các phương pháp chuyên sâu như Văn bản học,  
Bi ký học, Tị húy học và các phương pháp nghiên cứu liên ngành (Khảo cổ  
học, Nghệ thuật học, Văn hóa học…) để xử lý đề tài trong từng chương của  
luận án.  
Tác giả luận án cũng tiếp thu, kế thừa tri thức và thành tựu nghiên cứu về  
văn bia của nhiều tác giả đi trước đã được công bố, xuất bản có liên quan đến  
đề tài luận án để sử dụng, so sánh, phân tích, đánh giá về trữ lượng, đặc điểm,  
nội dung phản ánh của VBBG.  
2.2 Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp văn bản học, phương pháp được sử dụng chính yếu trong  
việc mô tả, xác định niên đại làm cơ sở để đánh giá những đặc điểm về hình  
thức, nội dung VBBG;  
- Phương pháp thống kê, được sử dụng khi tiến hành định lượng, phân  
loại, xác định tình hình phân bố văn bia và khi lập các bảng, biểu nhằm biểu  
thị khái quát một số vấn đề được đề cập trong luận án bằng các chỉ tiêu và con  
số thống kê. Tiếp đó, so sánh, đối chiếu, phân tích tổng hợp, rút ra những đặc  
điểm chính về hình thức, nội dung VBBG;  
- Phương pháp khảo sát điền dã, được áp dụng khi sưu tầm văn bia ở các  
địa phương hay có sự nghi ngờ về mặt văn bản, chúng tôi sẽ tiến hành khảo  
sát điền dã để đối chiếu với văn bia hiện vật;  
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành, như: Khảo cổ học lịch sử, ngôn  
ngữ học, nghệ thuật học, dân tộc học… được sử dụng khi nghiên cứu, so  
sánh, đánh giá giá trị hình thức, nội dung VBBG một cách toàn diện nhất.  
3. Đối tượng và phạm vi sử dụng tư liệu  
3.1 Đối tượng nghiên cứu:  
Đối tượng nghiên cứu của luận án là 1452 VBBG, trong đó có 1278 thác  
bản VBBG hiện lưu trữ ở Kho thư tịch VNCHN cùng 1296 văn bia hiện vật  
còn lưu giữ trên các di tích LSVH ở tỉnh Bắc Giang.  
3.2 Phạm vi sử dụng tư liệu:  
Địa danh Bắc Giang ở đây được xác định là địa danh hành chính cấp tỉnh (t. Bắc  
Giang ngày nay) gồm có 01 thành phố và 9 huyện, đó là: TP. Bắc Giang, h. Hiệp  
2
Hòa, h. Lạng Giang, h. Lục Nam, h. Lục Ngạn, h. Sơn Động, h. Tân Yên, h. Việt  
Yên, h. Yên Dũng và h. Yên Thế. Vì vậy, phạm vi của luận án là nghiên cứu tổng  
thể thác bản văn bia t. Bắc Giang tại VNCHN và có sử dụng, tham khảo văn bia  
hiện vật trên địa bàn t. Bắc Giang khi văn bia đó thiếu vắng trong kho lưu trữ.  
Luận án nghiên cứu VBBG gồm hệ thống các vấn đề như: Thống kê tổng hợp  
định lượng văn bia; tình hình phân bố, phân loại, đặc điểm, đặc trưng hình thức - nội  
dung văn bia; đánh giá trị văn bia ở một số phương diện, biên dịch một số văn bia  
đại diện hàm chứa nội dung đề cập đến nội dung nghiên cứu của luận án.  
4. Những đóng góp mới của luận án  
- Lần đầu tiên di sản tư liệu VBBG được tập hợp, thống kê, định lượng đầy đủ  
trên cơ sở hai nguồn tài liệu: văn bia hiện vật trên thực địa và văn bia lưu trữ ở dạng  
thác bản tại VNCHN. Kết quả thống kê, tổng hợp văn bia đã cung cấp thông tin, tư  
liệu để các ngành liên quan hoạch định phương án, kế hoạch bảo tồn, phát huy giá  
trị di sản VBBG trong thời gian tới.  
- Toàn bộ nguồn thác bản VBBG lưu trữ tại VNCHN đã được Nghiên cứu sinh  
phân tích, đánh giá tổng hợp, phân loại theo các tiêu chí khoa học chuyên ngành  
Ngữ văn Hán Nôm trên ba tuyến: Thời gian (triều đại), không gian (cấp huyện,  
thành phố) và loại hình di tích. Đối với văn bia hiện vật trên thực địa được thống kê,  
định lượng phân loại chi tiết đến đơn vị cấp xã (phường, thị trấn).  
- Luận án đi sâu tìm hiểu về hình thức, văn bản VBBG, qua đó rút ra những giá  
trị văn hóa, đặc điểm chung và riêng về hình thức cũng như các vấn đề liên quan tới  
quá trình tạo tác VBBG.  
- Luận án cũng đã đi sâu nghiên cứu về quốc danh Việt Nam xuất hiện trên  
VBBG thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVII, XVIII), về công tích của các văn thần, võ  
tướng với các làng xã Bắc Giang thời Trung đại, trong đó, những văn bia phản ánh  
những đóng góp của các Hoạn quan (quan Thái giám) thời Lê Trung hưng được  
xem như những di sản tư liệu đặc sắc trong kho tàng di sản Hán Nôm xứ Bắc.  
- Trên cơ sở khai thác các giá trị nội dung, luận án đã đi sâu tìm hiểu một số hình  
thức sinh hoạt văn hóa, tôn giáo (Nho giáo, Phật giáo), tín ngưỡng truyền thống, đó  
là những di sản văn hóa tiêu biểu của miền đất Bắc Giang xưa và nay.  
- Luận án cũng đã đề cập và cung cấp thêm tư liệu về lịch sử Thiền phái Trúc  
Lâm Yên Tử được phản ánh qua văn bia trên các di tích lịch sử văn hóa ở sườn Tây  
Yên Tử thuộc địa phận t.Bắc Giang.  
- NCS đã tuyển chọn phiên âm, dịch nghĩa, chú giải 30 VBBG đại diện cho các  
nhóm nội dung đưa vào phần Phụ lục để giới thiệu với độc giả. Những văn bia này  
lần đầu tiên được công bố, nên cũng có thể xem là một đóng góp mới có ý nghĩa  
của luận án.  
5. Bố cục của luận án  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục bài viết của tác giả luận án, Danh mục  
tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận án được chia làm 4 chương:  
Chương 1. Tổng quan về văn bia và tình hình sưu tầm, bảo tồn, nghiên cứu liên  
quan đến đề tài luận án.  
Chương 2: Đặc điểm văn bia tỉnh Bắc Giang.  
Chương 3: Nghiên cứu một số nội dung lịch sử phản ánh qua VBBG.  
Chương 4: Nghiên cứu một số nội dung văn hóa truyền thống phản ánh qua  
VBBG  
3
NỘI DUNG  
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN VỀ VĂN BIA VÀ TÌNH HÌNH SƯU TẦM  
NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN  
Chương này, luận án trình bày khái quát về nguồn gốc hình thành văn bia  
và sự ảnh hưởng, du nhập của văn hóa khắc dựng văn bia Trung Quốc đến  
Việt Nam; Thành tựu nghiên cứu văn bia Việt Nam cũng như tình hình sưu  
tầm, bảo tồn, nghiên cứu VBBG. Trên cơ sở nắm bắt tình hình liên quan đến  
đề tài luận án chúng tôi sẽ bao quát, làm rõ một số vấn đề cần thiết khi nghiên  
cứu về VBBG mà các công trình, đề tài nghiên cứu của các tác giả đi trước  
chưa đề cập tới.  
1.1 Khái quát về văn bia và văn bia Việt Nam  
Trước năm 2012, giới nghiên cứu Hán Nôm trong và ngoài nước đều tạm  
chấp nhận sự ra đời của tấm bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng  
chi bi văn khắc ghi niên hiệu Đại Nghiệp thứ 14 (618) là văn bia có niên đại  
sớm nhất ở nước ta. Nhưng năm 2012, Lê Viết Nga - Nguyễn Phạm Bằng  
(Bảo tàng t. Bắc Ninh) đã công bố tấm bia Xá lị tháp minh có niên đại Đại Tùy  
Nhân Thọ nguyên niên [Năm Nhân Thọ thứ nhất (601) đời nhà Tùy]. Năm  
2013, Nguyễn Phạm Bằng công bố phát hiện mới về tấm bia ở nghè thờ Đào  
Hoàng, th. Thanh Hoài, x. Thanh Khương, h. Thuận Thành, t. Bắc Ninh mang  
niên hiệu Kiến Hưng nhị niên (314). Như vậy, đến năm 2015, bia nghè thờ  
Đào Hoàng có niên đại sớm nhất từng phát hiện ở nước ta.  
Đến thế kỷ X, thời Ngô, Đinh, Tiền Lê (939 - 1009) chúng ta đã phát hiện  
được các cột đá khắc kinh Phật đỉnh tôn thắng gia cú linh nghiệm Đà la ni ở  
cố đô Hoa Lư, t. Ninh Bình.  
Văn bia Việt Nam có dấu hiệu phát triển cả về hình thức và nội dung từ  
thế kỷ XI (từ đây viết tắt là TK) về sau. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, cho  
biết cả nước có 18 bia thời Lý (1010 - 1225), 44 bia thời Trần (1225 - 1400).  
Đến nay số lượng văn bia thời Lý - Trần đã có sự thay đổi, tăng nhập do có  
những phát hiện mới trong những năm gần đây.  
TK XV, đến giữa TK XX, do nhà nước và các làng xã mở mang xây dựng  
nhiều công trình phục vụ sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng nên văn bia có cơ hội  
phát triển và để lại số lượng lớn hơn các triều đại trước. Đây là nguồn tư liệu  
phong phú, đa dạng cả về hình thức cũng như nội dung đang được giới chuyên  
môn quan tâm sưu tầm, nghiên cứu, khai thác để phục vụ đời sống xã hội.  
1.2 Tình hình nghiên cứu văn bia Việt Nam  
1.2.1 Các công trình nghiên cứu, xuất bản về văn bia Việt Nam.  
NCS đã thống kê được 18 công trình nghiên cứu đã được công bố về văn  
bia: Thơ văn Lý - Trần, Tuyển tập văn bia Hà Nội tập I (1978), Tuyển tập Văn  
bia Hà Tây (1993), Văn bia xứ Lạng (1993), Văn bia thời Mạc (1996), Văn  
bia Văn miếu Bắc Ninh (2000), Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (tập I) Từ Bắc  
thuộc đến thời Lý (2002), Tổng tập thác bản văn khắc Việt Nam (2010), Văn  
bia Quốc Tử giám Hà Nội (2002), Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (Trần triều  
4
1226 - 1400), Văn miếu Quốc Tử giám và 82 bia Tiến sĩ (2002), Tư liệu Hán  
Nôm huyện Yên Phong (2005), Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam (2006), Di  
sản Hán Nôm Côn Sơn - Kiếp Bạc - Phượng Sơn (2006), Văn bia thời Lý, Văn  
bia chùa Phật thời Lý (2010), Tư liệu văn hiến Thăng long - Hà Nội (2010),  
Văn khắc Hán Nôm Thăng Long - Hà Nội (2010), Nghiên cứu văn bia Vĩnh  
Phúc (2013).  
Nghiên cứu, giới thuyết về văn bia và liên quan đến văn bia có một số  
công trình đã được xuất bản như: Một số vấn đề về văn bản học Hán Nôm  
(1983), Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại (1997), Lịch sử triều  
Mạc qua thư tịch và văn bia (2001), Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản  
ánh sinh hoạt làng xã (2003), Khảo sát giám định niên đại thác bản văn bia  
(2007), Một số vấn đề về Văn bia Việt Nam (2008), Các thể văn chữ Hán Việt  
Nam (2010), Bi ký học và văn bản bi ký Hán Nôm Việt Nam (2013)  
Ngoài những công trình, chuyên luận cơ bản kể trên, văn bia còn là đối  
tượng được giới thiệu trên Tạp chí nghiên cứu Hán Nôm, kỷ yếu hội nghị  
Thông báo Hán Nôm học, Những phát hiện mới về Khảo cổ học, Tạp chí Khảo  
cổ học, …  
1.2.2 Các đề tài luận án, luận văn nghiên cứu văn bia Việt Nam  
Với 12 luận án TS đã bao vệ thành công: Sự hình thành và phát triển của  
văn bia Việt Nam và vị trí văn bia trong nền văn học cổ điển Việt Nam (1990);  
Văn bia Việt Nam nguồn sử liệu thời kỳ trung và cận đại (1991), Văn bia Kinh  
Bắc thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã (1996) [154], Văn  
bia thời Mạc và đóng góp của nó trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam thế kỷ  
XVI, Nghiên cứu văn bia khuyến học Việt Nam, Nghiên cứu văn bia Hải  
Phòng, Nghiên cứu văn bia chữ Nôm, Nghiên cứu văn bia tỉnh Ninh Bình,  
Nghiên cứu văn bia Hán Nôm tỉnh Quảng Nam, Nghiên cứu bia hậu Thần Việt  
Nam, Nghiên cứu văn bia Thừa Thiên Huế.  
04 luận văn Thạc sĩ: Văn bia đình làng Bắc bộ thế kỷ XVII, Nghiên cứu  
văn bia chợ, Nghiên cứu văn bia chữ Nôm, Tìm hiểu bia hậu thời Tây Sơn …  
Hầu hết các công trình nghiên cứu về văn bia được thực hiện những năm  
cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI là những đề tài mang tính tổng quát, quy mô,  
phạm vi, đối tượng nghiên cứu tổng thể văn bia ở hầu khắp các địa phương  
trong cả nước. Các tác giả đã đưa ra những kiến giải, nhận định sâu sắc làm rõ  
những đặc điểm của văn bia, những vấn đề về văn bản học, giá trị đặc sắc của  
nội dung văn bia trên nhiều lĩnh vực: Lịch sử văn hóa, kinh tế, chính trị, ngôn  
ngữ, tôn giáo tín ngưỡng và hình thức nghệ thuật của văn bia Việt Nam.  
1.3 Tình hình sưu tầm, bảo tồn nghiên cứu VBBG.  
Số lượng VBBG được tổng hợp trên hai nguồn: văn bia hiện vật tại địa  
phương và thác bản VBBG lưu trữ tại VNCHN.  
Trong tổng số 229 xã (phường, thị trấn) có 155 xã xuất hiện văn bia  
(chiếm 67,7%) và 74 xã không có văn bia (chiếm gần 32,3%). Đa số những xã  
có văn bia thuộc vùng đồng bằng, vùng trung du hoặc núi thấp.Văn bia tập  
trung nhiều ở h. Việt Yên, h. Hiệp Hòa, h. Lục Nam, h. Yên Dũng, TP. Bắc  
Giang. Đây là những miền đất có lịch sử văn hóa lâu đời, kết cấu tổ chức làng  
xã bền vững, hệ thống các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng và các  
công trình phúc lợi hoàn thiện, đặc biệt hơn đó là những miền đất giàu truyền  
5
thống hiếu học lại có tiềm năng về kinh tế… Các huyện Lục Ngạn, Sơn Động,  
Yên Thế văn bia xuất hiện ít hơn.  
Văn bia thời Trần, Lê Sơ, Mạc có số lượng ít. Văn bia thời Lê Trung hưng  
có số lượng nhiều nhất (539/1452 (37,12%) sau đến văn bia thời Nguyễn  
488/1452 (33,6%), văn bia thời Tây Sơn có 32/1452 (2,2%). Những văn bia  
không ghi niên đại là 184/1452 (12,6%). Văn bia có lạc khoản chỉ ghi năm  
theo lịch can chi có 31/1278 (2,1%). Số văn bia chưa làm thác bản 1174/1452  
(12 %).  
VBBG phần nhiều là bia chùa, bia đình, hai công trình kiến trúc phục vụ  
sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng phổ biến của cộng đồng làng xã trên địa bàn.  
Các loại di tích khác như: văn chỉ, từ chỉ, từ vũ, cầu, chợ, đền, miếu...có số  
lượng ít hơn. Trong số văn bia đình, chùa thì bia hậu Thần, hậu Phật, gửi giỗ...  
chiếm ưu thế; bia thực lục, lịch sử, sự tích… có số lượng rất khiêm tốn.  
1.3.2 Tình hình sưu tầm, bảo tồn di sản VBBG.  
Văn bia là di sản tư liệu có khối lượng lớn nhất được E.F.E.O sưu tầm từ  
đầu TK XX. Hiện nay, VNCHN còn lưu giữ 567 thác bản VBBG do E.F.E.O  
để lại và bổ sung thêm 711 thác bản vào những năm gần đây..  
Từ năm 1988 đến 2009, Bảo t. Hà Bắc/Bắc Giang đã sưu tầm được gần  
300 đơn vị thác bản văn bia. Từ năm 2010 đến nay, Ban Quản lý di tích t. Bắc  
Giang đã sưu tầm, in rập với tổng số hơn 300 đơn vị thác bản và cơ bản đã  
được dịch thuật.  
1.3.3 Tình tình nghiên cứu VBBG  
VBBG được lược thuật giới thiệu trong sách Địa chí Bắc Giang, tập 3  
“Di sản Hán Nôm” (2003) và được đề cập lẻ tẻ trong các công trình nghiên  
cứu như: Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Văn bia thời Mạc, Văn bia thời Lê xứ  
Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã, Chốn tổ Vĩnh Nghiêm, Văn hóa  
truyền thống h. Yên Dũng…và một số bài nghiên cứu đăng trên một số tạp chí  
chuyên ngành.  
Tiểu kết chương 1:  
VBBG có khối lượng khá lớn và cơ bản đã được sưu tầm, in rập thành  
thác bản lưu trữ tại VNCHN, số ít chưa được in rập vẫn còn nằm rải rác ở các  
làng xã trong tỉnh. Trên cơ sở hai nguồn tư liệu ở kho bảo quản VNCHN với  
văn bia hiện vật trên thực địa Luận án đã tập hợp, thống kê tương đối đầy đủ  
VBBG với 1452 đơn vị văn bia, trong đó: 1296 văn bia hiện vật ở các làng xã  
trong tỉnh và 1278 thác bản lưu trữ tại VNCHN. Khối lượng văn bia này là  
nguồn tư liệu rất phong phú để chúng tôi thực hiện đề tài luận án.  
Nội dung VBBG cũng đa dạng, phản ánh nhiều lĩnh vực của đời sống xã  
hội thời trung đại và đã được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đến nay,  
đã có nhiều tác giả khai thác VBBG để thực hiện các công trình khoa học, các  
đề tài luận án, luận văn, các chuyên khảo chuyên sâu trên từng lĩnh vực và đã  
đạt được những thành tựu đáng trân trọng và đóng góp cho khoa học những tri  
thức mới để thế hệ sau kế thừa, khai thác, phát huy giá trị, ứng dụng vào thực  
tiễn đời sống xã hội. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào giành tâm huyết nghiên  
cứu tổng thể về văn bia hay chuyên sâu một lĩnh vực nào đó được phản ánh  
qua VBBG. Các công trình nghiên cứu đã công bố cũng như các luận án, luận  
văn mới khai thác số lượng rất ít ỏi VBBG ở những mảng nội dung nhất định.  
6
Trên các tạp chí, kỷ yếu hội nghị chuyên ngành chỉ xuất hiện những bài viết lẻ  
tẻ giới thiệu những văn bia mới phát hiện và dừng lại ở mức độ giới thiệu  
nguồn tư liệu mà chưa có công trình nào chuyên khảo về VBBG.  
Ở địa phương, văn bia đã nhận được sự quan tâm đầu tư cho công tác bảo  
tồn của ngành văn hóa địa phương. Bản thân NCS cũng có đóng góp nhất định  
trong việc bảo tồn, nghiên cứu, giới thiệu VBBG. Là người con của quê hương  
Bắc Giang, từ thời thơ ấu đã được tiếp xúc với văn bia, khi trưởng thành được  
đào tạo chuyên ngành Hán Nôm, ra trường công tác hơn hai mươi năm trong  
ngành văn hóa địa phương, đã được tiếp xúc trực tiếp hàng nghìn văn bia  
trong tỉnh, khối tư liệu đặc biệt này đã cuốn hút NCS từ lâu nên khi được cử đi  
học tại khoa Hán Nôm, Học viện KHXH (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam),  
NCS đã chọn khối tư liệu văn bia ở địa phương làm đề tài luận án Tiến sĩ.  
Những mong được đóng góp thêm phần nhỏ bé của mình cho khoa học  
chuyên ngành Hán Nôm và cho sự nghiệp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn  
hóa của quê hương.  
7
CHƯƠNG 2  
ĐẶC ĐIỂM VĂN BIA TỈNH BẮC GIANG  
VBBG là di sản tư liệu được hình thành từ nhu cầu nội tại của các làng xã  
thời trung đại. Đó là những sản phẩm trí tuệ và sự tài nghệ của những trí thức  
Nho học, Phật học, những người có hoa tay viết chữ đẹp và những người thợ  
đá khéo tay giỏi nghề tạo ra. Mỗi một văn bia đều được xem như một tác  
phẩm văn học nghệ thuật phản ánh tư tưởng, tình cảm, trình độ thẩm mỹ của  
những người trực tiếp tạo tác và cộng đồng làng xã đương đại. Vì vậy, chương  
này, chúng tôi giới thiệu khái lược về địa lí hành chính Bắc Giang từ kỷ  
nguyên độc lập và truyền thống văn hóa t. Bắc Giang, bởi đó là môi trường  
cho sự xuất hiện và lưu giữ văn bia, trên cơ sở đó, chúng tôi đi sâu trình bày  
một số đặc điểm hình thức nghệ thuật và văn bản VBBG.  
2.1 Địa lý hành chính và truyền thống văn hóa.  
2.1.1 Địa lí hành chính  
Miền đất Bắc Giang từ lâu đã gắn bó chặt chẽ với văn hóa vùng Kinh Bắc.  
Năm 1997, t. Bắc Giang được tái thành lập trên cơ sở tách t. Hà Bắc thành hai  
t. Bắc Giang và Bắc Ninh. T. Bắc Giang hiện nay có 10 huyện, TP, đó là: TP.  
Bắc Giang, h. Hiệp Hòa, h. Lạng Giang, h. Lục Nam, h. Lục Ngạn, h. Sơn  
Động, h. Tân Yên, h. Việt Yên, h. Yên Dũng và h. Yên Thế.  
2.1.2 Truyền thống văn hóa  
Trên địa bàn có 2237 di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh. Thời  
phong kiến có 58 Nho sinh ưu tú đỗ đại khoa, hàng trăm vị đỗ trung khoa,  
hàng nghìn vị đỗ Sinh đồ, Tú tài ở các kỳ thi Nho học …Truyền thống hiếu  
học, thượng võ, sùng đạo là những yếu tố địa văn hóa thuận lợi cho sự xuất  
hiện VBBG.  
2.2 Đặc điểm hình thể, chất liệu, tác giả soạn khắc văn bia  
2.2.1 Về hình thể, chất liệu tạo bia  
* Về hình thể: Phổ biến nhất là bia dẹt (có 1 hoặc mặt), sau đó là bia  
vuông tứ diện, bia tạo dáng cây hương (hương đài), bia lục diện, bia trụ  
tròn… Đặc biệt, trên đất Bắc Giang còn phát hiện tấm bia hộp ở ngôi mộ thân  
phụ Trạng nguyên Giáp Hải và có cả bia tạo tác bằng chất liệu gỗ.  
* Về chất liệ có ba loại: Bia đá xanh (đá vôi), đá đỏ, đá cát kết, nhưng phổ  
biến và chiếm tỷ lệ nhiều là bia đá xanh.  
2.2.2 Về tác giả soạn, khắc, viết chữ  
* Về tác giả soạn văn: Trong số 1452 VBBG có 251 văn bia khắc tên  
người soạn văn (chiếm 17,2%). Thành phần tham gia biên soạn có số lượng  
cao nhất là các nhà khoa bảng, còn lại là các trí thức và quan chức địa phương  
như: Sinh đồ, Giám sinh, Phủ sinh, Nho sinh, Huấn đạo, Tri phủ, Tri huyện,  
Thị nội văn chức, Câu kê, Chánh tổng, Lý trưởng và các nhà sư …  
* Về tác giả viết chữ: Có 266 bia lưu danh tính người viết chữ (18,3%).  
Thành phần tham gia viết chữ là các Giám sinh, Nho sinh, Thị nội thư, Sinh  
đồ, Phủ sinh, Tri huyện, Đề lại, các nhà sư, và các danh sĩ, hương lão địa  
phương… và nhiều nhất vẫn là các vị làm quan Thị nội thư tả, Đề lại.  
8
* Về tác giả chạm khắc bia: Có 55 văn bia khắc ghi tên, địa chỉ thợ khắc  
bia (3,7%). Xét về tỉ lệ thấy các tác giả chuyên nghiệp của nhà nước ở Ngọc  
Thạch cục và phường Kính Chủ chiếm ưu thế, sau đến thợ khắc đá ở các  
phường thợ khác.  
2.3 Nghệ thuật trang trí văn bia.  
VBBG xuất hiện trong khoảng gần sáu thế kỷ nên kỹ thuật chế tác, nghệ  
thuật trang trí rất phong phú, đa dạng mang phong cách của nhiều thời kỳ,  
nhưng tiêu biểu nhất văn bia nghệ thuật trang trí bia thời Lê Trung hưng (TK  
XVII - XVIII).  
2.4 Văn bản và văn tự trên bia  
2.4.1. Về văn bản văn bia  
Qua khảo sát trên các di tích, thấy có khoảng 70% VBBG còn nguyên  
vẹn. Khảo sát VBBG thì thấy có hàng chục tấm bia được khắc bổ sung. Hiện  
tượng khắc lại văn bia ít xuất hiện. Hiện tượng đục xóa nội dung và niên đại  
xảy ra trên một số văn bia thời Nguyễn và Lê Trung hưng.  
2.4.2 Văn tự trong văn bia:  
Chữ húy sớm nhất được phát hiện trên bia thời Trần ở chùa Nham Nguyệt  
(th. Liễu Nham, x. Tân Liễu, h. Yên Dũng).Thời Lê sơ không thấy xuất hiện.  
Thời Mạc, Lê Trung hưng thực hiện khá triệt để lệnh kiêng húy trên VBBG.  
Bắc Giang có 03 văn bia chữ Nôm và nhiều văn bia có viết xen chữ Nôm để  
ghi tên người, tên lễ vật, tế khí, địa danh.  
Tiểu kết chương II:  
Bắc Giang là miền đất thuộc vùng văn hóa Kinh Bắc, một miền quê nổi  
danh văn hiến, hiếu học, thượng võ trong lịch sử, nơi hội tụ tinh hoa văn hóa  
của dân tộc, một trong những cái nôi của của nền văn minh châu thổ Bắc Bộ,  
nên có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển văn bia Hán Nôm.  
VBBG có thể hình đa dạng như văn bia Việt Nam, nhưng ở góc độ nhất định  
cũng có nét đặc thù, đó là sự xuất hiện loại bia trụ tròn, dáng hình chuông khá  
độc đáo. Ngoài bia đá, chuông đồng, khánh đá, khánh đồng, biển gỗ như các  
miền quê khác, Bắc Giang còn có bia được tạo tác bằng chất liệu gỗ, bia hộp  
(sách đá) cũng rất hiếm gặp ở các địa phương khác.  
Có 251 văn bia lưu danh người soạn văn, chiếm 17,2 % (251/1452) so với  
tổng số VBBG. Đội ngũ soạn giả văn bia rất đa dạng, nhưng các nhà khoa  
bảng (Trạng nguyên, Bãng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ, Phó bảng)  
chiếm số lượng nhiều nhất, sau đến các nhà sư, các sinh đồ, giám sinh và quan  
lại địa phương. Số lượng văn bia thì lớn, mà số soạn giả lưu danh như vậy là  
khá khiêm nhường. Câu nói người đời vẫn lưu truyền “khôn văn tế, dại văn  
bia” đã phản ánh đúng sự việc này. Có lẽ, vì những soạn giả quá cân nhắc,  
thận trọng, ngại sợ người đời đàm tiếu nên đã thận trọng, hạn chế lưu danh  
trên văn bia. Chỉ có người có học rộng, tri thức uyên thâm mới đủ tự tin để  
khắc danh “cẩn soạn” trên bia đá. Tác giả viết chữ trên VBBG thống kê có  
266 người, chiếm 18,3 % (266/1452), trong số đó có trên 30 thành phần tham  
gia, nhiều hơn vẫn là các quan chức làm công tác văn phòng từng thi đỗ Thư  
toán hoa văn làm việc ở Thị nội thư tả thuộc bộ Công thực hiện. Còn lại, khá  
nhiều bia do các Nho sinh, Giám sinh, Tú tài, Sinh đồ…ở các làng xã được  
mời viết chữ. Vùng Kinh Bắc/Bắc Giang rất hiếm phường thợ khắc đá, cho  
nên đa số VBBG do cơ quan chuyên môn của triều đình và các các phường  
9
thợ xứ Đông, xứ Thanh thực hiện. Số văn bia đề danh cơ quan khắc thạch,  
phường, thợ khắc chỉ chiếm xuất hiện trên 55 văn bia, chiếm 3,8 % (55/1452).  
Trong đó, thợ đá ở Ngọc Thạch cục và thợ đá phường Kính Chủ (Kinh Môn,  
Hải Dương) chiếm ưu thế.  
Cũng như văn bia Việt Nam, đồ án trang trí trên VBBG rất phong phú,  
phản ánh tư tưởng, tình cảm, phong cách thẩm mỹ của xã hội ở từng thời kỳ  
lịch sử khác nhau. Nhiều VBBG được đầu tư công sức, trí tuệ, sự tài khéo của  
người nghệ nhân khắc đá xứng đáng được tôn vinh là những tác phẩm điêu  
khắc đá nghệ thuật mẫu mực, xuất sắc.  
Hầu hết VBBG được viết bằng chữ Hán, số ít chữ Nôm. Hiện tượng kiêng  
húy cũng xuất hiện trên VBBG từ văn bia thời Trần (TK XIV) cho đến hết  
thời Nguyễn (năm 1945), nhưng xuất hiện tần xuất dầy hơn, triệt để hơn hay  
gặp ở văn bia thời Lê Trung hưng. Đa số văn bản VBBG còn giữ được đầy đủ  
nội dung, có địa chỉ rõ ràng và ít bị sửa chữa, làm giả hay đục xóa nên tư liệu  
phản ánh trong văn bia có độ xác tín cao.  
10  
CHƯƠNG 3  
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ LỊCH SỬ  
CỦA VĂN BIA TỈNH BẮC GIANG  
Văn bia Bắc Giang phản ánh nhiều thông tin có giá trị về lịch sử quê  
hương, đất nước trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng do quy định về dung  
lượng Luận án, nên trong chương này, chúng tôi chỉ trình bày một số giá trị  
lịch sử tiêu biểu được phản ánh qua VBBG. Đó là: . Góp phần tìm hiểu  
“danh xưng Việt Nam” và xác định một số địa danh hành chính trong lịch sử;  
. Phản ánh về các văn thần, võ tướng; . Phản ánh đóng góp của các hoạn  
quan, Thái giám với làng xã. Trong đó, là nội dung trọng điểm …  
3.1 Văn bia góp phần tìm hiểu “danh xưng Việt Nam” và một số địa  
danh hành chính trong lịch sử.  
3.1.1 Danh xưng Việt Nam trong thư tịch, bi ký thời Trung đại  
Ở t. Bắc Giang có 04 văn bia nhắc đến quốc danh Việt Nam và đều được  
soạn khắc trong khoảng thời gian giữa TK XVII. Đó là văn bia Tu tạo tiền  
đường Diên Quang tự dựng ở chợ chùa Diên Quang, xã th. Cẩm Bào, x. Xuân  
Cẩm, h. Hiệp Hoà. Bia do Nguyễn Hòa, thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất  
thân khoa Mậu Thìn (1628) soạn: “Việt Nam đại quốc/ Kinh Bắc cựu cương/  
Thuận An địa thắng/ Bắc Hà hình cường/ Gia Lâm giai cảnh/ Hiệp hòa danh  
hương/ Tình quang từ chủ/ Cẩm xuân lộng chương…”; Văn bia Diên Phúc tự  
tạo khai các sở lập bi ở chùa Diên Phúc, th. Yên Viên, x. Vân Hà, h. Việt Yên  
tạo năm Khánh Đức thứ 3 (1651) cũng nhắc tới quốc danh “Việt Nam” ngay  
trong phần chính văn: “Việt Nam tú khí, Kinh Bắc chân hình…”; Bia Hiển  
Khánh am bi/ tạo năm Thịnh Đức 3 (1655), ở lăng Chúa Đôi th. Thái Thọ, x.  
Thái Sơn, h. Hiệp Hòa cũng được nhắc đến ở ngay đầu bài minh: “Đệ nhất  
Việt Nam/Khả xưng Quế Trạo/Tú thủy triều tiền/ Kỳ sơn củng hậu/ Địa mạch  
nhất linh/ Thiên ân quảng tạo/ Mỹ Ngô tướng quan/ Tá Trịnh chủ hậu…  
Trong số văn bia kể trên, xét về văn cảnh và ngữ nghĩa thì hai chữ Việt  
Nam mà các tác giả soạn văn viết ra rõ ràng định vị Việt Nam là danh xưng  
của đất nước.  
3.1.2 Góp phần xác định một số địa danh hành chính trong lịch sử.  
Đặc biệt, trường hợp th.Trung Đồng, nằm sâu trong phần đất x. Vân  
Trung, h. Việt Yên, xung quanh là các làng xã của tg. Quang Biểu, h. Yên  
Dũng xưa, cách th.Thượng Đồng (xưa cũng thuộc sở Đại Tảo, h. Yên Phong)  
x. Hòa Long, h. Yên Phong hàng chục cây số. Nhưng trong văn bia Hậu Thần  
bi ký - Lập thạch bi ký do Tiến sĩ khoa Mậu Thìn Vũ Miên soạn văn cho biết  
thời kỳ này Trung Đồng thuộc sở Đại Tảo, h. Yên Phong. Đến văn bia Vi lập  
bi ký, tạo năm Thành Thái thứ 10 (1898) cho biết th. Trung Đồng thuộc sở Đại  
Tảo, tổng Hoàng Mai, h. Yên Dũng, ph. Lạng Giang chứ không thuộc h. Yên  
Phong, t. Bắc Ninh. Nội dung văn bia đã giúp chúng ta lý giải về những truyền  
thuyết dân gian về việc dân làng Trung Đồng (h. Việt Yên, t. Bắc Giang) và  
làng Thượng Đồng (x.Hòa Long, h. Yên Phong, t. Bắc Ninh) vốn có chung  
nguồn gốc sau hai làng kết chạ Quan họ với nhau. Cả hai làng cùng có miếu  
thờ thờ Bà chúa tổ nghề hát Quan họ.  
3.2 Văn bia phản ánh về các văn thần, võ tướng.  
11  
3.2.1 Văn thần, võ tướng Bắc Giang trong lịch sử.  
Bắc Giang là miền thượng của xứ Kinh Bắc, miền đất sinh ra nhiều  
văn thần, võ tướng có nhiều đóng góp trong việc xây dựng và bảo vệ cương  
thổ đất nước. Lịch sử nước nhà ghi lại những mốc son của dân tộc Trong sách  
Dư địa chí, Nguyễn Trãi đã xem miền đất Bắc Giang là miền đất có vị trí  
trọng yếu của đất nước, như“phên giậu”phía bắc của kinh đô Thăng  
Long.  
Về các văn thần, VBBG khắc ghi các nhà khoa bảng như Đệ nhất  
giáp Nguyễn Viết Chất, Trạng nguyên Giáp Hải, Tiến sĩ Giáp Lễ, Tiến  
sĩ Hoàng Công Phụ, Tiến sĩ Thân Khuê, Tiến sĩ Trần Đăng Tuyển, Tiến  
sĩ Thân Toàn, Tiến sĩ chu Danh Tể, Tiến sĩ Thân Hành, Tiến sĩ Trịnh  
Ngô Dụng, Đình nguyên Tiến sĩ Nguyễn Đình Tuân… Có hàng trăm võ  
tướng được triều đình ban cho phẩm tước cao trọng. Qua chính sử và  
văn bia phản ánh còn thấy xuất hiện nhiều gia đình, dòng họ võ lược.  
3.2.2 Di tích tôn thờ văn thần, võ tướng ở Bắc Giang.  
Các di tích tôn thờ văn thần, võ tướng ở t. Bắc Giang chủ yếu phân bố ở  
TP. Bắc Giang, h. Hiệp Hòa, h.Việt Yên, h. Yên, Yên Dũng, h. Tân Yên và h.  
Lạng Giang. Các huyện miền núi như: Sơn Động, Yên Thế, Lục Nam, Lục  
Ngạn có số lượng rất ít.  
3.2 VBBG góp phần tìm hiểu công tích các văn thần, võ tướng.  
Có 231 vị văn thần, võ tướng, hoạn quan được phản ánh trong 184 VBBG,  
những danh nhân lịch sử đó chủ yếu ở giai đoạn TK XVI - XVIII, ngoài ra có  
01 vị thời Tây Sơn, 02 vị thời Nguyễn. Trong số 231 vị được phản ánh qua  
VBBG, có rất ít người được ghi chép trong chính sử, vì vậy, văn bia là nguồn  
tư liệu chân xác bổ khuyết cho chính sử về những danh nhân lịch sử văn hóa  
Bắc Giang thời trung đại.  
Các văn thần được phản ánh qua VBBG là các nhà khoa bảng như Trạng  
nguyên Giáp Hải (1507 - 1586), người x. Dĩnh Kế, h. Phượng Sơn (sau đổi  
thành Phượng Nhãn), ph. Lạng Giang. Tiến sĩ Hoàng Công Phụ người x. Yên  
Ninh, t. Mật Ninh, h. Yên Dũng (nay là th. Yên Ninh , trr. Nếnh, h. Việt  
Yên)…và một số danh nhân khác như: Thám hoa Hoàng Sầm, Tiến sĩ Nguyễn  
Kính, Tiến sĩ Nguyễn Duy Năng, Tiến sĩ Trịnh Ngô Dụng, Đình nguyên Tiến  
sĩ Nguyễn Đình Tuân …hay các vị đỗ Hương cống, Cử nhân có ra làm quan  
giúp nước.  
Văn bia về các văn thần thường dựng tại các văn chỉ, từ đường nên có ý  
nghĩa và tác động rất tốt về truyền thống “tôn sư trọng đạo”, khuyến khích  
việc học hành để theo đòi cử nghiệp cho thế hệ sau.  
Về các võ tướng, chúng tôi dựa theo hoàn cảnh xuất thân để phân chia võ  
tướng thành 3 thành phần: Võ tướng xuất thân từ con đường tiến cử, bảo cử,  
thế tập và tập ấm; võ tướng xuất thân từ hoạn quan nhưng chuyên theo nghiệp  
binh; xuất thân hoạn quan nhưng làm thị thần chuyên hầu hạ trong cung vua  
phủ chúa. Ba thành phần võ tướng kể trên ngoài những đóng góp tích cực cho  
triều đình, phủ liêu họ còn có những công tích rất lớn cho các làng xã. Nhiều  
di sản văn hóa là các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, các công trình  
phúc lợi cộng đồng ở các làng xã Bắc Giang còn tồn tại đến ngày nay là nhờ  
tâm đức của họ. Có 184 VBBG liên quan đến văn thần, võ tướng. Hầu hết võ  
tướng được phản ánh qua VBBG xuất thân từ hoạn quan và thái giám (quan  
12  
hầu ở cung vua, phủ chúa) nhưng sau họ chú tâm theo con đường binh nghiệp  
và trở thành các võ tướng nổi tiếng như Hán Quận công Thân Công Tài,  
Khánh Quận công Hà Công Dung, Đĩnh Quận công Ngô Công Mỹ, Lân Quận  
công Lương Đăng Minh…  
3.3 VBBG phản ánh về hoạn quan, thái giám.  
Có 161 VBBG phản ánh về 126 viên hoạn quan, thái giám dưới thời Lê  
Trung hưng (TK XVI - XVIII). Các viên quan thái giám là thành phần đóng  
góp nhiều công của cho các làng xã Bắc Giang trong rất nhiều hoàn cảnh như:  
xây dựng, tu tạo đình chùa, cấu cống, đường sá, thuế khóa... Bởi họ là những  
viên quan được hưởng nhiều bổng lộc triều đình nên giàu có và có điều kiện  
kinh tế để cúng tiến tiền ruộng công đức cho làng xã xây dựng nhiều công  
trình phúc lợi và những việc làm có lợi ích cho cộng đồng. VBBG là nguồn tư  
liệu chính, rất phong phú để các nhà nghiên cứu khai thác, biên soạn nhiều tập  
sách giới thiệu về danh nhân lịch sử văn hóa địa phương.  
Sự ra đời của hàng trăm ngôi chùa, ngôi đình, sinh từ, lăng mộ đá có quy  
mô kiến trúc đồ sộ nay đã là các di tích lịch sử văn hóa gắn liền với công lao  
của các quan thái giám. Nó được xem là hiện tượng văn hóa đặc thù ở xứ Bắc.  
Tính từ triều vua Hoằng Định (1601 - 1619) đến niên hiệu Cảnh Hưng (1740 -  
1787) trải 11 đời vua và đặt/dùng 20 niên hiệu thì hầu hết các niên đại đều  
xuất hiện văn bia khắc ghi những đóng góp của quan thái giám cho việc xây  
dựng, tôn tạo các công trình kiến trúc của cộng đồng làng xã.  
Văn bia đã phản ánh những đóng góp của các quan thái giám trong việc  
xây dựng tôn tạo các ngôi chùa thờ Phật chiếm số lượng đáng kể.  
Qua VBBG, thấy sự đóng góp tiền của các quan thái giám cho làng xã  
thời Lê Trung hưng là rất lớn. Bên cạnh việc công đức cho việc xây dựng, tu  
tạo chùa chiền hay các chợ tam bảo các viên quan thái giám còn quan tâm  
giúp đỡ đặc biệt cho các làng xã xây dựng các ngôi đình, đến thờ thần. Có  
nhiều vị thái giám đã công đức cho 5 làng xã, mỗi làng xã một ngôi đình lớn.  
Thậm chí, có vị đã giúp dân xây dựng đình làng còn bỏ tiền mua thêm ruộng,  
ao, đồ tế khí để hành lễ. Ngoài ra, còn có văn bia ghi việc tạo tượng, đúc  
chuông, xây dựng bến đò tam bảo, qua nhà chùa đóng góp giúp dân nộp  
thuế…  
Công tích của các hoạn quan, thái giám với làng xã là rất lớn. Tìm hiểu về  
lệ cấp bổng lộc (Ngụ lộc giám ban, ngụ lộc Tư lễ giám, lộc ruộng sứ thần, lộc  
ruộng huệ dưỡng…), lệ cấp vườn đất, lệ phong tặng cấp tuất, lệ tự sự …của  
triều đình dưới triều vua Lê Hồng Đức thứ 8 (1467) và triều vua Bảo Thái thứ  
1 (1720) thấy rằng bổng lộc của quan lại, đặc biệt là những viên quan có phẩm  
tước cao rất rất lớn so với mức thu nhập của người dân. Chính vì thế họ mới  
có điều kiện để đóng góp giúp đỡ làng xã giải quyết những khó khăn về kinh  
tế.  
Trong số đó, hầu hết là các vị võ quan, thị thần ở giai đoạn thế kỷ XVII -  
XVIII. Họ thường công đức để trùng tu tôn tạo đình, chùa làng và các công  
trình phúc lợi công cộng. Việc các võ tướng, hoạn quan, thái giám thời Lê  
Trung hưng ở Bắc Giang thường công đức tiền ruộng để trùng tu tôn tạo đình,  
chùa làng và các công trình phúc lợi công cộng khác của làng cũng là thể theo  
nguyện vọng của cá nhân họ, nhưng vấn đề đáp nghĩa công ơn sinh thành, làm  
đẹp lòng cha mẹ, ông bà, và nghĩa tình thê thiếp là yếu tố tình cảm, tinh thần  
13  
để họ đứng ra làm việc lễ nghĩa lưu truyền đến muôn đời. Ngoài việc công đức  
tiền ruộng, ao vườn, thuế khóa… về cuối đời, một số vị còn lo xây dựng am  
thờ, lăng mộ cho mình. Về hiện tượng này, có thể được hiểu là, người phương  
Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng, coi việc qua đời của mình chỉ là  
thay đổi không gian tồn tại. Người còn sống có phương thức tồn tại ở cõi  
dương, còn người chết có phương thức tồn tại ở cõi âm. Người ở cõi âm vẫn là  
thành viên của gia đình. Mọi việc lớn nhỏ diễn ra trong gia đình, người ở cõi  
dương đều phải xin ý kiến người ở cõi âm. Việc các vị võ quan xây am thờ  
hay từ đường là để tạo cơ sở vật chất để con cháu ở cõi dương có điều kiện hỏi  
ý kiến của bậc tiền bối sau khi đã từ biệt cõi dương và hoạt động ở cõi âm.  
Số lượng tiền, ruộng của các vị võ quan công đức cho làng xã có giá trị  
tương đối lớn so với mặt bằng đời sống của người dân đương thời, chứng tỏ  
họ có tiềm lực kinh tế, có uy thế kinh tế và chính trị trong xã hội. Thêm nữa,  
họ cũng muốn chứng tỏ thế mạnh của mình đối với dân làng với tâm lý “áo  
gấm về làng” của những người có nguồn gốc nông dân. Hầu hết văn bia có  
liên quan đến các vị võ quan thời Lê Trung hưng ở Bắc Giang đều do các vị trí  
thức có học vị, chức tước cao và có mối quan hệ thân thiết với các võ quan  
soạn văn bia,… Chắc rằng, trong thâm tâm, các võ quan muốn chứng tỏ cho  
thiên hạ biết rằng: mặc dù là võ quan nhưng họ có mối quan hệ rộng rãi với  
các bậc trí thức bậc cao đương thời chứ không thuần túy là những người võ  
biền, mà họ cũng như những văn nhân tài tử khác, họ cũng hiểu được giá trị  
lịch sử của công trạng, sự nghiệp của họ đối với dân làng, đối với thế hệ mai  
sau.  
Tiểu kết chương 3:  
Chương III, luận án đã khảo sát tư liệu để nghiên cứu về quốc danh Việt  
Nam được phản ánh trong các thư tịch, văn khắc Hán Nôm đã được công bố  
và đi sâu tìm hiểu 04 VBBG được soạn khắc ở TK XVII, thời Lê Trung hưng  
có nhắc đến quốc danh Việt Nam. Trong 04 VBBG, cụm từ “Việt Nam” được  
thể hiện khá rõ như một quốc danh, nhất là khi vận dụng ngữ pháp Hán cổ  
thấy chức năng của cụm từ này là danh từ và luôn đứng trước danh từ biểu thị,  
hàm nghĩa tên gọi của xứ, phủ, huyện, xã là các cấp quản lý hành chính dưới  
triều đình (quốc gia) đã được xác định.  
Một số địa danh hành chính trên địa bàn tỉnh Bắc Giang còn tồn nghi  
trong việc xác định, quy chiếu với địa danh hành chính hiện nay cũng đã được  
luận án đề cập.  
Nội dung được luận án tập trung trong chương này là vấn đề khảo sát 185  
văn bia phản ánh về các văn thần, võ tướng, hoạn quan để nghiên cứu và đưa  
ra những thông tin về họ tên, chức tước, công tích của một số danh nhân lịch  
sử có ảnh hưởng khá sâu sắc trong đời sống văn hóa tinh thần ở các làng xã  
tỉnh Bắc Giang. Đặc biệt, chỉ trong khoảng thời gian hai thế kỷ (TK XVII,  
XVIII) có 134 văn bia khắc ghi công tích của hơn 100 vị võ tướng, hoạn quan  
có đóng góp tiêu biểu cho các làng xã tỉnh Bắc Giang. Những công tích của  
các võ tướng, hoạn quan Bắc Giang cho đất nước một phần đã được sử sách  
ghi công, còn phần đóng góp cũng rất đáng ghi nhận của họ cho quê hương  
bản quán được các làng xã ghi nhận trên bi ký lưu lại là nguồn sử liệu quý  
báu, hữu dụng cho việc nghiên cứu về lịch sử địa phương.  
14  
Trên cơ sở tìm ra đặc điểm của một số văn bia có liên quan đến một số vị  
võ quan thời Lê Trung hưng ở Bắc Giang, chúng tôi thấy ở đó đã ít nhiều phản  
ánh tâm lý và đời sống tâm linh của họ. Cũng trên cơ sở phát hiện đó, chúng  
tôi cho rằng đây là một trong nhiều cơ sở giúp chúng ta hiểu rõ hơn tư tưởng  
của một bộ phận quan chức là võ quan và thái độ của họ đối với đời sống tinh  
thần của xã hội. Chúng tôi cho rằng, đóng góp của các hoạn quan, thái giám  
với làng xã Bắc Giang là rất lớn lao, nhất là lĩnh vực bảo tồn, phát huy giá trị  
di sản văn hóa. Với hướng tiếp cận này sẽ giúp chúng ta tìm thấy ở văn bia về  
phản ánh về các võ tướng có thêm nhiều thông tin bổ ích và lí thú.  
15  
CHƯƠNG 4  
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG  
PHẢN ÁNH QUA VĂN BIA TỈNH BẮC GIANG  
Bắc Giang là một miền đất cổ, có địa hình hội đủ các vùng (vùng núi,  
trung du, đồng bằng, đô thị), đa dân tộc nên trong cộng đồng làng xã có nhiều  
hình thức sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng. Có ba tôn giáo được thịnh hành ở t.  
Bắc Giang, đó là: đạo Phật giáo, đạo Nho và đạo Thiên chúa. Hiện chưa phát  
hiện văn bia phản ánh về Thiên chúa giáo. Văn bia về tôn giáo, tín ngưỡng  
đồng bào dân tộc thiểu số có số lượng rất ít và mới phát hiện 02 văn bia hậu  
Thần, do ảnh hưởng nét văn hóa của người Kinh/Việt. Vì vậy, chương này  
luận án đi sâu khảo sát, tìm hiểu một số giá trị văn hóa truyền thống của cư  
dân Kinh/ Việt được phản ánh qua VBBG.  
4.1 Văn bia góp phần tìm hiểu văn hóa Nho học ở làng xã.  
4.1.1 Văn bia phản ánh các thiết chế văn hóa Nho học  
Dưới thời phong kiến, nhất là dưới triều đại Lê - Nguyễn, đạo Nho được  
triều đình và các tầng lớp tri thức đề cao. Nơi thờ Khổng Thánh và các vị tiên  
hiền là nơi tụ hội sinh hoạt của văn thuộc, hội Tư văn địa phương. Họ là  
những người có học, từng theo học chữ Thánh hiền để theo đòi cử nghiệp rồi  
hướng ra giúp đời. Nếu bước đường hoạn lộ chưa đạt họ ở lại quê hương và  
trở thành trí thức bình dân ở các làng xã. Một số tấm bia văn từ, văn chỉ ở các  
làng xã đã phản ánh rất rõ những hình thức sinh hoạt của các trí thức địa  
phương. Ở t. Bắc Giang hiện nay có 22 di tích văn chỉ, văn từ thờ Khổng Tử  
và các bậc tiên hiền. Trên các di tích, phế tích ấy có 42 văn bia khắc ghi nội  
dung liên quan đến sinh hoạt Nho giáo. Ngoài ra, ở một số ngôi đình, từ  
đường dòng họ có truyền thống khoa bảng, hiếu học cũng lưu giữ một số văn  
bia ghi về những người đỗ đạt ở các kỳ thi Hán học thời phong kiến.  
Có 32 văn bia nhắc đến việc xây dựng, tôn tạo nơi thờ văn từ, văn chỉ, nơi  
tôn thờ đạo Khổng và sinh hoạt Nho giáo. 09 văn bia đề danh người thi đỗ và  
chỉ có 01 văn bia ghi việc xây dựng trường học. Qua văn bia thấy rằng: Đa số  
các văn từ, văn chỉ phản ánh sinh hoạt đạo Nho ở Bắc Giang được ra đời từ  
TK XVII, XVIII, số ít xây dựng ở TK XIX.  
4.1.2 Văn bia ghi danh các vị Nho học đỗ đạt  
Lịch sử khoa cử nước nhà kéo dài 850 năm, miền đất Bắc Giang có 58 vị  
đỗ đại khoa, trong đó có 2 Trạng nguyên, 1 Bảng nhãn, 3 Thám hoa, 1 Đình  
nguyên Tiến sĩ, còn lại 51 vị là Hoàng giáp và Đồng tiến sĩ xuất thân. Ngoài ra  
còn có hàng trăm người thi đỗ Hương cống, Cử nhân… Trên địa bàn tỉnh từng  
xuất hiện một số gia đình khoa bảng như gia đình họ Thân (làng Yên Ninh, h  
Việt Yên) có 04 cha con ông cháu đỗ đại khoa; họ Thân làng Phương Đậu  
(TP. Bắc Giang) có 03 thế hệ cha con ông cháu đỗ Tiến sĩ; họ Đào (Song Khê,  
TP. Bắc Giang) có 01 vị Trạng nguyên, 02 Tiến sĩ. Thậm chí, làng Yên Ninh  
(Việt Yên) có 10 vị đỗ khoa, mà Tiến sĩ Thân Nhân Trung là người khai khoa  
cho truyền thống hiếu học quý báu ấy. Trải qua mấy trăm năm với biết bao  
thăng trầm của lịch sử bia đá ở quê hương ghi lại sự việc ấy không còn đáng  
16  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 28 trang yennguyen 19620 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Nghiên cứu văn bia tỉnh Bắc Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_nghien_cuu_van_bia_tinh_bac_giang.pdf