Luận văn Định giá cổ phiếu tại các Ngân hàng Thương mại Cổ phần cho hoạt động đầu tư – Trường hợp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Trên Thị trường chứng khoán Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  
-----------------------  
HOÀNG VĂN THẮNG  
ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ  
PHẦN CHO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ – TRƯỜNG HỢP CỦA NGÂN  
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN – TRÊN  
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM  
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  
-----------------------  
HOÀNG VĂN THẮNG  
ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ  
PHẦN CHO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ – TRƯỜNG HỢP CỦA NGÂN  
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN – TRÊN  
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM  
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng  
Mã số: 60340201  
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. BÙI KIM YẾN  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi tên là: Hoàng Văn Thắng, sinh ngày: 05/10/1978, tại Hà Nam.  
Là học viên cao học khóa 20, ngành tài chính – ngân hàng của Trường  
Đại học Kinh tế TP.HCM. Mã số học viên: 7701101961  
Tôi xin cam đoan đề tài: “Định giá cổ phiếu tại các Ngân hàng TMCP  
cho hoạt động đầu tư – Trường hợp của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương  
Tín – trên Thị trường chứng khoán Việt Nam”.  
Giảng viên hướng dẫn khoa học: PGS. TS Bùi Kim Yến  
Đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, được đúc kết từ quá  
trình học tập và nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, dưới sự hướng dẫn  
tận tình của Cô hướng dẫn khoa học là PGS.TS Bùi Kim Yến. Các nội dung  
và kết quả trong nghiên cứu này là trung thực và chưa từng được ai công bố  
trong bất cứ công trình nào. Số liệu trong các mô hình được chính tôi thu  
thập, xử lý và có ghi rõ nguồn gốc. Ngoài ra, trong luận văn còn có sử dụng  
một số trích dẫn từ các nghiên cứu khác có ghi rõ trong phần tài liệu tham  
khảo và phần trích dẫn.  
Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước  
Hội Đồng nhà trường.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 11 năm 2013  
TÁC GIẢ LUẬN VĂN  
HOÀNG VĂN THẮNG  
LỜI CẢM ƠN  
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các  
Thầy Cô và Phòng quản lý đào tạo trong chương trình Sau đại học  
của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình  
hướng dẫn truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm thực  
tế quý báu, và đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu  
trong suốt thời gian qua.  
Đặc biệt, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS  
Bùi Kim Yến, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều  
trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.  
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và cơ  
quan nơi tôi đang công tác là Ngân hàng TMCP Nam Á đã hết lòng  
quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận  
văn tốt nghiệp này.  
Tác giả luận văn  
Hoàng Văn Thắng  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Chú thích các từ viết tắt  
Từ viết tắt  
ACB  
BV  
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu  
Giá trị sổ sách mỗi cổ phần thường  
Công ty chứng khoán  
CTCK  
CTG  
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Viettinbank  
Mô hình chiết khấu cổ tức  
DDM  
DN  
Doanh nghiệp  
EBIT  
EIB  
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay  
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Xuất nhập  
khẩu Việt Nam  
EPS  
Thu nhập trên mỗi cổ phần  
FCFE  
FCFF  
HNX  
HSX  
Mô hình chiết khấu dòng tiền thuần vốn chủ sở hữu  
Mô hình chiết khấu dòng tiền thuần của công ty  
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội  
Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.  
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội  
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam  
MBB  
NHNN  
P/BV  
Tỷ số giá thị trường trên giá trị sổ sách mỗi cổ phần  
Từ viết tắt  
Chú thích các từ viết tắt  
thường  
P/E  
Tỷ số giá thị trường trên thu nhập mỗi cổ phần  
Chi phí nợ vay  
Rd  
Re  
Chi phí vốn chủ sở hữu  
ReInv  
Rf  
Tỷ lệ tái đầu tư  
Lãi suất phi rủi ro  
Rm  
Tỷ suất sinh lời thị trường  
ROC0  
Sacombank/STB  
SHB  
Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu  
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín  
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội  
Thương mại cổ phần  
TMCP  
TTCK  
UBCKNN  
VCB  
Thị trường chứng khoán  
Ủy ban chứng khoán Nhà nước  
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Vietcombank  
VnIndex  
Chỉ số thị trường chứng khoán tại sàn giao dịch TP Hồ  
Chí Minh  
WACC  
Chi phí sử dụng vốn bình quân  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ  
MỤC LỤC  
1
LỜI NÓI ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, có vai  
trò quan trọng trong huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Chính vì  
thế xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán là một quy luật tất yếu của  
các quốc gia có nền kinh tế thị trường và Việt Nam cũng không nằm ngoài  
quy luật đó.  
Mười ba năm (kể từ ngày chính thức đi vào hoạt động 28/07/2000)  
chưa phải là quá dài so với lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán thế  
giới, nhưng cũng quá đủ để nhà đầu tư trải qua những cung bậc cảm xúc khác  
nhau. Giai đoạn 2000 – 2007 là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử 7 năm hình  
thành thị trường chứng khoán, chỉ số VN-Index đạt đỉnh hơn 1.170 điểm vào  
ngày 12/03/2007. Ở giai đoạn này cả thị trường chứng khoán chưa niêm yết  
OTC cũng như thị trường niêm yết đều có sự phát triển bùng nổ cùng với sự  
hỗ trợ tích cực của nền kinh tế tăng trưởng nóng, các chỉ số và thông tin vĩ mô  
có nhiều điểm tích cực. Chính sự tăng điểm theo xu hướng liên tục đã đưa lại  
một lợi nhuận cao cho nhà đầu tư (con số lợi nhuận kỷ lục đạt được từ chứng  
khoán là 600% trên thị trường niêm yết).  
Chứng khoán thời kỳ này được bàn tán khắp nơi, từ quán trà đá vỉa hè  
cho đến công sở, điều này kéo đến một lượng lớn các nhà đầu tư bỏ tiền tham  
gia vào thị trường chứng khoán. Chưa bao giờ, nhà đầu tư kiếm tiền dễ đến  
thế, cứ sáng mua chứng khoán là chiều đã cầm chắc phần lời. Câu nói được  
mọi người truyền nhau trong giai đoạn này chính là người người đầu tư chứng  
khoán, nhà nhà đầu tư chứng khoán, ngành ngành đầu tư chứng khoán. Tuy  
nhiên chất lượng kiến thức của nhà đầu tư bấy giờ còn rất thấp bởi sự tham  
   
2
gia đầu tư của nhiều tầng lớp, từ anh xe ôm hay bà nội trợ đến hầu hết dân  
công sở ai cũng lao vào đầu tư chứng khoán, miễn sao cứ mua được chứng  
khoán là đã có khả năng sinh lời bất kể cổ phiếu đó là của một công ty mới  
thành lập hay kinh doanh thua lỗ.  
Nhưng kể từ cuối năm 2007 cho đến nay, kinh tế thế giới nói chung và  
Việt Nam nói riêng rơi vào khủng hoảng, đã làm cho thị trường chứng khoán  
non trẻ của Việt Nam biến động khôn lường, giảm sâu và đỉnh điểm là tháng  
2/2009, thị trường còn 235 điểm. Đây là thời kỳ làm cho các nhà đầu tư phần  
lớn thua lỗ nặng nề gây ra nhiều hậu quả cho các nhà đầu tư và xã hội. Giai  
đoạn này đầu tư chứng khoán chứa đựng quá nhiều rủi ro, bị méo mó và có  
nét tương đồng như cờ bạc bởi các thủ thuật làm giá, tận dụng lợi thế thông  
tin và quy mô vốn, đầu tư lướt sóng, đầu tư theo xu thế đám đông để thao  
túng thị trường hoặc một số cổ phiếu.  
Thị trường chứng khoán giờ đây đã bước vào một giai đoạn phát triển  
mới, những nhà đầu tư không có kỹ năng hay kiến thức cũng như chiến thuật  
khó có thể đạt hiệu suất sinh lợi cao. Vì thế định giá chứng khoán để xác định  
giá trị nội tại của doanh nghiệp là vấn đề hết sức cần thiết để ra quyết định  
của nhà đầu tư. Nhà đầu tư không thể mua cổ phiếu theo cảm tính của chính  
bản thân mình, mà cần có cái nhìn toàn diện thông qua những phân tích  
chuyên sâu về chứng khoán mà mình lựa chọn. Chính vì lẽ đó, tác giả đã lựa  
chọn đề tài “Định giá cổ phiếu tại các Ngân hàng thương mại cổ phần cho  
hoạt động đầu tư – Trường hợp của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương  
Tín - trên Thị trường chứng khoán Việt Nam” như một ví dụ điển hình cho  
hoạt động định giá doanh nghiệp, nhất là cổ phiếu ngành ngân hàng cho khóa  
luận của mình.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
 
3
Đề tài này nghiên cứu có hai mục tiêu chính:  
- Định giá cổ phiếu tại các Ngân hàng thương mại cổ phần cho hoạt động  
đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.  
- Trên cơ sở định giá cổ phiếu của trường hợp Ngân hàng Thương mại  
Cổ phần Sài Gòn Thương Tín để đưa ra một số khuyến nghị đối với  
nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán cũng như cho cơ quan quản lý.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài này là phương pháp  
thống kê, khảo sát, phân tích sự kiện và phân tích ứng dụng.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Ngân hàng Thương mại Cổ  
phần Sài Gòn Thương Tín.  
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là các vấn đề liên quan đến định giá  
cổ phiếu ngân hàng và khung thời gian định giá là 31/12/2012.  
5. Kết cấu đề tài  
Để làm rõ vấn đề nghiên cứu, ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục đề  
tài được trình bày như sau:  
- Chương 1: Tổng quan về hoạt động đầu tư và định giá cổ phiếu  
trên thị trường chứng khoán  
- Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư và vấn đề định giá cổ  
phiếu Ngân hàng cho hoạt động đầu tư trên thị trường chứng  
khoán Việt Nam  
- Chương 3: Giải pháp ứng dụng định giá cổ phiếu ngân hàng cho  
hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.  
     
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ ĐỊNH GIÁ  
CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN  
1.1  
Tổng quan về hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán  
1.1.1 Khái niệm về đầu tư chứng khoán  
Đầu tư chứng khoán là việc chỉ bỏ vốn tiền tệ ra mua các chứng khoán  
kiếm lời. Việc kiếm lời trong đầu tư chứng khoán có thể là từ thu nhập cổ tức,  
trái tức nhưng cũng có thể là chênh lệnh giá do kinh doanh chứng khoán đem  
lại. Mục tiêu của đầu tư chứng khoán là nhằm kiếm lời từ hai nguồn thu nhập  
nói trên, nhưng an toàn vốn trong đầu tư chứng khoán là vấn đề quan trọng.  
Mục tiêu đầu tư chứng khoán có đạt được như ý muốn trong chính sách  
đầu tư hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các rủi ro trong đầu tư. Đối với các  
chủ đầu tư, rủi ro là nhân tố khách quan vượt ra ngoài tầm quản lý và khống  
chế của họ. Tác động của rủi ro đến mục tiêu đầu tư hoàn toàn phụ thuộc vào  
môi trường đầu tư. Do đó, đầu tư chứng khoán phải là hành động có cân nhắc,  
có phân tích khoa học đến môi trường đầu tư, đến rủi ro có thể xảy ra trong  
thời gian đầu tư.  
1.1.2 Khái niệm về nhà đầu tư  
Nhà đầu tư chứng khoán là những cá nhân, tổ chức sở hữu chứng khoán  
vì mục đích kiếm lời. Lợi nhuận của nhà đầu tư chứng khoán có hai dạng:  
Một là, nhà đầu tư có được lợi tức do chứng khoán đó mang lại. Khoản  
tiền này do tổ chức phát hành chứng khoán chi trả dưới dạng cổ tức hoặc lãi  
trái phiếu.  
Hai là, nhà đầu tư có thể được thu nhập từ chênh lệch giá từ việc mua,  
bán chứng khoán trên thị trường.  
       
5
Pháp luật chứng khoán rất coi trọng việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu  
tư và coi đó là nguyên tắc khi xây dựng Luật chứng khoán năm 2006. Theo  
Điều 5 Luật chứng khoán quy định về chính sách phát triển thị trường chứng  
khoán có ghi nhận: “Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện  
thuận lợi để tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế, các tầng lớp nhân  
dân tham gia đầu tư và hoạt động trên thị trường chứng khoán nhằm huy động  
các nguồn vốn trung hạn và dài hạn cho đầu tư phát triển”. Nhà đầu tư chứng  
khoán được chia thành hai loại là nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư cá nhân.  
1.1.2.1 Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp  
Theo cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam, nhà đầu tư chứng khoán  
chuyên nghiệp là những nhà đầu tư tổ chức có tư cách pháp nhân, như công ty  
chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán và những định chế tài chính khác như:  
Ngân hàng, công ty tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm…  
1.1.2.2 Nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp  
Nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp là những cá nhân, tổ  
chức khác trong nền kinh tế. Đó thường là những nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ,  
mức độ am hiểu và tham gia thị trường còn tương đối hạn chế.  
1.1.3 Chiến lược đầu tư chứng khoán  
1.1.3.1 Khái niệm và các chiến lược đầu tư chứng khoán  
Trên thị trường chứng khoán các nhà đầu tư không thể xem việc đầu tư  
vào chứng khoán là một cuộc chơi may rủi mà muốn đạt được hiệu quả cao  
trong đầu tư chứng khoán, vấn đề nghiên cứu thị trường và lựa chọn chiến  
lược đầu tư là rất cần thiết, đặc biệt là đối với những nhà đầu tư có tổ chức.  
       
6
Chiến lược đầu tư cổ phiếu là toàn bộ kế hoạch, cách thức đầu tư cổ  
phiếu của nhà đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định để đạt được mục  
tiêu lợi nhuận.  
Chiến lược đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu và khả năng chấp  
nhận rủi ro của mỗi nhà đầu tư.  
Để đạt được mục tiêu lợi nhuận mỗi nhà đầu tư nên lựa chọn cho một  
hay nhiều chiến lược đầu tư thích hợp. Chiến lược đầu tư được thiết lập trước  
khi thực hiện đầu tư, thể hiện sự đánh giá của nhà đầu tư trên khắp các lĩnh  
vực, nó thể hiện ý chí và mong muốn của nhà đầu tư và nhà đầu tư sẽ theo  
đuổi chiến lược này trong suốt thời gian đầu tư.  
Xét theo mục đích đầu tư và rủi ro có thể chấp nhận được, có thể có các  
chiến lược đầu tư sau:  
- Chiến lược đầu tư tăng trưởng: Trong chiến lược này, các nhà đầu tư  
sẽ lựa chọn các công ty có mức tăng trưởng cao trên thị trường. Các  
nhà đầu tư tăng trưởng hy vọng bằng việc mua và nắm giữ những cổ  
phiếu như vậy trong khoảng thời gian dài, giá của những cổ phiếu đó sẽ  
tăng, từ đó sẽ kéo theo danh mục đầu tư tăng trưởng cũng sẽ tăng.  
Thomas Rowe Price, được xem là cha đẻ của đầu tư tăng trưởng. Với  
triết lý quản lý đầu tư của ông dựa trên kỷ luật đầu tư, sự kiên định  
trong quá trình và phân tích cơ bản.  
- Chiến lược đầu tư giá trị: Nhà đầu tư giá trị được định nghĩa một cách  
đơn giản là những người tìm kiếm cổ phiếu “giá hời”. Cổ phiếu mà  
hiện thị trường đang định giá thấp hơn giá trị của nó. Cả về lý thuyết và  
thực tế, chiến lược đầu tư giá trị là chiến lược có độ rủi ro thấp nhất  
trong tất cả các chiến lược đầu tư.  
7
- Chiến lược đầu tư theo đà tăng trưởng: Trong chiến lược đầu tư theo  
đà tăng trưởng, các nhà đầu tư tìm kiếm và đầu tư vào những cổ phiếu  
đang tăng trưởng. Hầu hết các cổ phiếu đều có giai đoạn bùng nổ tăng  
trưởng hay còn gọi là đà tăng trưởng. Điều lý tưởng nhất đối với các  
nhà đầu tư theo đà tăng trưởng là bắt kịp những đợt sóng lớn nhất, lướt  
trong khoảng thời gian hoàn hảo và rút lui vào thời điểm hoàn hảo.  
Chiến lược đầu tư này chứa đựng nhiều rủi ro, bởi vì các cổ phiếu đang  
có đà tăng trưởng thường đã đi được chặng đường dài và có tốc độ tăng  
nhanh nhất. Các cổ phiếu này sẽ đạt đến kỷ lục mới và những điều  
chỉnh tất yếu có thể đến rất nhanh và gây ra nhiều hậu quả khôn lường.  
- Chiến lược đầu tư kỹ thuật: Trong chiến lược đầu tư kỹ thuật, các nhà  
đầu tư luôn tin tưởng rằng tất cả thông tin về một công ty đều được thể  
hiện qua giá cổ phiếu. Các nhà đầu tư theo trường phái này cho rằng  
các bản báo cáo lợi nhuận, kết quả đạt được trong nhóm ngành, tin tức  
mới nhất, thậm chí các con số dự đoán, tin đồn về khả năng sáp nhập  
hay mua lại đều được phản ánh trong giá cổ phiếu, do đó, họ chỉ quan  
tâm đến các chi tiết trong biểu đồ cổ phiếu, đặc biệt là xu hướng tăng  
và xu hướng giảm. Thường các nhà đầu tư kỹ thuật sử dụng công cụ  
đưa ra dấu hiệu mua vào và bán ra trong ngắn hạn.  
- Chiến lược đầu tư từ trên xuống dưới: Trong chiến lược đầu tư này,  
nhà đầu tư xem xét trước hết ở phạm vi rộng lớn là thế giới, quốc gia,  
sau đó lựa chọn loại thị trường để đầu tư, kế đến là ngành, và cuối cùng  
là chọn công ty có khả năng sinh lời tốt nhất trong ngành lựa chọn đầu  
tư.  
- Chiến lược giao dịch nội bộ: Nhà đầu tư sẽ quyết định mua hay bán  
dựa trên những quyết định của thành viên trong công ty. Quyết định  
mua với số lượng lớn của thành viên trong công ty cho thấy giá cổ  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 129 trang yennguyen 14760 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Định giá cổ phiếu tại các Ngân hàng Thương mại Cổ phần cho hoạt động đầu tư – Trường hợp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Trên Thị trường chứng khoán Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_dinh_gia_co_phieu_tai_cac_ngan_hang_thuong_mai_co_p.pdf