Luận văn Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố từ thực tiễn thành phố Ninh Bình

VIỆN HÀN LÂM  
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN HỒNG NGỌC  
TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG  
GIAI ĐOẠN TRUY TỐ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ  
NINH BÌNH  
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự  
Mã số: 8 38 01 04  
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ  
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phan Thị Thanh Mai  
HÀ NỘI, 2018  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong  
giai đoạn truy tố từ thực tiễn Thành phố Ninh Bình” là công trình nghiên  
cứu của riêng tôi. Các số liệu và tài liệu trong luận văn là trung thực và  
chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào. Tất cả những  
tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ  
Học viên  
Trần Hồng Ngọc  
ii  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
BLHS  
: Bộ Luật hình sự  
BLTTHS  
CQĐT  
ĐTBS  
TTHS  
VKS  
: Bộ Luật tố tụng hình sự  
: Cơ quan điều tra  
: Điều tra bổ sung  
: Tố tụng hình sự  
: Viện kiểm sát  
iii  
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1  
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ  
ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ ............................ 10  
1.1. Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố ................ 10  
1.2. Ý nghĩa của trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố .............. 19  
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015  
VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ. 32  
2.1. Quy định của BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền trả hồ sơ điều tra bổ  
sung trong giai đoạn truy tố ............................................................................... 32  
2.2. Quy định của BLTTHS năm 2015 về trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ  
sung trong giai đoạn truy tố ............................................................................... 33  
2.3. Quy định của BLTTHS năm 2015 về nội dung trả hồ sơ để điều tra bổ  
sung trong giai đoạn truy tố ............................................................................... 42  
2.4. Quy định của BLTTHS năm 2015 về hậu quả pháp lí của việc trả hồ sơ  
để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố ....................................................... 43  
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG Ở  
THÀNH PHỐ NINH BÌNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ............................... 46  
3.1. Thực trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố ở Thành phố  
Ninh Bình ........................................................................................................... 46  
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung  
trong giai đoạn truy tố ........................................................................................ 61  
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 74  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 76  
iv  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
Bảng 3.1. : Tình hình VKSND Thành phố Ninh Bình trả hồ sơ để điều  
tra bổ sung từ năm 2013 đến năm 2017  
Bảng 3.2. : Thực trạng các trường hợp trả hồ sơ để ĐTBS ở Thành  
phố Ninh Bình từ năm 2013 đến năm 2017  
v
MỞ ĐẦU  
1.Tính cấp thiết của đề tài  
Để đi đến một phương án giải quyết một vụ án hình sự, các cơ quan  
tiến hành tố tụng cần phải trải qua nhiều giai đoạn, khi đấy hồ sơ vụ án được  
chuyển đến nhiều cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau trong từng giai đoạn  
khác nhau. Trong đó, giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố đóng vai trò rất  
quan trọng, vì chỉ khi Cơ quan điều tra (CQĐT) có kết luận điều tra đúng  
hướng, Viện kiểm sát (VKS) truy tố đúng người, đúng tội thì mới tạo cơ sở  
cho Tòa án xét xử vụ án chính xác, hiệu quả và nhanh chóng. Hiện nay, các  
hành vi tội phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt làm phát sinh các tình tiết mới  
trong giai đoạn tố tụng diễn ra ngày càng nhiều. Hơn nữa, có thể xảy ra bất  
cập trong yếu tố chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của một bộ  
phận cán bộ điều tra làm sai lệch kết quả điều tra, khiến quá trình luận tội để  
đưa ra xét xử bị lệch hướng. Vì vậy, đã có không ít các trường hợp điều tra,  
truy tố chưa đầy đủ, còn để lọt tội phạm hoặc có vi phạm nghiêm trọng về  
thủ tục tố tụng. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) thì khi  
hồ sơ được chuyển sang giai đoạn truy tố mà có căn cứ để trả hồ sơ điều tra  
bổ sung (ĐTBS) thì VKS quyết định trả hồ sơ ĐTBS để CQĐT thực hiện.  
Cụ thể, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án mà phát hiện thấy hồ sơ còn thiếu những  
chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể tự mình bổ sung được; khi  
có căn cứ để cho rằng bị can phạm một hay nhiều tội khác hoặc có đồng  
phạm, người phạm tội khác liên quan; hoặc khi có phát hiện vi phạm nghiêm  
trọng thủ tục tố tụng thì VKS sẽ ra quyết định trả hồ sơ để ĐTBS nhằm khắc  
phục những thiếu sót, tồn tại trong giai đoạn tố tụng trước và giải quyết vụ  
án theo hướng đúng đắn.  
Chế định trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố đã được quy định  
trong BLTTHS và được hướng dẫn bởi các văn bản dưới luật. So với  
1
BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015, đã bổ sung thêm quy định về  
Nhập hoặc tách vụ án trong giai đoạn truy tố, tuy nhiên căn cứ để trả hồ sơ  
ĐTBS (Điều 245) và căn cứ để nhập hoặc tách vụ án (Điều 242). Quy định  
thêm nội dung này là nhằm tháo gỡ những vướng mắc đã xảy ra trong thời  
gian qua, do thiếu quy định này nên một số trường hợp VKS phải trả hồ sơ  
cho CQĐT với lý do để ĐTBS, nhưng thực chất là để làm thủ tục nhập hoặc  
tách vụ án. Do quy định này có thể hiểu được tách ra để cụ thể hóa một phần  
từ chế định trả hồ sơ để ĐTBS nên dẫn đến tư duy bị chồng chéo, tuy đã có  
văn bản dưới luật ban hành để hướng dẫn nhưng những quy định này chưa  
thực sự rõ ràng dễ xảy ra tình trạnh áp dụng không thống nhất. Thông tư  
02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP Quy định việc phối hợp  
giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của  
BLTTHS về trả hồ sơ để ĐTBS đã hướng dẫn cụ thể hơn chế định trả hồ sơ  
để ĐTBS (Sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 02/2017), chế định này có ảnh  
hưởng đến các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, có những  
xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng… Tuy  
nhiên, theo điểm a Khoản 2 Điều 6 Thông tư này có quy định VKS không trả  
hồ sơ để ĐTBS khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nhưng không  
xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố  
tụng; như vậy trong một số trường hợp như: khởi tố vụ án hình sự nhưng  
không có yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hại theo quy định  
tại khoản 1 Điều 155 của BLTTHS năm 2015; biên bản về hoạt động điều tra,  
thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà không chuyển cho VKS  
theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 88 của BLTTHS năm 2015; việc điều tra  
không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật; nhập vụ án hoặc tách vụ  
án không đúng quy định tại Điều 170 hoặc Điều 242 của BLTTHS năm 2015  
thì VKS không ra quyết định trả hồ sơ cho CQĐT mà có thể đưa ra quyết định  
nhập, tách vụ án hình sự.  
2
Chế định trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố đã được pháp luật  
Việt Nam quy định từ khi ban hành BLTTHS năm 1988, ở BLTTHS năm  
2003 chế định này được hoàn thiện hơn nhưng cho đến BLTTHS năm 2015  
thì chế định này đã được hoàn thiện hơn cả. Quy định trả hồ sơ để ĐTBS  
trong giai đoạn truy tố ra đời từ lâu, nhưng qua thực tiễn áp dụng có để lại  
hệ quả như hiện tượng trả hồ sơ tràn lan, không căn cứ ảnh hưởng đến quá  
trình tố tụng; lạm dụng thẩm quyền, xem nhẹ quy định về thời hạn điều tra  
hoặc kéo theo thời hạn điều tra của nhiều vụ án,... Thành phố Ninh Bình có  
vị trí địa lý ở trung tâm tỉnh, là nơi trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của  
tỉnh, có vị trí giao thông thuận lợi. Ngoài ra, Thành phố Ninh Bình còn nằm  
ở gần các khu, tuyến, cụm điểm du lịch thu hút một lượng lớn khách du lịch  
trong và ngoài nước quanh năm. Cũng là nơi tập trung nhiều khu công  
nghiệp, thu hút nhiều nhân công lao động trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên,  
mặt trái là hình thành nên cơ cấu tội phạm đa dạng, có quy mô, đồng thời  
tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ xấu có cơ hội trà trộn hoạt động trái pháp luật  
trên địa bàn. Tuy tình hình an ninh trật tự trên địa bản thành phố Ninh Bình,  
những năm gần đây được duy trì khá ổn định, không phát hiện tội phạm có  
tổ chức, băng nhóm hoạt động theo phương thức xã hội đen, không có các  
điểm nóng về tội phạm. Tuy nhiên, tình hình tội phạm còn tiềm ẩn những  
diễn biến phức tạp và đang có chiều hướng gia tăng, nguyên nhân tình hình  
phạm tội là do tình hình kinh tế - xã hội trong những năm gần đây gặp nhiều  
khó khăn, một bộ phận người lao động không có việc làm, thanh thiếu niên  
lười lao động, một số giá trị đạo đức xã hội và gia đình xuống cấp, công tác  
quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực còn thiếu sót, ý thức chấp hành pháp  
luật của người dân chưa cao, bên cạnh đó trong quá trình điều tra đã có  
những sơ sót trong vấn đề định tội danh dẫn đến công tác điều tra chưa thực  
sự đạt được hiệu quả tích cực do đó xảy ra việc VKS phải yêu cầu trả lại hồ  
sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố.  
3
Ngày 02 tháng 06 năm 2005, Bộ Chính trị đã đưa ra Nghị quyết số  
49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với mục tiêu “Xây  
dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ  
công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam  
xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được  
tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao" việc nghiên cứu chế định trả hồ sơ để  
ĐTBS trong giai đoạn truy tố góp phần thực hiện chủ trưởng của Đảng, nhà  
nước về cải cách tư pháp, khắc phục những hạn chế trong công tác tư pháp,  
đưa công tác này phát triển một bước cùng với quá trình xây dựng và hoàn  
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì  
nhân dân, và đưa ra một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời  
gian tới.  
Từ những lí do trên, tác giả chọn đề tài “Trả hồ sơ để điều tra bổ  
sung trong giai đoạn truy tố từ thực tiễn tại Thành phố Ninh Bình” để  
nghiên cứu viết trong luận văn của mình, với mong muốn từ những hiểu biết  
của mình, có thể làm rõ hơn các quy định của pháp luật, nguyên nhân và đưa  
ra một số kiến nghị, giải pháp để giải quyết những bất cập xung quanh vấn  
đề này từ thực tiễn của Thành phố Ninh Bình  
2. Tình hình nghiên cứu đề tài  
Xuất hiện trong hệ thống các quy định về TTHS của Việt Nam từ khá  
sớm, xong vấn đề “Trả hồ sơ để điều tra bổ sung” vẫn còn tồn tại những bất  
cập, vướng mắc, do vậy nhiều năm qua đề tài này vẫn được nhiều chuyên  
gia, nhà khoa học đưa ra phân tích, bình luận. Trong các luận văn, luận án,  
công trình nghiên cứu của mình, không ít các tác giả đã chọn đề tài liên quan  
đến vấn đề các giai đoạn trả hồ sơ để ĐTBS để nghiên cứu. Có thể kể đến như:  
Luận văn“Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong tố tụng hình sự Việt  
Nam” của tác giả Nguyễn Đức Hạnh (2009) đưa ra một số tồn tại, vướng  
mắc trong quy định của chế định trả hồ sơ để ĐTBS và thực tiễn áp dụng,  
4
phân tích thực trạng trả hồ sơ để ĐTBS từ năm 2002 đến 2008 giữa các cơ  
quan tiến hành tố tụng, chỉ ra được nguyên nhân của tình trạng trả hồ sơ để  
ĐTBS nhiều trong TTHS và đưa ra giải pháp, kiến nghị để hạn chế tình trạng  
trả hồ sơ để ĐTBS, đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với hoạt động TTHS.  
Luận văn “Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong luật tố tụng  
hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hải Châu (2010) trình bày một  
số vấn đề lý luận về trả hồ sơ để ĐTBS cũng như khái niệm, căn cứ, mối  
quan hệ chế ước giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, đánh giá thực trạng từ  
năm 2002 đến năm 2006 về quy định pháp luật và thực trạng trả hồ sơ để  
ĐTBS của VKS, Tòa án, từ đó nêu được nguyên nhân của thực trạng trên và  
đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chế định trả hồ sơ để ĐTBS  
trong cải cách tư pháp;  
Luận văn “Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố từ  
thực tiễn thành phố Hà Nội” của tác giả Lê Thị Thu Thủy (2017) trên cơ sở  
nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật TTHS về trả hồ sơ  
để ĐTBS trong quá trình truy tố; thực trạng và đánh giá thực trạng trả hồ sơ  
để ĐTBS trong quá trình truy tố của Thành phố Hà Nội những năm gần đây,  
từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn quy định của  
pháp luật và hạn chế trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố;  
Luận văn “Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ  
thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hải  
Phòng” của tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền (2016) trên cơ sở nghiên  
cứu những vấn đề lý luận; phân tích, đánh giá thực trạng trong hoạt động trả  
hồ sơ để ĐTBS của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng trong thời gian  
qua; tìm hiểu về các nguyên nhân dẫn đến Toà án phải trả hồ sơ cũng như  
việc ban hành các quyết định trả hồ sơ để ĐTBS chưa đúng quy định của  
pháp luật. Từ đó, đưa ra đề xuất những giải pháp trong hoạt động trả hồ sơ  
để ĐTBS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của TAND thành phố Hải Phòng;  
5
“Một số ý kiến về việc áp dụng quy định trả hồ sơ để điều tra bổ sung  
trong BLTTHS năm 2003” của tác giả Nguyền Minh Đức (Tạp chí Tòa án  
nhân dân số 06/2006 ) Bài viết trao đổi về những nhiệm vụ, quyền hạn của  
VKS được quy định trong giai đoạn truy tố và một số ý kiến về nâng cao  
chất lượng bản cáo trạng do VKS ban hành;  
“Trả hồ sơ để điều tra bổ sung” của tác giả Nguyễn Quý Lộc (Tạp  
chí Toà Án Nhân Dân số 08/2013) phân tích các quy định của BLTTHS về  
chế định trả hồ sơ để ĐTBS. Trên cơ sở phân tích các quy định tác giả đưa  
ra những kiến nghị để sửa đổi điều 179 BLTTHS năm 2003;  
“Hoàn thiện chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong Bộ luật tố  
tụng hình sự (sửa đổi)”của tác giả Đào Anh Tới (Tạp chí Kiểm sát số  
13/2014) Bài viết đề cập những điểm hạn chế, bất cập về chế định trả hồ sơ  
để ĐTBS trong BLTTHS năm 2003. Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp  
nhằm hoàn thiện quy định về trả hồ sơ để ĐTBS trong Bộ luật sửa đổi;  
“Giải pháp nâng cao hiệu quả chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung  
trong các quy định của BLTTHS năm 2015” của tác giả Nguyễn Thị Hải  
Châu (Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử) Bài viết chỉ ra quy định pháp luật về  
chế định trả hồ sơ để ĐTBS trong BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm  
2015. Chỉ ra thực trạng thông qua số liệu thống kê trong Báo cáo 9 tháng  
đầu năm 2017 của Tòa án các cấp về vấn đề trả hồ sơ để ĐTBS, từ đó đưa ra  
một số giải pháp khắc phục tình trạng này.  
“Giải pháp để hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn  
truy tố” của tác giả Lê Tấn Cường (Tạp chí Kiểm sát số 10/2014) Bài viết  
chỉ ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan của trả hồ để ĐTBS  
trong giai đoạn truy tố, từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả  
công tác của VKS để hạn chế việc trả hồ sơ ĐTBS trong giai đoạn truy tố;  
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố và vấn  
đề nâng cao chất lượng bản cáo trạng - tác giả Nguyễn Minh Đức, Tạp chí  
6
Kiểm sát số 16/2016 Bài viết trao đổi về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS  
được quy định trong giai đoạn truy tố và một số ý kiến nâng cao chất lượng  
bản cáo trạng do VKS ban hành;  
Ngoài ra còn rất nhiều đề tài, bài viết, bài nghiên cứu đăng trên các  
báo, tạp chí chuyên ngành hoặc trong các công trình nghiên cứu khoa học  
khác. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ,  
toàn diện và hệ thống về vấn đề trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố;  
nhiều nội dung liên quan chưa có được cách nhìn và giải quyết thống nhất;  
các công trình chưa giải đáp triệt để được những vướng mắc trong thực tế  
đặc biệt là sau khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực.  
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài  
Mục đích nghiên cứu đề tài  
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn đề  
xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc trả hồ sơ để ĐTBS trong  
giai đoạn truy tố ở thành phố Ninh Bình.  
Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài  
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm  
vụ sau:  
- Xây dựng khái niệm trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố  
- Làm rõ ý nghĩa pháp lí, ý nghĩa chính trị, xã hội của việc trả hồ sơ để  
ĐTBS.  
- Phân tích quy định của BLTTHS năm 2015 về trả hồ sơ để ĐTBS  
trong giai đoạn truy tố và so sánh với quy định của BLTTHS năm 2003 về  
trả hồ sơ để ĐTBS.  
- Làm rõ thực trạng trả ĐTBS trong giai đoạn truy tố ở Thành phố Ninh  
Bình, đưa ra đánh giá về kết quả đạt được và những hạn chế, vướng mắc  
trong hoạt động trả hồ sơ để ĐTBS; đồng thời xác định được được nguyên  
nhân của những hạn chế, vướng mắc  
7
- Đề xuất giải pháp về giải thích pháp luật và những giải pháp khác  
nhằm nâng cao hiệu quả việc trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố ở  
Thành phố Ninh Bình.  
1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn  
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lí luận chung về trả  
hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố; pháp luật Việt Nam về trả hồ sơ để  
ĐTBS sung trong giai đoạn truy tố và thực trạng trả hồ sơ để ĐTBS trong giai  
đoạn truy tố ở thành phố Ninh Bình.  
- Phạm vi nghiên cứu: Về lí luận, luận văn nghiên cứu về khái niệm và ý  
nghĩa của trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố; Về pháp luật, luận văn  
tập trung vào nghiên cứu quy định của BLTTHS năm 2015 về trả hồ sơ để  
ĐTBS trong giai đoạn truy tố, có so sánh với quy định của BLTTHS năm  
2003 về trả hồ sơ để ĐTBS; luận văn nghiên cứu thực trạng trả hồ sơ để  
ĐTBS trong giai đoạn truy tố ở thành phố Ninh Bình từ năm 2013 đến 6  
tháng đầu năm 2018.  
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu  
Phương pháp luận  
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa  
Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp luật. Các giải pháp  
luận văn đưa ra nghiên cứu dựa trên những quan điểm của Đảng và Nhà  
nước ta về cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn  
hiện nay.  
Phương pháp nghiên cứu  
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là các  
phương pháp truyền thống trong nghiên cứu khoa học pháp lí, đó là phương  
pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết để nghiên cứu những vấn đề lí luận và  
pháp luật; sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp thực tiễn để nghiên  
cứu nghiên cứu thực trạng trả hồ sơ để ĐTBS; phương pháp phân tích, tổng  
8
hợp, lí luận kết hợp thực tiễn để nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm nâng  
cao hiệu quả hoạt động trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố ở thành  
phố Ninh Bình. Ngoài ra, tác giả luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh  
luật khi nghiên cứu quy định của BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm  
2015 về trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố ở Thành phố Ninh Bình  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn  
- Ý nghĩa khoa học của luận văn  
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thạc sĩ, ở một mức độ nhất  
định, luận văn đã có những đóng góp vào sự phát triển của khoa học luật  
TTHS, làm rõ thêm những vấn đề lí luận về trả hồ sơ để ĐTBS trong giai  
đoạn truy tố và góp phần thống nhất nhận thức về các quy định của BLTTHS  
năm 2015 về trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố.  
- Ý nghĩa thực tiễn của của luận văn  
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc học  
tập và nghiên cứu khoa học ở các cơ sở đào tạo luật. Luận văn cũng có thể  
dùng làm tài liệu tham khảo cho các CQĐT, VKS ở thành phố Ninh Bình  
trong thực tiễn tiến hành tố tụng và cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho  
những cá nhân quan tâm đến đề tài này.  
7. Cơ cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn  
được kết cấu làm ba chương:  
Chương 1: Những vấn đề lí luận về trả hồ sơ để điều tra bổ sung  
trong giai đoạn truy tố  
Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về trả hồ sơ  
điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố  
Chương 3: Thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở thành phố Ninh  
Bình trong những năm gần đây và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt  
động này  
9
Chƣơng 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRẢ HỒ SƠ  
ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ  
1.1. Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố  
Truy tố là giai đoạn của TTHS, trong đó VKS tiến hành các hoạt động  
cần thiết nhằm truy tố bị can ra trước tòa án để xét xử hoặc ra những quyết  
định tố tụng khác để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. [40,tr.367] Giai  
đoạn truy tố là giai đoạn quan trọng trong trình tự tố tụng, giai đoạn này là  
tiền đề của giai đoạn xét xử, quyết định truy tố của VKS là cơ sở pháp lí để  
Tòa án xét xử sơ thẩm. Đồng thời giai đoạn truy tố góp phần khắc phục sai  
lầm, thiếu sót, vi phạm thủ tục tố tụng của CQĐT đã xảy ra trong quá trình  
điều tra vụ án hình sự. Việc truy tố của VKS chính xác sẽ hạn chế việc buộc  
tội oan, sai, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, tạo điều kiện  
thuận lợi cho công tác xét xử, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Để đảm  
bảo cho việc ra quyết định truy tố có căn cứ và đúng pháp luật, trong giai  
đoạn này VKS phải xem xét, đánh giá về tính hợp pháp của các hoạt động tố  
tụng trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự; xem xét, đánh giá về chứng cứ  
của vụ án và xem xét đánh giá quá trình chứng minh xác định sự thật của vụ  
án có bảo đảm khách quan, toàn diện, đầy đủ hay không. Kết quả của quá  
trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự được thể hiện trong hồ sơ vụ án do  
CQĐT lập và chuyển sang cho VKS cùng với đề nghị truy tố bị can trước  
Tòa án. Trong giai đoạn truy tố, VKS nghiên cứu hồ sơ vụ án do CQĐT  
chuyển sang trên cơ sở đó xem xét, quyết định việc truy tố bị can ra trước  
Tòa án hoặc ra những quyết định tố tụng khác để giải quyết vụ án hình sự.  
Hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến  
hành tố tụng thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố,  
10  
xét xử vụ án hình sự, được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho  
việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâu dài. [19] Sau khi nhận hồ sơ vụ án do  
CQĐT chuyển sang,VKS phải kiểm tra việc chấp hành các thủ tục tố tụng,  
tính đầy đủ, hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án. VKS cần  
nghiên cứu cả về thủ tục tố tụng và nội dung sự việc. Phải nghiên cứu đầy  
đủ các tình tiết về từng sự việc, về từng tội của vụ án theo thứ tự hợp lý. Về  
thủ tục tố tụng cần nghiên cứu xem xét việc tiến hành điều tra, truy tố có  
tuân thủ các quy định của BLTTHS và các văn bản quy phạm pháp luật liên  
quan hay chưa để có quyết định tương ứng. Về nội dung vụ án, cần nghiên  
cứu đầy đủ toàn diện các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về những vấn đề phải  
chứng minh trong vụ án hình sự. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, nếu VKS phát  
hiện có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình khởi tố,  
điều tra; không đủ chứng cứ để làm rõ những vấn đề phải chứng minh mà  
VKS không thể tự mình bổ sung được hoặc qua nghiên cứu hồ sơ phát hiện  
CQĐT còn để lọt người, lọt tội thì VKS sẽ phải trả hồ sơ để ĐTBS. Tương  
tự như vậy, nếu có những căn cứ nêu trên, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm,  
Tòa án cũng có quyền trả hồ sơ để ĐTBS.  
Trả hồ sơ để điều ĐTBS đã được quy định trong BLTTHS năm 1988  
và ngày càng được hoàn thiện hơn trong BLTTHS năm 2003 và BLTTHS  
năm 2015. Về mặt khoa học, khái niệm trả hồ sơ để ĐTBS đã được các tác  
giả tiếp cận ở các góc độ và phạm vi khác nhau và đã đưa ra những khái  
niệm cụ thể khác nhau.  
- Quan điểm thứ nhất: Trả hồ sơ để ĐTBS là chế định của luật TTHS  
quy định VKS hoặc Tòa án chuyển trả hồ sơ cho VKS hoặc CQĐT để điều tra  
thêm về vụ án hình sự theo các căn cứ được quy định trong BLTTHS nhằm  
mục đích làm sáng tỏ vụ án hình sự, để Tòa án xét xử vụ án một cách công  
minh, chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ  
lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. [8] Quan điểm này tiếp cận trả hồ  
11  
sơ để ĐTBS ở góc độ là một chế định pháp luật. Quan điểm này đã nêu được  
chủ thể trả hồ sơ để ĐTBS là Tòa án, VKS; chủ thể có trách nhiệm ĐTBS là  
VKS, CQĐT; nêu được mục đích của việc trả hồ sơ để ĐTBS tuy nhiên chưa  
nêu rõ các căn cứ trả hồ sơ để ĐTBS.  
- Quan điểm thứ hai: Trả hồ sơ để ĐTBS của Toà án cấp sơ thẩm là  
việc Toà án cấp sơ thẩm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên toà  
quyết định trả lại hồ sơ hình sự cho VKS nơi ra quyết định truy tố để ĐTBS  
nhằm khắc phục những thiếu sót trong quá trình điều tra, truy tố để đảm bảo  
cho việc giải quyết vụ án hình sự được khách quan, toàn diện và đúng các quy  
định của pháp luật. [17] Quan điểm này tiếp cận trả hồ sơ để ĐTBS ở góc độ  
là hoạt động tố tụng và chỉ tiếp cận trả hồ sơ để ĐTBS ở phạm vi hẹp đó là  
nghiên cứu việc Tòa án cấp sơ thẩm trả hồ sơ cho VKS để ĐTBS. Khái niệm  
này đã nêu được chủ thể trả hồ sơ, chủ thể có trách nhiệm ĐTBS, thời điểm  
trả hồ sơ và mục đích của việc tòa án trả hồ sơ để ĐTBS nhưng không nói rõ  
căn cứ trả hồ sơ để ĐTBS.  
- Quan điểm thứ ba: Trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố là hoạt  
động tố tụng do VKS thực hiện sau khi nhận bản kết luận điều tra, đề nghị  
truy tố cùng hồ sơ vụ án do CQĐT chuyển đến khi có căn cứ và được thực  
hiện theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hình  
sự được khách quan, đúng người đúng tội đúng pháp luật, không làm oan người  
vô tội, không bỏ lọt tội phạm. [37] Cũng giống như quan điểm thứ hai, quan  
điểm này tiếp cận trả hồ sơ để ĐTBS ở góc độ là hoạt động tố tụng và chỉ tiếp  
cận trả hồ sơ để ĐTBS ở phạm vi hẹp đó là chỉ nghiên cứu việc trả hồ sơ để  
ĐTBS ở giai đoạn truy tố. Khái niệm này đã xác định chủ thể trả hồ sơ để ĐTBS  
trong giai đoạn truy tố là VKS, thời điểm thực hiện, căn cứ, cách thức thực hiện  
và mục đích của việc trả hồ sơ để ĐTBS. Khái niệm này ngắn gọn nhưng chưa  
cụ thể, chưa thể hiện rõ những đặc điểm của việc trả hồ sơ để ĐTBS.  
12  
Trong luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm trả hồ sơ để ĐTBS trong  
giai đoạn truy tố ở góc độ đó là một hoạt động tố tụng và chỉ trong giai đoạn truy  
tố. Theo tác giả luận văn, để làm rõ khái niệm trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn  
truy tố ở góc độ và phạm vi tiếp cận này, cần làm rõ những nội dung sau:  
- Chủ thể thực hiện hoạt động trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố.  
Chủ thể có quyền trả hồ sơ để ĐTBS là Tòa án và VKS, trong giai đoạn  
xét xử hai chủ thể có thể ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung là Thẩm  
phán chủ tọa phiên Tòa có thẩm quyền trả hồ sơ để ĐTBS ở giai đoạn chuẩn  
bị xét xử và Hội đồng xét xử có thẩm quyền trả hồ sơ để ĐTBS ở gian đoạn  
xét xử thì trong giai đoạn truy tố, chỉ có VKS là chủ thể có quyền trả hồ sơ để  
ĐTBS. “VKS nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt  
động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. VKS nhân dân  
có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền  
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền  
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được  
chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.” [34, Điều 2] Trong giai đoạn truy tố,  
VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Để thực hành  
quyền công tố, VKS tiến hành những hoạt động cụ thể như yêu cầu cơ quan,  
tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong trường hợp cần  
thiết; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài  
liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố; ra các quyết định tố tụng như quyết  
định khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can  
trong trường hợp phát hiện vụ án còn có hành vi phạm tội, người phạm tội  
khác chưa được khởi tố, tiến hành điều tra; quyết định việc tách, nhập vụ án,  
chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng  
biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Căn cứ vào kết quả của việc nghiên cứu hồ sơ  
vụ án và bổ sung, củng cố chứng cứ trong giai đoạn truy tố, căn cứ vào các  
điều kiện pháp lí khác VKS quyết định truy tố, không truy tố bị can trước Tòa  
13  
án hoặc ra các quyết định khác như quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bị  
can; quyết định trả hồ sơ cho CQĐT để ĐTBS. [34, Điều 16] Như vậy, việc  
trả hồ sơ để ĐTBS là hoạt động thuộc chức năng công tố của VKS. Để quyết  
định việc truy tố hay không truy tố bị can trước Tòa án, VKS phải chắc chắn  
về việc buộc tội của mình. Nếu thấy hồ sơ chứng cứ chưa đầy đủ mà VKS  
không tự mình bổ sung được hoặc đề nghị truy tố của CQĐT chưa đầy đủ,  
còn bỏ lọt người, lọt tội thì VKS trả hồ sơ để CQĐT ĐTBS. Ngoài việc thực  
hành quyền công tố, theo quan điểm của tác giả luận văn, việc VKS trả hồ sơ  
để ĐTBS cũng là kết quả của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật  
trong việc điều tra. Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc  
điều tra của VKS được tiến hành trực tiếp trong giai đoạn điều tra nhưng ở  
giai đoạn truy tố, VKS qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, VKS vẫn có thể phát  
hiện những vi phạm pháp luật của CQĐT khi tiến hành các hoạt động điều tra.  
Nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong hoạt động điều tra  
VKS có quyền ra quyết định trả hồ sơ để ĐTBS để khắc phục những vi phạm  
thủ tụng tố tụng đó.  
Việc VKS trả hồ sơ yêu cầu ĐTBS cũng là hoạt động thể hiện mối quan  
hệ phối hợp - chế ước giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nói  
chung và giữa VKS và CQĐT nói riêng. Các cơ quan này có nhiệm vụ phối  
hợp với nhau tiến hành các hoạt động của mình theo quy định của BLTTHS,  
đồng thời có quyền phát hiện, tự mình sửa chữa hoặc đề nghị sửa chữa những  
sai lầm của các cơ quan khác theo quy định của pháp luật.  
- Thời điểm trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn truy tố:  
Nếu ở giai đoạn xét xử, Tòa án trả hồ sơ yêu cầu VKS ĐTBS có thể  
trả hồ sơ ở 02 giai đoạn là giai đoạn chuẩn bị xét xử và giai đoạn xét xử thì  
VKS trả hồ sơ để ĐTBS chỉ được thực hiện trong giai đoạn truy tố. Truy tố  
là giai đoạn của TTHS, trong đó VKS tiến hành các hoạt động cần thiết  
nhằm truy tố bị can trước toà án để xét xử hoặc ra những quyết định tố tụng  
14  
khác để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Giai đoạn truy tố được bắt đầu từ  
khi VKS nhận đầy đủ hồ sơ vụ án cùng bản án án kết luận điều tra đề nghị  
truy tố từ CQĐT và kết thúc khi VKS quyết định đình chỉ vụ án hoặc truy tố  
bị can trước Tòa án. Nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn này là quyết định việc  
truy tố bị can trước tòa án hoặc ra các quyết định khác để giải quyết vụ án  
có căn cứ và đúng pháp luật. Trong TTHS, các giai đoạn tố tụng có mối  
quan hệ mật thiết với nhau, mỗi giai đoạn tuy độc lập nhưng vẫn nằm trong  
mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành hoạt động thống nhất. Giai đoạn  
trước là tiền đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai  
đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. [40, tr.11] Giai đoạn truy tố với vị trí là giai  
đoạn tiếp theo của giai đoạn điều tra, vì vậy mối quan hệ giữa giai đoạn truy tố  
và giai đoạn điều tra cũng thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa các giai đoạn tố  
tụng, đồng thời cũng thể hiện rõ nét mối quan hệ phối hợp và chế ước giữa  
CQĐT và VKS. Giai đoạn truy tố chỉ phát sinh khi CQĐT kết thúc điều tra  
bằng việc đề nghị VKS truy tố bị can trước Tòa án. Tuy nhiên, ở giai đoạn truy  
tố, VKS không mặc nhiên truy tố theo đề nghị của CQĐT mà phải xem xét đề  
nghị truy tố của CQĐT là có căn cứ và đúng pháp luật hay không để quyết  
định việc truy tố. Nếu chứng cứ chưa đầy đủ, lọt người, lọt tội, hoặc có vi  
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong hoạt động điều tra thì VKS khắc phục  
sai lầm của CQĐT bằng cách tiến hành các hoạt động điều tra, bổ sung quyết  
định khởi tố vụ án, bị can hoặc trả hồ sơ để ĐTBS. Khác các giai đoạn tố tụng  
khác, trong giai đoạn truy tố, chỉ có VKS là cơ quan tiến hành tố tụng duy  
nhất, vì vậy, trong giai đoạn này không xuất hiện quan hệ giữa VKS và các  
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác. Tuy nhiên, việc VKS trả hồ  
sơ để yêu cầu CQĐT ĐTBS vẫn thể hiện quan hệ phối hợp, chế ước của  
VKS với CQĐT. Trong quan hệ với giai đoạn xét xử sơ thẩm, giai đoạn truy  
tố là tiền đề cho giai đoạn xét xử. Quyết định truy tố bị can trước Tòa án là  
cơ sở phát sinh giai đoạn xét xử sơ thẩm, đồng thời quyết định truy tố cũng  
15  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 87 trang yennguyen 19680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố từ thực tiễn thành phố Ninh Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_tra_ho_so_de_dieu_tra_bo_sung_trong_giai_doan_truy.pdf