Tóm tắt Luận án Nghiên cứu lớp vỏ của các sao khổng lồ đỏ ở bước sóng vô tuyến

BỘ GIÁO DỤC VÀ  
ĐÀO TẠO  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC  
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
……..….***…………  
ĐỖ THỊ HOÀI  
NGHIÊN CỨU LỚP VỎ CỦA CÁC SAO KHỔNG LỒ ĐỎ Ở  
BƯỚC SÓNG VÔ TUYẾN  
Chuyên ngành: Vật lý nguyên tử  
Mã số: 62 44 01 06  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VẬT LÝ  
Hà Nội – 2017  
Công trình này được hoàn thành tại: Đài thiên văn Paris và Học viện Khoa  
học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
Người hướng dẫn khoa học 1: GS. Pierre Darriulat, Trung tâm Vũ trụ Việt  
Nam  
Người hướng dẫn khoa học 2: GS. Thibaut Le Bertre, Đài thiên văn Paris  
Phản biện 1: GS. TS. Đào Tiến Khoa, Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân  
Phản biện 2: PGS.TS. Đinh Văn Trung, Viện Vật lý  
Phản biện 3: TS. Võ Văn Thuận, Đại học Duy Tân  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ, họp tại Học  
viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt  
Nam vào hồi … giờ ..’, ngày … tháng … năm 201….  
Có thể tìm hiểu luận án tại:  
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ  
- Thư viện Quốc gia Việt Nam  
Từ giai đoan cuối của cuộc đời trên dải chính cho tới khi chết đi  
thành các sao lùn trắng, hầu hết các sao đều phát triển từ dạng đối xứng cầu  
sang các dạng bất đối xứng cầu các tinh vân hành tinh rồi mất vào môi  
trường giữa các sao (ISM). Sự chuyển đổi này, với việc xem sao khổng lồ  
đỏ và sao tiệm cận khổng lồ đỏ (AGB) như các trạng thái trung gian quan  
trọng, là một đề tài nghiên cứu khó. Dạng chuyển đổi đầu tiên thường được  
quan sát là gió lưỡng cực với kiểu đối xứng trục đang thay thế đối xứng  
cầu. Rất nhiều các quan sát, cả bụi thông qua phát xạ hồng ngoại và khí  
thông qua các phát xạ phân tử, đặc biệt là carbon monoxide, đã cho thấy sự  
xuất hiện của kiểu đối xứng này. Điều đó có nghĩa là cần đưa ra một mô  
hình cho vỏ sao với bất biến quay quanh một trục sao xác định. Các cơ chế  
vật lý đóng vai trò làm cho sự đối xứng bị biến đổi như vậy vẫn chưa được  
hiểu rõ và rất nhiều quan sát được thực hiện nhằm làm sáng tỏ điều này. Sự  
có mặt của một sao đồng hành đang tích thêm khí từ sao già rất hay được  
đề cập đến, tuy nhiên vai trò của chuyển động quay và của từ trường -  
moomen động lượng và từ thông của sao được phân phối lại giữa lõi suy  
biến và lớp vỏ sao như thế nào - vẫn chưa được làm sáng tỏ. Việc có thể sử  
dụng số liệu đo đạc từ các hệ giao thoa vô tuyến, thường có độ phân giải  
cao về cả không gian và tần số, đặc biệt là ALMA (Atacama Large  
Millemettre/milimet Array), đang thúc đẩy lĩnh vực nghiên cứu này. Đây  
cũng là vấn đề mà luận án tập trung giải quyết.  
Hai chương đầu của luận án là phần giới thiệu chung về đề tài  
nghiên cứu.  
Chương 1 trình bày tổng quan về những hiểu biết của chúng ta về  
sao AGB và đưa ra bức tranh chung về hình dạng cũng như cấu trúc các  
lớp vỏ khổng lồ của chúng, các chất hóa học mà chúng sở hữu, cơ chế dãn  
nở khí thông qua vai trò trung gian của bụi, sự luân phiên giữa các quá  
trình đốt cháy hydrogen và heli gây ra các xung nhiệt, sự đối lưu làm các  
thành phần vật chất khác nhau giữa các lớp được trộn cùng nhau, vai trò  
đặc biệt của CO trong việc xác định tính chất của các sao là sao carbon hay  
sao oxy, các hiện tượng biến đổi, v.v. Sự mất mát khối lượng được tạo ra  
khi các phân tử khí ở khoảng cách mà vận tốc trung bình của chúng vượt  
quá vận tốc thoát. Tốc độ mất khối lượng vào khoảng 10-8 đến 10-4 khối  
lượng mặt trời mỗi năm, chủ yếu là 10-7 ở giai đoạn đầu của sao AGB và  
vào cỡ 10-5 dưới dạng các siêu gió vào cuối giai đoạn AGB. Luận án này  
nghiên cứu các sao có tốc độ mất khối lượng khá chậm, vào khoảng 10-7  
khối lượng mặt trời mỗi năm, ở các giai đoạn khác nhau của quá trình tiến  
hóa: EP Aqr là một sao AGB trẻ, RS Cnc đã trải qua nhiều lần "dredge-up"  
(quá trình đưa các nguyên tố nặng ở gần tâm ra ngoài vỏ sao) và Red  
Rectangle vừa rời nhánh AGB và đang trong quá trình trở thành một tinh  
vân hành tinh sau khi đã tạo ra một hoặc vài siêu gió. Chú ý rằng các sao  
được lựa chọn ở đây mặc dù đại diện cho một lượng đáng kể của các sao  
già nhưng không đại diện cho tất cả các sao. Thời gian một ngôi sao tồn tại  
ở các giai đoạn khác nhau của cuộc đời là khác nhau, một ngôi sao giống  
như Mặt trời của chúng ta dành khoảng mười tỷ năm trên dải chính, gần  
một tỷ năm ở giai đoạn khổng lồ đỏ, một vài triệu năm ở nhánh AGB, vài  
trăm nghìn năm để chuyển sang tinh vân hành tinh và thành một sao lùn  
trắng và nguội dần trong khoảng thời gian gần như vô hạn.  
Chương 1 dành hẳn một phần để xem xét các cơ chế liên quan đặc  
biệt đến luận án: sự chuyển đổi từ dạng cầu sang dạng đối xứng trục và  
tương tác với ISM. Các quá trình khác nhau đã được đưa ra để mô tả sự  
chuyển đổi về hình dạng trong đó phổ biến nhất là hệ sao đôi. Tuy nhiên cơ  
chế này vẫn chưa thể giải thích tất cả các trường hợp: vai trò của bảo toàn  
momen động lượng và từ thông trong một lớp vỏ khí đang dãn nở chậm rất  
khó mô hình hóa một cách chính xác nhưng lại không thể bỏ qua. Liên  
quan đến tương tác với ISM, luận án cũng trình bày sự tương hỗ giữa CO  
và HI trong việc đưa ra những thông tin về mật độ, nhiệt độ và chuyển  
động của khí. Phát xạ HI lấn át CO ở khu vực xa tâm khi sự phân ly bởi  
phát xạ UV đến từ ISM trở nên mạnh mẽ.  
Chương 2 tóm tắt các đặc trưng của các thiết bị, cách đo đạc và  
phương pháp xử lý số liệu liên quan đến nghiên cứu. Chương này trình bày  
những kiến thức cơ bản về thiên văn vô tuyến, cả cho kính đơn và hệ giao  
thoa, đồng thời cũng mô tả các kính thiên văn đã dùng để đo đạc số liệu  
cho luận án này bao gồm các kính thiên văn của IRAM, Pico Veleta và  
Plateau de Bure và kính thiên văn vô tuyến Nançay. Nó cũng nhắc lại các  
kiến thức cơ bản về vật lý lượng tử nguyên tử và phân tử bao gồm sự phát  
xạ và hấp thụ photon, mật độ trạng thái lượng tử và việc truyền sóng vô  
tuyến qua lớp vật chất bao quanh sao.  
Chương 3 là chương đầu tiên trong số bốn chương trình bày  
nghiên cứu về các già cụ thể và cố gắng mô hình hóa cấu trúc và chuyển  
động của vật chất bao quanh sao. Nó nghiên cứu một sao loại S, RS Cnc,  
đã trải qua vài lần "dredge-up” và có tốc độ mất khối lượng vào khoảng vài  
lần 10-7 khối lượng mặt trời mỗi năm. Nghiên cứu sử dụng kết quả quan sát  
thông qua hai vạch CO(1-0) và CO(2-1) đo bởi các kính thiên văn của  
IRAM. Sau phần sơ lược về các quan sát đã thực hiện là phần trình bày  
một mô hình vỏ khí đơn giản với cấu trúc đối xứng trục. Phương trình  
truyền phát xạ được giải bằng cách cộng dồn theo từng bước nhỏ dọc theo  
đường ngắm. Mô hình này áp dụng được tất cả các kiểu cấu trúc khác  
nhau. Trong trường hợp RS Cnc, mật độ và vận tốc biến đổi liên tục từ xích  
đạo cho tới các cực. Sự hiện diện của gió sao dạng lưỡng cực đã có bằng  
chứng thuyết phục, chính cấu trúc này đã tạo ra hai thành phần trên phổ  
vận tốc. Việc đo đồng thời hai vạch phân tử có thể đưa ra những thông tin  
về phân bố nhiệt độ theo khoảng cách. Mật độ khí phân bố khá cầu mặc dù  
tính chất động học có dạng đối xứng trục. Sự tồn tại của sự không đồng  
nhất làm hạn chế về cả số lượng và độ chính xác của các kết luận có thể  
được rút ra từ các quan sát. Để hiểu chi tiết các cơ chế vật lý, đặc biệt là  
tính hợp lệ của giả thuyết dừng ("stationarity") và độ tin cậy của sự biến  
đổi vận tốc được chỉ ra từ mô hình, đòi hỏi các quan sát phải có độ phân  
giải không gian tốt hơn (với mục đích này, tôi cùng các đồng nghiệp đã đề  
xuất thực hiện thêm quan sát với IRAM, RS Cnc nằm ngoài trường nhìn  
của ALMA). Hình 1 hiển thị các phổ vân tốc của CO(1-0) và CO(2-1) đo  
được cùng với kết quả của các mô hình phù hợp nhất.  
Hình 1a: RS Cnc: Các phổ vận tốc của CO(1-0) từ đo đạc (đường màu đen) và từ  
mô hình (đường màu đỏ).  
Hình 1b: RS Cnc: Các phổ vận tốc của CO(2-1) từ đo đạc (đường màu đen) và từ  
mô hình (đường màu đỏ).  
Chương 4 nghiên cứu sao EP Aqr, một sao loại M được cho là mới  
bắt đầu thời kì AGB bởi sự vắng mặt của technetium trong quang phổ. Nó  
có tốc độ mất khối lượng tương tự như RS Cnc và cũng có hai thành phần  
trên phổ vận tốc Doppler. Tuy nhiên, khác với RS Cnc, vận tốc Doppler  
phân bố đều trên bầu trời. Do vậy, trong một nghiên cứu trước đây, người  
ta đã đưa ra cấu trúc gió sao gồm nhiều lớp tương đối cầu có vận tốc  
xuyên tâm khác nhau để giải thích cho sự hiện diện của hai thành phần trên  
phổ vận tốc Doppler. Không giống như vậy, ở đây tôi giả sử gió sao có  
dạng lưỡng cực tương tự như đã thấy ở RS Cnc nhưng các cực này nằm  
trên một trục gần với đường ngắm, để có cùng dạng như các gió cầu khi  
chiếu trên bầu trời. Cấu hình đặc biệt này cho phép ta có thể tính được mật  
độ và nhiệt độ trong không gian, nhất là khi kết hợp với các giả thuyết hợp  
lý nhưng hơi chủ quan về gió dừng ở trạng thái cân bằng nhiệt. Đây là một  
bài tập thú vị và đã thành công trong việc tạo ra các kết quả rất khớp với số  
liệu đo đạc, tuy nhiên cũng không nên coi đây là mô hình duy nhất mà nên  
hiểu rằng có nhiều cách khác nhau để lý giải cho các kết quả quan sát. Sự  
hiện diện của những phân bố không đồng nhất, rõ ràng là cao hơn so với  
trường hợp của RS Cnc, cho thấy sự cần thiết phải có các quan sát với độ  
phân giải không gian cao để có thể rút ra các kết luận đáng tin cậy hơn.  
Các quan sát của ALMA với độ phân giải không gian cao trên một trường  
nhìn rộng là vô cùng cần thiết trong trường hợp này.  
Hình 2: EP Aqr: Phân bố của mật độ hiệu dụng với nhân với r2 trong mặt phẳng  
kính tuyến của sao. Đơn vị của thanh màu là Jy beam−1 km s−1 arcsec. Hình chữ  
nhật chỉ ra khu vực không đồng nhất.  
Phân bố mật độ hiệu dụng trên mặt phẳng kinh tuyến của sao được  
chỉ ra trên hình 2. Mật độ hiệu dung được định nghĩa sao cho tích phân của  
nó dọc theo đường ngắm bằng tích phân của mật độ thông lượng trên dải  
toàn vận tốc Doppler. Đây là khái niệm được sử dụng nhiều trong luận án  
và tỏ ra vô cùng hữu ích.  
Chương 5 nghiên cứu một sao già hơn so với hai sao trước, Red  
Rectangle. Đây là một sao hậu AGB nổi tiếng đã được nghiên cứu nhiều và  
cũng là hình mẫu của một tiền tinh vân hành tinh. Tuy vậy, gió sao của nó  
thổi chậm một cách đáng kinh ngạc và cũng có hai thành phần trên phổ vận  
tốc giống như ở RS Cnc và EP Aqr. Lời giải thích được chấp nhận nhiều  
nhất là Red Rectangle đã có một hoặc nhiều lần xuất hiện siêu gió liên tiếp  
để hình thành lớp vật chất bao quanh ở dạng hoàn toàn không phải cầu mà  
đối xứng trục như hiện nay. Một điều đặc biệt của Red Rectangle là trục  
của nó gần như vuông góc với đường ngắm. Mặc dù điều này ngăn cản  
chúng ta có thể kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết bất biến quay quanh  
trục nhưng với giả thuyết ta có thể tính toán được mật độ hiệu dụng trong  
không gian. Ngôi sao này đã được quan sát ở hai vạch phát xạ CO(3-2) và  
CO(6-5) nên cũng cho phép ta có được các thông tin về phân bố nhiệt độ  
của lớp vỏ khí. Một đặc điểm nổi bật của nó là bằng chứng rõ ràng, mà  
không cần đến bất kì mô hình nào, cho việc quay quanh trục sao ở vùng  
xích đạo (hình 3). Khu vực này có ranh giới rõ ràng với phần còn lại ở  
dạng lưỡng cực như đã thấy ở RS Cnc và EP Aqr. Chú ý rằng sự tồn tại của  
thành phần quay đã đươc đưa ra và bị phủ nhận trong trường hợp RS Cnc,  
nhưng trong trường hợp EP Aqr, ta không thể biết được do cấu hình đặc  
biệt của nó. Dấu hiệu dãn nở của Red Rectangle ở vùng xích đạo làm cho  
khí bị thổi ra theo hình xoắn ốc như trên hình 3. Hình 4 cho thấy sự phân  
bố nhiệt độ cao hơn ở khu vực giáp ranh giữa vùng vật chất đang quay ở  
gần xích đạo và vùng nón nơi vật chất đang dãn nở. Nhiệt độ ở vùng gần  
xích đạo nhỏ hơn nhiệt độ ở vùng khu vưc hình nón.  
Hình 3: Red Rectangle. Bên trên: Bản đồ thể hiện bất đối xứng đông tây của vận  
tốc Doppler cho CO(3-2) (bên trái) và CO(6-5) (bên phải). Bên dưới: Vận tốc khí  
ở vùng cực (trên mặt phẳng kinh tuyến của sao, bên trái) và ở vùng xích đạo (trên  
mặt phẳng xích đạo của sao, bên phải).  
Chương 6 mở rộng các phân tích trước đó cho hai sao AGB khác,  
X Her và RX Boo, đã được quan sát bởi các kính thiên văn của IRAM  
thông qua vạch phát xạ CO. Phân tích này cũng đưa ra bằng chứng cho cấu  
trúc lưỡng cực của gió sao, nguyên nhân hình thành cấu trúc hai thành  
phần trên phổ vận tốc Doppler. Cuối chương là phần điểm lại những nghiên  
cứu từ các chương trước. Đặc biệt, lưu ý rằng các số liệu thường đã có độ  
phân giải tần số đủ tốt, nhưng nhu cầu về độ phân giải không gian và độ  
nhạy cao vẫn vô cùng cần thiết. Dưới góc nhìn này, hệ giao thoa ALMA  
đang mở ra một kỷ nguyên mới về độ tin cậy và độ chính xác. Nghiên cứu  
cũng đánh dấu sự chuyển đổi từ các phân tích dựa trên việc kiểm tra bằng  
mắt thường các ảnh ở từng khoảng vận tốc, các phổ tướng ứng với từng vị  
trí trên bầu trời và các bản đồ vị trí-vận tốc sang việc phân tích một cách  
định lượng. Nguồn gốc của các gió dạng lưỡng cực vẫn chưa rõ ràng và  
việc tìm ra bản chất vật lý của nó sẽ vẫn là một hướng nghiên cứu chính  
trong tương lai gần.  
Hình 4: Red Rectangle. Bên trái: Phân bố nhiệt độ trên nửa mặt phẳng kinh tuyến  
của sao. Giữa: phân bố theo khoảng cách r của nhiệt độ khí trung bình trong ba  
khu vực: các điểm màu đỏ là khu vực xích đạo, màu đen là ở vùng bicone và màu  
xanh là vùng cực. Độ lớn của sai số thể hiện sự phân tán ở mỗi bin khoảng cách.  
Bên phải: mật độ CO (số phân tử trên mỗi cm3) nhân với r2 (arcsec2).  
Chương 7 nghiên cứu phát xạ HI từ khu vực tương tác giữa gió  
sao và ISM. Ở khoảng cách xa, các phân tử bị phân ly do trường phát xạ  
đến từ môi trường giữa các sao. Do đó, để quan sát các khu vực xa tâm sao,  
đặc biệt là khu vực xảy ra tương tác giữa gió sao và ISM, chúng ta cần các  
phát xạ khác, không phải từ các phân tử, như bụi và các nguyên tử. Bụi  
phát bức xạ trong vùng hồng ngoại ở nhiệt độ thấp và thật ra là một chất  
chỉ thị tuyệt vời, tuy nhiên nó lại có phân bố liên tục theo tần số nên không  
cung cấp các thông tin về động học. Để có được những thông tin này chúng  
ta cần những phép đo vận tốc mà những vạch phát xạ như HI có thể cung  
cấp. Tuy nhiên, trên thực tế đo phát xạ HI từ các sao già là rất khó vì tín  
hiệu HI thường yếu và thường trùng cả về vị trí và tần số với phát xạ đến từ  
tâm thiên hà hoặc từ các khu vực giữa nguồn và người quan sát. Thực tế,  
những nỗ lực ban đầu nhằm đo phát xạ HI từ các sao già đã không đem lại  
kết quả. Chỉ đến khoảng mười năm trước việc đo phát xạ HI sử dụng kính  
thiên văn vô tuyến Nançay mới được thực hiện thành công, ngay sau đó  
một cuộc khảo sát trên diện rộng đã được thực hiên với các sao AGB và  
các tinh vân hành tinh. Kết quả đo đạc đã chỉ ra rằng một phần lớn lượng  
khí ở môi trường bao quanh sao tồn tại ở dạng nguyên tử. Hình dạng của  
phổ vạch đo được khi quan sát khu vực có khoảng cách cỡ 2 pc tính từ tâm  
sao hẹp hơn khi quan sát ở các khu vực gần tâm. Đây là kết quả của việc  
chuyển động chậm dần của gió sao khi tương tác với ISM. Điều này cũng  
đã được chỉ ra nhờ vào sự thay đổi vận tốc rõ rệt trong các quan sát bởi  
VLA.  
Phát xạ HI từ các sao đã được xem xét để khẳng định sự đúng đắn  
của bức tranh chung. Tuy nhiên, phát xạ HI từ các sao hậu AGB và các sao  
AGB có tốc độ mất khối lượng cao vẫn chưa đo được. Điều này thật ngạc  
nhiên vì phân tử hydrogen phải bị phân ly ở khoảng cách lớn và tạo ra một  
lượng lớn các nguyên tử hydrogen. Một trong các lý do được đưa ra đó là  
những ảnh hưởng trong quá trình truyền bức xạ có lẽ đã làm giảm cường  
độ phát xạ HI. Để hiểu thêm về vấn đề này, một mô hình đơn giản đã được  
xây dựng nhằm hiểu rõ tác động của việc hấp thụ bức xạ nền và độ dày  
quang học. Nó xem xét ba trường hợp khác nhau, phù hợp với những gợi ý  
của các tác giả trong các bài báo đã công bố, chẳng hạn như sự hiện diện  
của các lớp vỏ tách biệt (detached-shell). Các gió sao đang dãn nở tự do đã  
từng được phát hiện thông qua phát xạ HI từ hai sao khổng lồ đỏ, Y CVn  
và Betelgeuse. Do vậy mô hình này rất phù hợp để mô tả các nguồn ở thời  
kì đầu của quá trình mất khối lượng. Ở trường hợp Y CVn, sự hiện diện  
của "detached-shell" quanh khu vực gió sao dãn nở tự do, tạo ra do sự giảm  
tốc bất ngờ ở vị trí sốc, đã mô tả tốt phổ vạch như được chỉ ra trên hình 5.  
Tuy nhiên, một vài nguồn có tốc độ mất khối lượng cao như WX Psc,  
NML Tau và IZ Peg vẫn chưa đo được. Chúng nằm ở các vĩ độ cao của  
thiên hà, nơi các phát xạ HI được cho là yếu. Những mô phỏng trong luận  
án này chưa thể giải thích được những trường hợp như vậy, phải chăng ở  
các nguồn này phân tử hydrogen chiếm phần lớn trong vỏ sao, thậm chí ở  
cả các khu vực xa tâm.  
Figure 5: Phổ vận tốc của Y CVn từ số liệu đo đạc (đen) và từ mô hình với tốc độ  
mất khối lượng của sao là 1.3×10−7 khối lượng mặt trời một năm và bao quanh khu  
vực gió sao dãn nở tự do là một "detached-shell" nằm giữa bán kính 2.8” và 4.0”  
(đỏ).  
Cuối cùng, chương 8 đưa ra một số kết luận và bình luận về những  
triển vọng tương lai. Sau khi điểm lại những giới hạn của mô hình đã được  
thảo luận trong luận án, tôi cũng bình luận thêm về sự tương đồng của các  
vận tốc gió sao đã được quan sát ở các giai đoạn tiến hóa khác nhau, và  
chỉ ra rằng trong trường hợp Red Rectangle, sự tương đồng này là ngẫu  
nhiên. Sự tồn tại của các gió cực chuyển động chậm trong khoảng thời gian  
dài ở giai đoạn AGB của sao và sự hiện diện quan trọng của sự bất đồng  
nhất ở ngay thời kì đầu của giai đoạn AGB là các tính chất quan trọng mà  
chúng ta vẫn chưa có lời giải thích thỏa đáng. Tầm quan trọng của việc  
quan sát ít nhất hai vạch phát xạ của cùng một phân tử được nhấn mạnh là  
sẽ cung cấp một nguồn thông tin đáng kể về sự phân bố nhiệt độ của lớp vỏ  
khí.  
Các hệ giao thoa hiện nay, bao gồm cả các hệ giao thoa đã được  
dùng trong luận án như PdBI và VLA, đã tạo ra một bước tiến ngoạn mục  
trong sự hiểu biết của chúng ta về các sao già, độ tin cậy và độ chính xác  
của các kết luận được rút ra vẫn cơ bản bị giới hạn bởi độ nhạy và độ phân  
giải. Trong tương lai gần, các quan sát thông qua các phát xạ phân tử bởi  
NOEMA và ALMA và phát xạ hydrogen bởi JVLA và FAST sẽ cho phép  
chúng ta có thêm một bước tiến lớn hơn nữa.  
Các công trình đã công bố  
1. Hoai D.T, Mathews L., Winters J.M., et al., 2014, “The multi-scale  
environment of RS Cancri from CO and HI observations”, A&A,  
565, A54  
2. Hoai D.T, Nhung P.T., Gérard E., et al., 2015, “Modelling the HI  
21-cm line profile from circumstellar shells around red giants”,  
MNRAS, 449, 2386  
3. Nhung P.T., Hoai D.T., Winters J.M., et al., 2015, “On the Central  
Symmetry of the Circumstellar Envelope of RS Cnc”, RAA, 15, 713  
4. Tuan-Anh P., Diep P.N., et al., 2015, “12CO emission from the  
Red Rectangle”, RAA, 15, 2213  
5. Nhung P.T., Hoai D.T, et al., 2015, “12CO emission from EP  
Aquarii: Another example of an axi-symmetric AGB wind?”, A&A,  
583, A64  
pdf 18 trang yennguyen 17960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tóm tắt Luận án Nghiên cứu lớp vỏ của các sao khổng lồ đỏ ở bước sóng vô tuyến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_nghien_cuu_lop_vo_cua_cac_sao_khong_lo_do_o.pdf