Tóm tắt Luận văn Đặc điểm nghệ thuật truyện thơ Nôm khuyết danh

1
MỞ ĐẦU  
1. Lí do chọn đề tài  
1.1.Trong văn học truyền thống của người Việt Nam, truyện  
thơ Nôm là một di sản có ý nghĩa rất quan trọng. Nó là sự kết tinh  
những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc. Với truyện thơ Nôm, đặc  
biệt là truyện thơ Nôm khuyết danh, người Việt đã sáng tạo ra một  
thể loại văn học hết sức độc đáo, mang đậm bản sắc riêng của mình.  
So với các truyện thơ Nôm “hữu danh”/ “hiển danh”, tức là các tác  
phẩm gắn với tác giả cụ thể, truyện thơ Nôm khuyết danh có nhiều  
điểm khác biệt rất quan trọng. Đó không chỉ là sự khác biệt về  
phương thức hình thành, quan hệ giữa tác giả và tác phẩm… mà còn  
ở các đặc điểm nội dung và hình thức.  
1.2. Truyện thơ Nôm là đối tượng thu hút sự chú ý của giới  
nghiên cứu từ rất sớm. Ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX, đã có  
rất nhiều bài viết, công trình được các nhà nghiên cứu, phê bình trong  
nước và nước ngoài công bố. Tuy nhiên vì đây là loại hình văn học  
có số lượng tác phẩm khá lớn, nội dung rất phong phú, đa dạng, tình  
hình văn bản lại hết sức phức tạp cho nên các nhà nghiên cứu khó bề  
đi sâu hết.  
1.3. Nhìn vào thực tế nghiên cứu, có thể nhận thấy phần lớn  
các công trình nghiên cứu lâu nay thường tập trung vào một số tác  
phẩm tiêu biểu thuộc mảng truyện thơ Nôm bác học (như Truyện  
Kiều, Lục Vân Tiên, Hoa tiên). Đối với truyện thơ Nôm khuyết danh,  
các bài nghiên cứu không nhiều và cũng không mang tính hệ thống.  
Hầu hết chỉ đề cập một cách tổng thể về nội dung và nghệ thuật.  
Riêng về phương diện đặc điểm nghệ thuật của mảng truyện thơ Nôm  
khuyết danh thì lại càng ít.  
2
1.4.Với niềm say mê của người nghiên cứu, học tập văn học  
Việt Nam, đặc biệt là từ nhu cầu thực tế của việc giảng dạy văn học ở  
nhà trường phổ thông, chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm nghệ thuật  
truyện thơ Nôm khuyết danh” để thực hiện luận văn tốt nghiệp. Qua  
quá trình triển khai đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ được tiếp cận vấn  
đề một cách đầy đủ, kỹ lưỡng để một mặt phục vụ cho hoạt động  
chuyên môn và mặt khác, đóng góp thêm phần nào vào việc nhận  
thức về truyện thơ Nôm, một di sản quý báu của văn học dân tộc.  
2. Lịch sử vấn đề  
2.1. Những nghiên cứu về truyện thơ Nôm  
Các công trình nghiên cứu về truyện thơ Nôm nói chung xuất  
hiện từ rất sớm. Tuy nhiên, phải đến những năm 50 của thế kỷ XX,  
giới học giả mới công bố nhiều công trình, bài nghiên cứu quan trọng,  
đúng nghĩa.  
Đề cập chung đến truyện thơ Nôm, đáng chú ý trước hết có thể  
kể đến các bộ sách giáo khoa, giáo trình như Lịch sử Văn học Việt  
Nam, tập III, của Lê Hoài Nam và Lê Trí Viễn; Văn học dân gian,  
tập 1 của Đinh Gia Khánh; Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt  
Nam của Cao Huy Đỉnh; Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII -  
hết thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc; Mấy vấn đề Thi pháp Văn học trung  
đại Việt Nam của Trần Đình Sử...  
Những nghiên cứu chuyên sâu chủ yếu được in trên các tạp chí.  
Có thể kể một số bài viết tiêu biểu như: “Truyện Nôm khuyết danh,  
một hiện tượng đặc biệt của Văn học Việt Nam” của Bùi Văn  
Nguyên, đăng trên Tạp chí Văn học, số 7- 1960; “Những vấn đề xã  
hội trong truyện Nôm bình dân” của Nguyễn Lộc (Tạp chí Văn học  
số 4- 1969); “Sự tiến triển của truyện thơ cổ điển Việt Nam và sự vay  
mượn cốt truyện” của N.I. Niculin (Tạp chí Văn học, số 3- 1983);  
3
“Nhận xét về phiên âm và khảo đính truyện Nhị độ mai” của Nguyễn  
Quảng Tuân (Tạp chí Hán Nôm, số 2(27) – 1996)... Ở một quy mô  
khác, việc nghiên cứu truyện thơ Nôm còn được tiến hành qua các  
luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ.  
2.2. Những nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn  
Năm 1979, Đặng Thanh Lê xuất bản chuyên luận Truyện Kiều  
và thể loại truyện Nôm.  
Năm 2007, Kiều Thu Hoạch công bố chuyên luận Truyện Nôm  
– lịch sử phát triển và thi pháp thể loại.  
Năm 2007, Nguyễn Phong Nam xuất bản cuốn Truyện thơ  
Nôm- Những nghiên cứu hình thái học.  
2.3. Những vấn đề đặt ra từ quá trình nghiên cứu  
Phân loại được xem là cơ sở để gọi tên, từ trước đến nay có hai  
nhóm ý kiến khác nhau về vấn đề tên gọi. Nhóm ý kiến thứ nhất cho  
rằng: truyện thơ Nôm khuyết danh và truyện thơ Nôm hữu danh.  
Nhóm ý kiến thứ hai phân truyện thơ Nôm thành: truyện thơ Nôm  
bình dân và truyện thơ Nôm bác học. Tiêu biểu cho cách phân loại  
thứ nhất có các tác giả: Đỗ Đức Hiểu, Bùi Văn Nguyên, Lê Hoài  
Nam,...  
Ở nhóm ý kiến thứ hai thì Dương Quảng Hàm là người đầu  
tiên đưa ra thuật ngữ Truyện thơ Nôm bình dân. Bên cạnh đó còn có  
nhiều tác giả cùng ý kiến như Nguyễn Lộc, Dương Quảng Hàm, Đinh  
Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh, Vũ Tố Hảo,...  
Ở đề tài này, chúng tôi không đi vào nghiên cứu lịch sử tên gọi  
song thiết nghĩ cần phải điểm qua một số công trình nghiên cứu về  
truyện thơ Nôm khuyết danh để có cơ sở đi vào nghiên cứu khía cạnh  
thi pháp thể loại của tiểu loại truyện thơ Nôm khuyết danh như: cốt  
truyện, kết cấu, hình tượng nghệ thuật trong đó có hình tượng nhân  
4
vật, hình tượng không gian, thời gian. Trong chương nghiên cứu  
ngôn từ nghệ thuật của truyện thơ Nôm khuyết danh, chúng tôi chỉ ra  
điểm khác biệt trong ngôn ngữ truyện kể dân gian và ngôn ngữ  
truyện thơ Nôm khuyết danh để thấy được những bước chuyển mình  
trong nền văn học viết giai đoạn lúc bấy giờ. Tuy nhiên các thi liệu  
của văn học dân gian như tục ngữ, thành ngữ và biện pháp tu từ ẩn dụ  
là những yếu tố không thể thiếu trong việc sử dụng ngôn từ của loại  
hình này.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu  
Ở luận văn này, đối tượng nghiên cứu được chúng tôi xác định  
là các tác phẩm đã được giới chuyên môn thừa nhận, in trong bộ sách  
Kho tàng truyện Nôm khuyết danh (2 tập) do Nhà xuất bản Văn học ấn  
hành năm 2000. Trong đó chúng tôi chỉ chọn một số tác phẩm tiêu biểu  
nhất có nguồn gốc từ truyện kể dân gian Việt Nam; tập trung chủ yếu  
vào 10 truyện: Quan Âm Thị Kính, Tống Trân - Cúc Hoa, Phạm Công  
- Cúc Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Thạch Sanh, Từ Thức, Cái Tấm -  
Cái Cám, Mã Phụng - Xuân Hương, Chàng Chuối, Lục súc tranh công.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Cụ thể, luận văn sẽ đề cập đến nguồn gốc, mô hình cốt truyện,  
kết cấu tác phẩm, đặc điểm hình tượng nghệ thuật và ngôn từ nghệ  
thuật của truyện thơ Nôm khuyết danh.  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Trong luận văn này chúng tôi sẽ tiếp cận đối tượng trên cơ sở  
các phương pháp chính như sau:  
- Phương pháp loại hình  
- Phương pháp hệ thống – cấu trúc  
5
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác  
như: phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh…  
5. Đóng góp của luận văn  
5.1. Từ góc độ đặc điểm nghệ thuật: cách xây dựng cốt truyện,  
kết cấu, ngôn ngữ đến cách xây dựng nhân vật, không gian,...Luận  
văn đi đến xác lập cái nhìn hệ thống cho truyện thơ Nôm khuyết  
danh.  
5.2. Luận văn có giá trị ứng dụng cho nhu cầu thực tế giảng  
dạy ở nhà trường phổ thông hiện nay.  
6. Bố cục của luận văn  
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương.  
Chương 1: Đặc điểm cốt truyện và kết cấu trong truyện thơ Nôm  
khuyết danh  
Chương 2: Hình tượng nhân vật và hình tượng không gian, thời  
gian trong truyện thơ Nôm khuyết danh  
Chương3: Ngôn từ nghệ thuật trong truyện thơ Nôm khuyết  
danh  
6
CHƢƠNG 1  
ĐẶC ĐIỂM CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU  
TRONG TRUYỆN THƠ NÔM KHUYẾT DANH  
1.1. ĐẶC ĐIỂM CỐT TRUYỆN TRUYỆN THƠ NÔM  
KHUYẾT DANH  
1.1.1. Khái niệm cốt truyện  
Trên cơ sở tiếp thu định nghĩa của Aristote, B. Tomachevski,  
Trần Đình Sử, Lê Tiến Dũng... các nhà nghiên cứu đi trước, chúng  
tôi hiểu cốt truyện, nói một cách ngắn gọn, là chuỗi các yếu tố cơ bản  
(các mô típ, chức năng, biến cố, sự kiện….) được tổ chức theo một  
mô hình cụ thể. Như vậy, cốt truyện không gì khác hơn là hệ thống  
gồm rất nhiều tình tiết, chi tiết cụ thể được tập hợp, thống nhất theo  
một nguyên tắc nào đó. Vì thế khi đi tìm hiểu đặc điểm cốt truyện  
thực chất là tìm hiểu các yếu tố (nhân vật, sự kiện) và mô hình tổ  
chức hệ thống các yếu tố trong tác phẩm.  
1.1.2. Mô hình cốt truyện truyện thơ Nôm khuyết danh  
Chúng tôi chia mô hình cốt truyện thơ Nôm khuyết danh theo  
hai nhóm: nhóm có cốt truyện theo mô hình: gặp gỡ- tai biến/lưu lạc-  
đoàn viên và nhóm có mô hình: nhân- quả.  
Mô hình “Gặp gỡ - Tai biến/ lƣu lạc - Đoàn viên”  
Mở đầu thường trình bày hoàn cảnh xã hội, xuất thân của nhân  
vật. Sau đó biến cố xảy ra, nhân vật phải trải qua nhiều gian truân thử  
thách và cuối cùng là được hưởng hạnh phúc. Quá trình vận hành đó  
là rất ổn định. Các truyện Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa,  
Phạm Công Cúc Hoa… đều gắn với những cuộc gặp gỡ ban đầu và  
tái ngộ vào cuối truyện. Các phần đã diễn ra theo đúng trật tự tuyến  
tính, trước sau rất mạch lạc. Có nghĩa là cốt truyện được xây dựng  
7
dựa trên một nguyên tắc ổn định, phổ quát. Và chính mô hình cốt  
truyện này cũng ít nhiều chịu sự chi phối của quan niệm, nhận thức  
của cộng đồng.  
Thông thường các tác phẩm có chủ đề tài tử giai nhân được tác  
giả trình bày theo mô hình Gặp gỡ - Lưu lạc - Đoàn viên. Đó là  
những truyện như Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Phạm  
Công Cúc Hoa…. Cuộc gặp gỡ của đôi nam nữ bao giờ cũng diễn ra  
một cách hợp lý, tự nhiên không theo một sự sắp đặt nào cả. Họ đến  
với nhau như là duyên trời định. Và chung sống với nhau trong thời  
gian ngắn ngủi thì gặp biến cố xảy ra, họ lưu lạc một thời gian khá  
lâu. Bằng ý chí, nghị lực, lòng thủy chung họ đã vượt qua tất cả và  
cuối cùng được đoàn viên.  
Đúng như vậy, ban đầu cả ba truyện Phạm Công Cúc Hoa,  
Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa đều được giới thiệu như  
nhau các chàng trai đều là nhà nghèo nhưng có chí học hành, họ đều  
gặp những cô gái đẹp, đức hạnh hết lòng yêu thương. Từ đó người kể  
mới đi vào nội dung chính. Phần tai biến câu chuyện đều xoay quanh  
trục: các chàng trai ai cũng được vợ quan tâm, lo lắng nuôi cho ăn  
học và sau đó là thi đỗ trạng nguyên. Khi đã thành tài rồi thì bị vua  
ép gả công chúa nhưng các chàng đều cự tuyệt vì có vợ ở nhà. Tai  
biến tiếp theo là họ bị đày đi sứ hoặc đi đánh giặc còn người vợ ở nhà  
thì bị những tên háo sắc hay cường hào cưỡng ép phải bỏ chồng  
nhưng các nàng đều một mực chung thủy với chồng cuối cùng là  
đoàn tụ. Cách kết thúc có hậu này là cốt truyện quen thuộc từ truyện  
cổ dân gian.  
Mô hình cốt truyện “Nhân - Quả”  
Gọi một cách đầy đủ, mô hình này là Nguyên nhân – Kết quả.  
Đây là một cách nhìn mới về mô hình cốt truyện truyện thơ Nôm nói  
8
chung, đặc biệt là truyện thơ Nôm khuyết danh.  
Theo các nhà nghiên cứu, mô hình Nhân Quả bao quát tất cả  
mọi cốt truyện truyện thơ Nôm, không loại trừ chủ đề nào. Không chỉ  
các truyện Nôm đạo lý, truyện tôn giáo, truyện lịch sử… mà các  
truyện theo chủ đề tài tử giai nhân (vốn đặc trưng bởi mô hình ba  
phần) cũng vậy. Nói cách khác, mô hình gặp gỡ - lưu lạc, đoàn viên  
thực ra cũng là một biến thể của Nhân quả. Trong trường hợp này,  
phần Nguyên nhân bao gồm cả Gặp gỡ và lưu lạc, kết hợp với phần  
Kết quả (Đoàn viên) để thành một cốt truyện hoàn chỉnh. Có thể mô  
tả như sau:  
NHÂN (gặp gỡ, thử thách) – QUẢ (thành đạt, đoàn viên)  
Các tác phẩm như Thạch Sanh, Cái Tấm Cái Cám, Chàng  
Chuối… cũng vậy, đều là những trường hợp có cốt truyện theo mô  
hình nhân quả. Các nhân vật, sự kiện trong nhóm truyện này đều biểu  
hiện mối xung đột giữa cái thiện và cái ác. Ở đây cái ác thường hiển  
lộ qua lòng tham lam, đố kị, ích kỷ, qua hành vi vu oan giá họa cho  
người khác, hoặc tranh công lừa bịp để dành phần hơn về mình. Còn  
cái thiện là lòng thương người, vị tha, lòng dũng cảm, sự thủy chung  
và giữ chữ tín.  
Mối liên hệ giữa các nhân vật và sự kiện hoàn toàn nằm trong  
vòng Nhân Quả. Hai yếu tố này quan hệ chặt chẽ, biện chứng với  
nhau. Cái (sự việc, sự vật) này sinh xuất từ “cái kia” và ngược lại, sở  
dĩ vì có “cái này” cho nên mới dẫn đến “cái kia”. Quan hệ nhân quả  
chế ước, chi phối nhau một cách tuyệt đối.  
Trong truyện thơ Nôm, tác giả luôn tận dụng mọi cơ hội để  
triển khai một cách cụ thể tư tưởng nhân quả. Nếu trong truyện kể  
dân gian, tác giả chỉ cần nêu khái quát về phẩm chất nhân vật thì ở  
9
truyện thơ Nôm, các yếu tố được triển khai căn kẽ, cụ thể hơn.  
1.2. ĐẶC ĐIỂM KẾT CẤU TRUYỆN THƠ NÔM KHUYẾT DANH  
Đối với truyện thơ Nôm khuyết danh, việc sắp xếp các yếu tố  
cụ thể thành một hệ thống thường diễn ra theo mấy nguyên tắc cố  
định: nguyên tắc “tuyến tính thời gian”, nguyên tắc “tương phản - đối  
lập”, và nguyên tắc “hoàn chỉnh - trọn vẹn”.  
1.2.1. Kết cấu “tuyến tính thời gian”  
Kết cấu theo trình tự “tuyến tính thời gian” là dạng kết cấu phổ  
biến nhất trong các truyện kể dân gian, các tác phẩm tự sự trong văn  
học trung đại Việt Nam. Gọi là “tuyến tính” bởi vì ở các tác phẩm  
này diễn biến câu chuyện được trình bày theo dòng trôi chảy của thời  
gian thực tế, mọi thứ phát triển theo trình tự trước sau của sự việc.  
Các sự kiện được sắp xếp xâu chuỗi lại và lần lượt xuất hiện theo thứ  
tự không bị dừng lại hoặc đứt quãng. Có thể thấy dạng kết cấu này ở  
những truyện như Lục súc tranh công, Mã Phụng – Xuân Hương.  
1.2.2. Kết cấu “đối lập”  
Trong các truyện thơ Nôm khuyết danh, khi sử dụng lối kết  
cấu “tương phản, đối lập”, cho dù truyện có số lượng nhân vật ít hay  
nhiều, thì chúng cũng được phân chia thành các phe/ tuyến khác nhau.  
Đó là phe/ tuyến Thiện – Ác, Chính – Tà, Tốt – Xấu…  
Chẳng hạn ở truyện thơ Nôm Cái Tấm Cái Cám, các yếu tố  
mang bản chất Thiện như: Bụt, Hoàng Tử, Chim Vàng Anh, Chim Sẻ,  
Cá Bống, Bà Hàng Nước được tập hợp thành một “phe” có nhiệm vụ  
trợ giúp cho nhân vật chính hoạt động. Tất cả các yếu tố này đều có  
vai trò, hiệu ứng như nhau thành ra nó có tính chất đối lập một cách  
chặt chẽ với các sự kiện xảy ra cùng lúc với bên phe Ác.  
Ở truyện Thạch Sanh ngoài nhân vật đối lập nhau về đạo đức,  
về lý tưởng sống (Thạch Sanh hiền lành, chất phác, tốt bụng đối lập  
10  
với Lý Thông độc ác, gian xảo, tham lam), tác giả còn tạo sự đối lập  
qua các sự kiện. Sự đối lập diễn ra vừa song đôi với nhau vừa hô ứng  
giữa phần đầu truyện và cuối truyện. Tất cả sự đối lập đều nhằm mục  
đích bổ sung cho nhau và làm nổi bật chủ đề câu chuyện.  
1.2.3. Kết cấu “hoàn chỉnh”, “trọn vẹn”  
Hầu hết các truyện thơ Nôm có nguồn gốc từ truyện kể dân  
gian thì cuộc đời, số phận của nhân vật chính đều được trình bày một  
cách đầy đủ, có đầu có cuối. Điều này liên quan đến nghệ thuật kết  
cấu tác phẩm. Nó đòi hỏi mọi thứ trong truyện cũng được thực hiện  
sao cho phù hợp với yêu cầu chung; nó trở thành một nguyên tắc  
thống nhất trong toàn bộ diễn tiến câu chuyện.  
TIỂU KẾT  
Trong truyện thơ Nôm khuyết danh, cốt truyện và kết cấu là  
những yếu tố độc lập lại nhưng lại liên quan, phụ thuộc chặt chẽ với  
nhau. Xét về cốt truyện, truyện thơ Nôm khuyết danh chủ yếu dựa  
trên nền tảng của truyện kể dân gian. Về cơ bản, cốt truyện được thể  
hiện qua hai mô hình chính. Đó là mô hình gặp gỡ - tai biến/ lưu lạc -  
đoàn viên và mô hình nhân - quả. Hai mô hình này cũng không hoàn  
toàn tách biệt mà dung hợp, chuyển hóa lẫn nhau. Trong mô hình  
nhân quả cũng có bóng dáng mô hình gặp gỡ - lưu lạc – đoàn viên và  
ngược lại. Các mô hình này là sự cụ thể hóa quan niệm nghệ thuật, tư  
tưởng triết lý trong truyện thơ Nôm. Và chính mô hình cốt truyện  
cũng ảnh hưởng đến cách kết cấu tác phẩm. Kết cấu truyện thơ Nôm  
khuyết danh được hình thành theo những nguyên tắc cụ thể. Theo đó,  
có ba dạng chính là kết cấu dựa trên diễn biến thời gian sự kiện  
(nguyên tắc tuyến tính thời gian), dựa trên đặc điểm của nhân vật và  
sự kiện (nguyên tắc tương phản, đối lập), dựa trên quy mô câu  
chuyện (tính chất hoàn chỉnh, trọn vẹn). Trên cơ sở những nguyên tắc  
11  
kết cấu này, ta thấy các tác phẩm truyện thơ Nôm có kết cấu chặt chẽ  
và mọi sự kiện, tình tiết đều xoay quanh nhân vật trung tâm. Nhìn  
chung các tác phẩm truyện thơ Nôm khuyết danh có kết cấu khá hoàn  
chỉnh, nó tạo nên nét đặc sắc, riêng biệt của tác phẩm.  
12  
CHƢƠNG 2  
HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT VÀ HÌNH TƢỢNG KHÔNG GIAN,  
THỜI GIAN TRONG TRUYỆN THƠ NÔM KHUYẾT DANH  
2.1. HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT  
Nhìn chung, truyện thơ hiển danh/ truyện thơ bác học có nhiều  
kiểu dạng nhân vật hơn so với truyện khuyết danh. Ở truyện Nôm  
khuyết danh hầu như chỉ có hai loại/ nhóm nhân vật chủ yếu là nhân  
vật trung tâm và nhân vật chức năng.  
2.1.1. Nhân vật trung tâm  
Gọi nhân vật trung tâm bởi vì trong truyện thơ Nôm, nhân vật  
này là trung tâm, là hạt nhân của thế giới nghệ thuật. Toàn bộ mọi  
yếu tố trong tác phẩm, dù trực tiếp hoặc gián tiếp, dù ít hay nhiều đều  
liên quan tới nhân vật này. Tác phẩm thường có nhiều nhân vật (cả  
vai chính lẫn vai phụ) nhưng chỉ có một nhân vật trung tâm. Cũng vì  
thế mà đa số truyện thơ Nôm, nhất là truyện khuyết danh, phần lớn  
tên truyện cũng trùng với của tên nhân vật trung tâm.  
Nhân vật trung tâm trong truyện Nôm khuyết danh thường là  
nam giới, vì thế mưu lược tài trí không thôi chưa đủ, còn cần đến  
dũng khí. Hầu như nhân vật trung tâm nào cũng toàn tài văn võ; vừa  
là văn nhân lại vừa là dũng sĩ, kiểu nhân vật sinh ra để làm việc nghĩa.  
Trong truyện thơ Nôm khuyết danh, có một điều lý thú liên quan đến  
việc bố trí hệ thống nhân vật. Đó là nếu như nhân vật trung tâm là  
người nam (đa số như vậy) thì bao giờ cũng có người nữ xuất hiện  
trong vai trò “tương tác” với nhân vật trung tâm. Nhân vật này  
không chỉ là yếu tố của cốt truyện mà còn là một biện pháp nghệ  
thuật để làm nổi bật, hoàn thiện tính cách của nhân vật trung tâm.  
Nhờ họ mà quan niệm “trai tài gái sắc”, “trai anh hùng gái thuyền  
13  
quyên” trong truyện thơ khuyết danh được thể hiện một cách đầy đặn,  
hợp lý.  
Cách mô tả chân dung, tính cách nhân vật trung tâm trong  
truyện thơ Nôm khuyết danh có những đặc điểm riêng. So với các  
mẫu hình nhân vật trong truyện kể dân gian, nhân vật trung tâm ở  
truyện thơ khuyết danh đã được cá tính hóa, cụ thể hóa một mức độ  
đáng kể. Nhân vật trung tâm trong truyện thơ Nôm khuyết danh  
không phải là những nhân vật có cá tính. Họ là một mẫu người lý  
tưởng theo quan niệm của xã hội đương thời. Mọi yếu tố để hình  
thành nhân vật như một thứ vật liệu có sẵn, cả người sáng tác và  
người thưởng thức ở thời đại đó đều sẵn sàng tiếp nhận như một quy  
ước có tính công thức.  
Tính cách con người luôn vận động theo quy luật và theo hoàn  
cảnh xã hội. Mọi thứ, từ hình dáng, cốt cách, tâm hồn, tính cách của  
nhân vật đều được đặt trong mối liên hệ với thiên nhiên, với vũ trụ.  
Với các nam nhân vật trung tâm, cách miêu tả cũng theo  
nguyên tắc lấy thiên nhiên làm chuẩn mực nhưng có phần đơn giản  
hơn, chỉ chấm phá vài nét sơ sài, ít câu nệ hơn nhân vật “nữ sắc”.  
Nhìn chung cách thức miêu tả nhân vật mang tính ước lệ, tượng  
trưng. Có thể thấy cách miêu tả nhân vật trung tâm trong truyện thơ  
Nôm khuyết danh có những “quy tắc” thống nhất. Từ diện mạo bên  
ngoài đến hành động, cử chỉ, việc của nhân vật đều được đặt trong  
tương quan với thiên nhiên, vũ trụ.  
Cách thức xây dựng hình tượng nhân vật (trung tâm) như vừa  
nêu trên cũng bộc lộ những điểm có thể coi là hạn chế về phương  
diện nghệ thuật. Không ít hình ảnh mang tính tượng trưng được sử  
dụng để tạo sắc thái riêng khi mô tả nhân vật lại trở nên thiếu căn cứ,  
không logic  
14  
2.1.2. Nhân vật chức năng  
Trong truyện thơ Nôm khuyết danh, nhân vật chức năng xuất  
hiện nhằm thực hiện một số nhiệm vụ, vai trò cụ thể. Gọi là nhân vật  
chức năng bởi sự hiện diện của nó chủ yếu chỉ để đáp ứng những yêu  
cầu cụ thể chứ không phải một nhân vật có số phận riêng. Kiểu nhân  
vật này rất phổ biến trong truyện kể dân gian, truyện thơ Nôm nói  
chung chứ không phải chỉ có trong truyện thơ Nôm khuyết danh. Tuy  
vậy, nhân vật chức năng ở truyện khuyết danh cũng có những nét  
riêng.  
Hình tượng nhân vật chức năng luôn gắn liền với sự kiện nào  
đó xảy ra với nhân vật chính/ nhân vật trung tâm. Khi nhân vật gặp  
bế tắc, bị đẩy vào bước đường cùng, cần được trợ giúp, giải cứu thì  
nhân vật chức năng xuất hiện. Nhân vật chức năng thường xuất hiện  
dưới nhiều dạng thái khác nhau. Có nhân vật chức năng cũng là con  
người như những kẻ bình thường, có nhân vật chức năng dưới dạng  
“siêu nhân” (bụt, tiên, thần, thánh, Diêm Vương, Ngọc Hoàng…), có  
dạng là sự vật (cá bống, con gà trống, chim vàng anh, cây đàn, khung  
cửi…). Tất cả những nhân vật này có chức năng kết nối các nhân vật  
tốt lại với nhau để tạo nên phe chính diện. Nói đúng hơn, nhân vật  
chức năng là lực lượng siêu nhiên được tạo ra để giải quyết mọi bế  
tắc trong câu chuyện.  
2.2. HÌNH TƢỢNG KHÔNG GIAN, THỜI GIAN  
2.2.1. Không gian nghệ thuật  
Không gian nghệ thuật trong truyện thơ Nôm không đơn giản  
là không gian có trong hiện thực mà còn gắn cả với cái ảo tưởng của  
con người. Nó chi phối quan niệm sáng tác của nhà văn; tạo ra những  
kiểu hình tượng không gian độc đáo như “Không gian hiện thực”,  
“không gian huyền ảo”, “không gian vật lý”, “không gian tâm lý”…  
15  
Không gian hiện thực  
Không gian hiện thực trong truyện thơ Nôm khuyết danh  
thường được đánh dấu, hạn định bởi những sự vật quen thuộc như ao  
hồ, bờ dậu, cánh đồng, giếng nước, gốc đa…Dấu ấn làng quê Việt  
Nam xuất hiện với tần số cao trong nhiều truyện thơ Nôm, tạo cảm  
giác dân dã, bình dị đậm màu sắc truyền thống. Có thể thấy tất cả  
mọi yếu tố thuộc thế giới nghệ thuật truyện thơ Nôm khuyết danh  
đều mang dáng dấp, không khí thôn quê. Thậm chí ngay cả khi mô tả  
chốn kinh đô, cung đình hay những chỗ cung cấm, gia đình quyền  
quý thì những dấu hiệu quý tộc cũng rất mờ nhạt. Tất cả đều được  
dân dã hóa một cách triệt để, mọi yếu tố đều có màu sắc quê cảnh rất  
rõ nét.  
Không gian kì ảo  
Trong truyện thơ Nôm khuyết danh, không gian kỳ ảo là hình  
tượng mang tính ước lệ cao. Đó là cảnh thiên đình, âm phủ, thủy  
phủ… những không gian không hề tồn tại trong thực tế. Nó chỉ có  
trong tưởng tượng, trong cảm thức của con người. Không gian kì ảo  
gắn với những nhân vật, sự kiện khác thường. Nơi con người có thể  
tiếp xúc với các lực lượng siêu nhiên, nơi những giới hạn của con  
người bình thường được cởi bỏ. Con người có thể hiểu được loài vật,  
đồ vật, giao tiếp được với tiên, Bụt; người chết rồi sống lại, người  
sống có thể gặp được người đã chết…  
*
Có thể nói không gian nghệ thuật truyện thơ Nôm khuyết danh  
là một trong những hình tượng thể hiện rất rõ thế giới quan của người  
bình dân. Đó là không gian của trời đất giao hòa, của thế giới hiện  
thực nhiều màu sắc, không gian của những điều kì ảo, kỳ diệu. Sống  
trong một xã hội nhiều bất trắc, không gian nghệ thuật trong tác  
16  
phẩm văn học thể hiện rất rõ quan niệm, nhận thức, khát vọng của  
người bình dân. Các kiểu dạng không gian khác nhau đã góp phần tạo  
nên nét đặc sắc của loại hình văn học này.  
2.2.2. Thời gian nghệ thuật  
Nhìn chung, trong truyện thơ Nôm khuyết danh thường hiện  
hữu các kiểu thời gian chủ yếu như thời gian trần thuật, thời gian sự  
kiện. Ngoài ra còn có thời gian tâm trạng, cảm xúc…  
Truyện thơ Nôm như đã nói ở chương một là lối truyện được  
trình bày theo các mô thức nhân – quả hoặc gặp gỡ - tai biến/ lưu lạc  
- đoàn tụ. Chính vì thế các sự kiện, tình huống có vai trò đặc biệt  
quan trọng; tất nhiên đi kèm với sự kiện là “thời gian sự kiện”. Đây  
là hai yếu tố gắn liền với nhau. Điều đáng nói là tuy mức độ khác  
nhau song chúng đều mang tính chất tượng trưng, ước lệ. Ở truyện  
Nôm khuyết danh, tính mạch lạc, chặt chẽ khi mô tả các sự kiện (diễn  
tiến thời gian) nhiều khi không được đảm bảo. Có vẻ như đó không  
phải là điều được tác giả ưu tiên. Thời gian tâm lý cũng không phải là  
yếu tố được chú ý. Tất cả chỉ dành cho thời gian trần thuật.  
TIỂU KẾT  
Thế giới nghệ thuật trong truyện thơ Nôm khuyết danh được  
hình thành chủ yếu dựa trên hình tượng nhân vật, hình tượng không  
gian và thời gian. So với truyện kể dân gian và truyện thơ Nôm bác  
học, các hình tượng nghệ thuật của truyện thơ Nôm khuyết danh tuy  
có điểm tương đồng song vẫn có những điểm khác biệt quan trọng.  
Đối với hình tượng nhân vật, nét đặc sắc của truyện thơ Nôm  
khuyết danh nằm ở hai dạng chủ yếu là nhân vật trung tâm và nhân  
vật chức năng. Nhân vật trung tâm ở đây được xây dựng theo những  
mô thức riêng. Ở đó, nguyên tắc trọn vẹn, hoàn chỉnh và tính chất  
khuôn mẫu, công thức rất được đề cao. Khác với nhân vật trung tâm,  
17  
nhân vật chức năng thường được xây dựng theo một nguyên tắc khác,  
chủ yếu giữ vai trò đảm bảo cho sự phát triển của câu chuyện, vì thế  
nhiều khi nó chỉ mang ý nghĩa của một giải pháp nghệ thuật.  
Không gian, thời gian nghệ thuật trong truyện thơ Nôm khuyết  
danh cũng có những đặc điểm riêng. Có khá nhiều dạng thức không  
gian, thời gian xuất hiện trong tác phẩm, trong đó nổi bật là không  
gian hiện thực, không gian kỳ ảo; thời gian trần thuật, thời gian sự  
kiện. Những phương diện này đã được tổ chức, kết hợp để thành thế  
giới nghệ thuật đặc thù của truyện thơ Nôm khuyết danh.  
18  
CHƢƠNG 3  
NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT  
TRONG TRUYỆN THƠ NÔM KHUYẾT DANH  
3.1. NGÔN NGỮ TRUYỆN KỂ  
3.1.1. Ngôn ngữ nhân vật  
Điều mà các tác giả tương đối thống nhất khi nhận định về  
ngôn ngữ truyện thơ Nôm đó là ngôn ngữ nhân vật truyện thơ Nôm  
là ngôn ngữ đối thoại. Mặt khác, các nhà nghiên cứu cũng cho rằng  
ngôn ngữ nhân vật thường không có cá tính và mang tính ước lệ,  
tượng trưng.  
Truyện thơ Nôm bình dân/ khuyết danh, đa số có nguồn gốc từ  
truyện kể dân gian cho nên nó chịu ảnh hưởng phong cách ngôn ngữ  
nói, phong cách khẩu ngữ rất đậm nét. Chính vì thế mà trong truyện  
thơ khuyết danh, ngôn ngữ đối thoại chiếm tỉ trọng lớn.  
Một đặc điểm nữa là truyện thơ Nôm có sự thay đổi đáng kể so  
với truyện kể dân gian đó là biểu hiện được đời sống nội tâm nhân  
vật và góp phần đáng kể trong việc thể hiện tính cách con người. Tuy  
nhiên cá tính, tâm lý, tính cách nhân vật không phải là mục tiêu chủ  
yếu. Nhân vật trong nhóm truyện này mang tính chất của một loại  
người, một kiểu người (nhân vật nghèo khổ bất hạnh, nhân vật dũng  
sĩ, nhân vật đội lốt....) chứ không phải một con người cá nhân, cá thể  
như trong truyện tâm lý, truyện tình cảm. Ngôn ngữ nhân vật ở đây  
phải đảm nhận nhiều vai trò, trong đó có cả chức năng thuật chuyện,  
truyền tải thông tin sự kiện, thông tin cốt truyện. Lời đối thoại, độc  
thoại của nhân vật vừa tham gia vào việc kể chuyện lại vừa thể hiện  
bản thân.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 20080 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Đặc điểm nghệ thuật truyện thơ Nôm khuyết danh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_dac_diem_nghe_thuat_truyen_tho_nom_khuyet_d.pdf