Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu tương quan giữa thành phần và sự phân bố của giun đất với chất lượng đất ở một số vùng trồng cây công nghiệp tại xã Hiệp Hoà, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam

1
2
3
4
vậy nghiên cứu thành phần loài, ñặc ñiểm phân bố và mối tương quan  
giữa một số chỉ tiêu lý, hóa học của ñất với số lượng, mật ñộ và sinh  
khối của giun ñất là việc làm cần thiết ñể duy trì nền nông nghiệp và  
văn minh nhân loại. Trên cơ sở ñó, chúng tôi lựa chọn ñề tài:  
“Nghiên cứu tương quan giữa thành phần và sự phân bố của giun  
ñất với chất lượng ñất ở một số vùng trồng cây công nghiệp tại xã  
Hiệp Hoà, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam”  
MỞ ĐẦU  
1. LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI  
Với ñà phát triển của xã hội loài người hiện nay do quá trình  
canh tác quá mức và các biện pháp canh tác không hợp lý sử dụng  
nhiều phân hóa học, thuốc trừ sâu, các loại thuốc bảo vệ thực vật….  
dẫn ñến chất lượng ñất ngày càng suy giảm nhiều hơn và là nguyên  
nhân chính của sự thoái hóa ñất trên toàn cầu. Suy thoái tài nguyên  
ñất sẽ làm giảm hoặc mất khả năng cung cấp những ích lợi cơ bản  
cho con người. Trước tình hình ñó, nhằm phát triển một nền nông  
nghiệp bền vững ñồng thời bảo vệ tài nguyên ñất là hết sức cần thiết,  
ñòi hỏi chúng ta cần phải ñánh giá ñược hiện trạng ñất nông nghiệp  
ñang sử dụng hiện nay.  
2. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI  
- Đánh giá ña dạng thành phần loài, ñặc ñiểm phân bố, sinh  
khối của giun ñất tại một số vùng canh tác trồng cây công nghiệp của  
xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam.  
- Đánh giá hiện trạng môi trường ñất và mối tương quan giữa  
một số chỉ tiêu lý, hóa học của ñất với thành phần, phân bố và sự ña  
dạng của giun ñất tại một số vùng canh tác trồng cây công nghiệp của  
xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.  
Trong nhóm ñộng vật ñất giun ñất là nhóm rất nhạy cảm với  
những thay ñổi của môi trường sống, nó ñược coi là nhóm biểu thị  
môi trường về tính chất ñất. Vì những vùng ñất có nhiều giun xuất  
hiện thường là những vùng màu mỡ, ñất có nhiều chất hữu cơ và môi  
trường ñất ít bị ô nhiễm [13]. Tuy nhiên, các nghiên cứu sử dụng  
giun ñất là sinh vật chỉ thị ñể ñánh giá chất lượng môi trường ñất còn  
khá mới mẻ và chưa phổ biến, chưa ñánh giá sự tương quan giữa  
thành phần trong môi trường ñất với mức ñộ ña dạng thành phần loài,  
ñặc ñiểm phân bố, sinh khối của giun ñất [8], [10], [15].  
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
- Đánh giá hiện trạng môi trường ñất thông qua phân tích một  
số chỉ tiêu lí hóa.  
- Điều tra, ñánh giá ña dạng thành phần loài, ñặc ñiểm phân  
bố, sinh khối của giun ñất.  
- Tìm ra mối tương quan giữa một số chỉ tiêu lý, hóa học của  
ñất với thành phần, phân bố và sự ña dạng của giun ñất.  
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài giun ñất thu ñược tại một  
số vùng canh tác cây công nghiệp của xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức,  
tỉnh Quảng Nam.  
Hiệp Đức là một huyện trung du nghèo ñang tận dụng lợi thế  
của vùng ñể thay ñổi cơ cấu cây trồng trên quỹ ñất trống còn nhiều từ  
ñó ñã từng bước thay ñổi kinh tế của mỗi gia ñình. Tuy nhiên nông  
dân có xu hướng lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu làm ảnh  
hưởng ñến chất lượng ñất, làm thay ñổi các chỉ tiêu lý hóa cũng như  
ảnh hưởng ñến số lượng, mật ñộ và sinh khối của giun ñất. Chính vì  
- Phạm vi nghiên cứu:  
5
6
+ Nghiên cứu thành phần, phân bố của giun ñất tại một số  
vùng canh tác cây công nghiệp của xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức,  
tỉnh Quảng Nam.  
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1. Hiện trạng và tác hại của ô nhiễm ñất trên thế giới và Việt  
Nam  
+ Nghiên cứu một số chỉ tiêu lý, hoá học của ñất ở khu vực  
nghiên cứu  
1.1.1. Hiện trạng và tác hại của ô nhiễm ñất trên thế giới  
Tổng diện tích ñất tự nhiên trên thế giới là 148 triệu km2.  
Những loại ñất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm  
12,6%. Những loại ñất quá xấu chiếm tới 40,5%. Diện tích ñất trồng  
trọt chỉ chiếm khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên. Theo Lester  
R.Brown (1985), việc sử dụng phân hoá học trong nông nghiệp thế  
giới ñã tăng lên rất mạnh. Tính riêng giai ñoạn từ năm 1950 ñến  
1983, lượng phân hoá học ñược sử dụng ñã tăng lên từ 15 triệu tấn  
(năm 1950) lên 114 triệu tấn (năm 1983), tăng lên gấp 8 lần. Việc  
thâm canh cây trồng với ñầu tư nhiều phân hoá học là một trong  
những nguyên nhân hoá chua của ñất [37],[41].  
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN  
- Cung cấp các thông tin về thành phần loài, ñặc ñiểm phân  
bố, sinh khối của giun ñất cùng mối liên hệ giữa một số chỉ tiêu lý,  
hóa học của ñất với thành phần, phân bố và sự ña dạng của giun ñất,  
làm cơ sở cho việc quản lý, sử dụng và phát triển bền vững tài  
nguyên ñất nông nghiệp.  
- Đánh giá hiện trạng môi trường ñất và góp phần hoàn thiện  
khu hệ giun ñất ở Hiệp Đức – Quảng Nam.  
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN  
Luận văn ngoài phần mở ñầu và kết luận còn có 3 chương:  
Chương 1. Tổng quan tài liệu.  
Trên thế giới, bên cạnh tình trạng mất diện tích ñất nông  
nghiệp thì ô nhiễm ñất nông nghiệp ñang là một vấn ñề lớn.  
1.1.2. Hiện trạng và tác hại của ô nhiễm ñất tại Việt Nam  
Theo Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia năm 2005 ñã  
ñề cập ñến một số nguyên nhân gây ô nhiễm ñất nông nghiệp như  
sau:  
Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.  
Chương 3. Kết quả và bàn luận.  
Ô nhiễm ñất do sử dụng phân hóa học: nông dân sử dụng  
phân bón không ñúng kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp nên hiệu  
lực phân bón thấp, có trên 50% lượng ñạm, 50% lượng kali và  
khoảng 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi  
trường ñất. Các loại phân vô cơ thuộc nhóm chua sinh lý như K2SO4,  
KCl, super photphat còn tồn dư axit ñã làm chua ñất, nghèo kiệt các  
cation kiềm và xuất hiện nhiều ñộc tố trong môi trường ñất như ion Al3+,  
7
8
Fe3+, Mn2+ làm giảm hoạt tính sinh học của ñất và giảm năng suất của  
cây trồng [16].  
Duy Xuyên là ñịa phương có nghề truyền thống Trồng dâu-  
Nuôi tằm - Ươm tơ - Dệt lụa. Do nhu cầu tơ lụa trên thị trường ñang  
tăng, xu thế thâm canh tăng vụ, tăng diện tích, thay ñổi cơ cấu giống  
cây trồng nên tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn. Vì vậy số  
lượng và chủng loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng cũng tăng lên,  
dẫn ñến hậu quả gây ra hiện tượng kháng thuốc, làm mất hiệu lực  
thuốc, ñể tồn dư lượng thuốc BVTV quá mức cho phép trong nông  
sản, thực phẩm, ñất ñai, nguồn nước là mối ñe dọa thường trực ñối  
với sức khỏe con nguời và môi trường [40].  
Ô nhiễm ñất do thuốc bảo vệ thực vật : Có ñặc ñiểm rất ñộc  
ñối với mọi sinh vật nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và  
có lợi trong môi trường ñất; tồn dư lâu dài trong môi trường ñất,  
trong nước [16].  
Chính những nguyên nhân trên ñã làm cho ñất nông nghiệp ở  
một số ñịa phương trong cả nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng.  
Theo GS.TS Lê Doãn Diên, giám ñốc Trung tâm Tư vấn ñầu  
tư nghiên cứu phát triển nông thôn cho biết do nhu cầu của thị  
trường ngày càng cao về ngoại hình sản phẩm, về phía người nông  
dân lại muốn ñảm bảo hoặc tăng năng xuất cây trồng nên các loại  
thuốc bảo vệ thực vật, kích thích tăng trưởng ngày càng ñược sử  
dụng rộng rãi [39].  
Theo thống kê của ngành y tế, năm 2007, toàn tỉnh Quảng  
nam có 856 người bị mắc bệnh hô hấp như viêm khí quản, viêm phổi,  
u hệ hô hấp... thì ñến năm 2010 lên ñến 1.296 người bị viêm phổi  
nặng và 658 người mắc bệnh viêm phế quản. Đặc biệt là người dân ở  
vùng nông thôn. Đây là nguyên nhân gây hại sức khỏe con người,  
dẫn ñến các bệnh ñường ruột, phụ khoa, da liễu, thậm chí gây ra các  
bệnh ung thư [35].  
1.1.3. Hiện trạng và tác hại ô nhiễm ñất tại Quảng Nam  
Sau hơn 10 năm thành lập ñã và ñang có nhiều ñổi thay tích  
cực. Tuy nhiên, quá trình phát triển chưa thực sự bền vững ñã ảnh  
hưởng ñáng kể ñến môi trường. Diện tích ñất nông nghiệp ñã làm  
giảm diện tích ñất trồng cây xanh và diện tích nuôi trồng thuỷ sản  
ñồng thời ảnh hưởng ñến cảnh quan môi trường. Trong những năm  
qua tình trạng ô nhiễm ñất ñã xảy ra trên một số nơi như:  
Với hơn 34 nhà máy ñã và ñang ñưa vào hoạt ñộng, KCN  
Điện Nam - Điện Ngọc ñang nổi lên như một ñiểm nóng về ô nhiễm  
môi trường ở miền Trung. Bởi vì, cũng như nhiều KCN khác ở miền  
Trung, KCN này vẫn chưa xây dựng hệ thống xử lý chất thải. Và hiển  
nhiên, tất thảy những gì thải ra ở KCN này người dân xung quanh  
phải gánh chịu [30].  
1.2. Tình hình nghiên cứu giun ñất làm chỉ thị môi trường trên  
thế giới và tại Việt Nam  
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
Trên thế giới việc nghiên cứu mối quan hệ giữa giun ñất và  
chất lượng ñất ñể từ ñó sử dụng giun ñất ñánh giá chất lượng môi  
trường ñất ñã ñược tiến hành và mang lại nhiều kết quả như: năm  
1995, tại Anh các nhà khoa học ñã tiến hành nghiên cứu việc sử dụng  
giun ñất làm chỉ thị ñể giám ñịnh ô nhiễm từ lửa nhựa công nghiệp.  
Nhiều nghiên cứu sử dụng vi sinh vật ñể ñánh giá mức ñộ ô nhiễm  
môi trường ñất nông nghiệp, các loài này tồn tại trong ñất một thời  
gian dài, song có thể tồn tại ở trạng thái “ngủ”, không hoạt ñộng, mặt  
9
10  
khác có sự biến ñộng lớn về số lượng cũng như hoạt ñộng sinh hóa  
của các nhóm vi sinh vật [17].  
Bassa lên quần xã giun ñất [12].  
Kết quả nghiên cứu của Đặng Văn Minh (2004), về mối quan  
hệ giữa giun ñất và chất lượng ñất trồng chè tại huyện Đồng Hỷ, Thái  
Nguyên, cho thấy giun ñất tập trung chủ yếu ở tầng ñất mặt và giảm  
dần theo ñộ sâu của ñất. Sự thay ñổi về hàm lượng giun trong ñất phụ  
thuộc nhiều vào ñộ ẩm ñất, sự phân bố của giun ñất trên tầng ñất mặt  
vào mùa mưa cao hơn mùa khô [13].  
Theo Ajit Varma (2005) “ Manual of Soil Analysis” Các loài  
sinh vật cũng ñược sử dụng như là nhân tố xác ñịnh các ñộc tố trong  
hệ sinh thái như một số sinh vật sẽ tạo ra sự căng thẳng protein khi  
tiếp xúc với chất ô nhiễm, bằng cách ño ñộ căng thẳng protein chúng  
ta có thể xác ñịnh ñược mức ñộ ô nhiễm hiện tại của môi trường [19].  
Nghiên cứu của Quanying Wang (2009) về ảnh hưởng của ô  
nhiễm kim loại nặng trong ñất tới sinh khối của các loài giun ñất và  
hệ vi sinh vật ñất tại cac vùng ñất xung quanh một mỏ khai thác ñồng  
bị bỏ hoang ở khu vực Đông Nam Kinh, Trung Quốc ñã cho thấy  
giun ñất có khả năng tích luỹ KLN trong mô cơ thể [18].  
Cũng theo nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Hối và cs (2005),  
nghiên cứu về ảnh hưởng của một số tính chất lý hóa của ñất ñến  
thành phần và phân bố của giun ñất tại vườn Quốc gia Tam Đảo cho  
kết quả như sau: hàm lượng mùn (OM) và hàm lượng Nitơ tổng số  
(Nts) có biến ñộng tỷ lệ thuận với nhau. Hàm lượng OM của ñất tại tất  
cả các sinh cảnh ở tầng ñất trên luôn cao hơn các tầng ñất dưới. Số  
lượng loài, mật ñộ và sinh khối trung bình của giun ñất tại hầu hết  
các sinh cảnh ñều giảm theo chiều sâu của phẫu diện tương ứng với  
sự giảm của pH, hàm lượng OM và hàm lượng Nts[10].  
Theo kết quả nghiên cứu của J. C. Buckerfield tại Australia  
giun ñất ñược sử dụng như một chỉ báo tiềm năng của tính bền vững  
ñã ñược ñiều tra ở một cuộc ñiều tra của 95 mảnh ñất gieo lúa mì, lúa  
mạch hoặc ñậu Hà Lan, trong diện tích khoảng 3500km2 [17].  
Những nghiên cứu trên cho thấy các loài giun ñất ñang ñược  
các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu sử dụng làm sinh  
vật chỉ thị trong môi trường ñất.  
1.2.3 Tình hình nghiên cứu giun ñất ở Quảng Nam – Đà Nẵng  
Ở Quảng Nam - Đà Nẵng có công trình nghiên cứu của Thái  
Trần Bái, Phạm Thị Hồng Hà, 1984; Phạm Hồng Hà, 1981, 1989,  
1992, 1995. Năm 1995 Phạm Thị Hồng Hà ñã cho một danh sách  
gồm 48 loài và phân loài giun ñất thuộc 4 họ, 8 giống, trong ñó có 5  
loài mới cho khoa học. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Đinh Thị  
Phương Anh, Phạm Thị Hồng Hà và Nguyễn Thị Đào ñã ñề cập tới  
13 loài giun ñất ở khu vực rừng ñặc dụng (ñộ cao dưới 1.000 m) của  
xã Hoà Ninh(5/2000). Đề tài nghiên cứu cấp Bộ về “Thành phần và  
sự phân bố loài giun ñất theo ñai ñộ cao và ñịnh hướng cải tạo môi  
trường ñất ở thành phố Đà Nẵng” của TS. Phạm Thị Hồng Hà năm  
2009 ñã ñề cập ñến 75 loài giun ñất thuộc 8 giống, 4 họ và sự phân  
1.2.2. Tình hình nghiên cứu giun ñất ở Việt Nam  
Một số ít công trình nghiên cứu về lĩnh vực này ñã ñược  
công bố như: Theo Lê Huy Bá, ở ñồng bằng Sông Hồng các loài  
giun ñất Ph. califonica và Ph. triastriata ít gặp trong ñất nghèo mùn  
hơn các loài giun ñất khác, Ph. Morrisi và Ph.Posthuma thường gặp  
trong ñất có phản ứng trung tính với giá trị pHKCl = 6,0 - 7,5, còn Ph.  
califonica và Ph. triastriata thường gặp trong ñất có phản ứng chua  
hơn với pHKCl = 4,5- 6,0 [1]. Theo nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim  
Hối (2000) về khảo sát ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Wofatox và  
11  
12  
bố của chúng theo ñai ñộ cao ở thành phố Đà Nẵng [8].  
Ngoài ra còn có một số nghiên cứu của học viên cao học và  
sinh viên khoa Sinh –Môi trường như: Võ Thị Việt Hà (2010), Ngô  
Thị Thúy An (2010) và Nguyễn Thị Mỹ (2011) sử dụng giun ñất ñể  
ñánh giá chất lượng môi trường ñất tại Đà Nẵng, Võ Thị Minh  
Nguyệt (2010) và Lê Thị Hiếu Giang (2010) sử dụng một số loài giun  
ñất trong giống pheretima ñể ñánh giá ô nhiễm Cd và Pb ở khu vực  
khu công nghiệp Hòa Khánh, thành phố Đà Nẵng.  
CHƯƠNG 2  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1 Đối tượng nghiên cứu  
+ Các loài giun ñất thu ñược tại một số vùng canh tác cây công  
nghiệp của xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.  
+ Chất lượng ñất ở một số vùng trùng cây công nghiệp tại xã  
Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.  
2.2. Thời gian nghiên cứu  
Như vậy, vấn ñề nghiên cứu xác ñịnh mối tương quan giữa  
giun ñất và chất lượng môi trường ñất còn tương ñối mới mẻ .  
1.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu  
1.3.1 Điều kiện tự nhiên  
Đề tài nghiên cứu ñược tiến hành từ tháng 9/2010 ñến tháng  
6/2011.  
2.3. Địa ñiểm nghiên cứu  
Đề tài nghiên cứu tại 4 ñịa ñiểm:  
Hiệp Đức là một huyện trung du thuộc tỉnh Quảng Nam.  
+ Tọa ñộ ñịa lý: 15022’12” N; 107 084’40” E  
1. Vùng trồng cây cao su ñược 11 năm – xã Hiệp Hòa,  
Huyện Hiệp Đức.  
+ Vị trí ñịa lý: Phía Bắc giáp huyện Quế Sơn; Phía Tây giáp  
huyện Phước Sơn; Phía Đông giáp Tiên Phước và Thăng Bình; Phía  
Nam giáp Bắc Trà My.  
2. Vùng trồng cây cao su ñược 2 năm – xã Hiệp Hòa,  
Huyện Hiệp Đức.  
3. Vùng trồng cây keo lá tràm ñược 6 năm – xã Hiệp Hòa,  
Huyện Hiệp Đức.  
1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội  
Huyện có diện tích 492km2, với số dân là 38.000 người (năm  
2004). Đa phần người dân tham gia hoạt ñộng sản xuất nông nghiệp.  
Nền sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự cung, tự cấp, diện tích  
ñất trồng các loại cây công nghiệp chỉ mang tính tự phát, nhỏ lẻ nên  
sản phẩm chưa thực sự trở thành hàng hóa.  
4. Vùng trồng cây keo lá tràm ñược 2 năm – xã Hiệp Hòa,  
Huyện Hiệp Đức.  
2.4. Phương pháp nghiên cứu  
2.4.1. Phương pháp phỏng vấn  
Điều tra phỏng vấn dùng các câu hỏi mở cho các ñối tượng  
quản lí, dân ñịa phương về các loại giống cây trồng, tình hình sản  
xuất và qui trình sản xuất, mục ñích sử dụng ñất, các loại phân bón và  
thuốc bảo vệ thực vật ñược sử dụng.  
Việc chuyển ñổi cơ cấu cây trồng bước ñầu ñược nhân dân  
hưởng ứng từ sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lúa nước một vụ trên  
nền ruộng bậc thang hoặc lúa rẫy truyền thống chuyển sang trồng  
rừng thành thục bằng các cây công nghiệp như cao su, keo lá tràm  
mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người dân [4].  
13  
14  
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực ñịa  
+ Xác ñịnh pH ñất theo phương pháp cực chọn lọc Hidro [6].  
+ Xác ñịnh N tổng số theo phương pháp [6].  
Thu mẫu giun ñất: theo phương pháp của Ghiliarov, 1976.  
Mẫu vật ñược thu trong ô tiêu chuẩn (kích thước 50 cm x 50 cm),  
ñược ñào theo ñộ sâu của phẩu diện ñất với các lớp dày 10 cm cho  
ñến khi không còn thu ñược mẫu giun ñất. Mẫu ñược bảo quản trong  
các túi vải có chứa ñất thu cùng mẫu giun ñất, và ñược ñưa về phân  
tích ở phòng thí nghiệm bộ môn Động vật không xương sống, khoa  
Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng [8].  
Tiến hành ñiều tra các loại cây trồng ở các khu vực nghiên  
cứu. Ngoài ra, phỏng vấn người nông dân trực tiếp trồng và chăm sóc  
cây cao su và keo lá tràm về cách làm ñất, việc sử dụng phân bón,  
thuốc trừ sâu tại các khu vực nghiên cứu.  
+ Xác ñịnh Phốt pho tổng số: phá hủy mẫu bằng H2SO4 ñặc  
và HClO4 [6].  
2.4.4. Phương pháp phân tích số liệu  
- Xử lý số liệu thống kê và vẽ biểu ñồ bằng phần mềm Excel,  
Origin 5.0, Primer 5.0. So sánh các giá trị trung bình bằng phương  
pháp phân tích Anova và kiểm tra LSD với mức ý nghĩa α = 0,05.  
Các giá trị trong phân tích tương quan ñược chuyển theo dạng công  
thức x’ = log10(x+10).  
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm  
- Xử lý mẫu theo theo tiêu chuẩn quốc tế của ñối tượng  
nghiên cứu: mẫu giun ñất ñược rửa bằng nước cho sạch ñất và vụn  
hữu cơ bám ngoài, sau ñó làm cho giun chết bằng dung dịch cồn 700.  
Khi giun ñã chết và cứng lại, chuyển mẫu sang ñịnh hình cố ñịnh và  
bảo quản ở trạng thái duỗi thẳng trong dung dịch cồn 700. Tất cả mẫu  
vật ñược lưu trữ ở phòng thí nghiệm bộ môn Động vật không xương  
sống, khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng.  
- Phân tích mẫu giun ñất.  
+ Giun ñược ñịnh loại theo tài liệu chuyên ngành của Thái  
Trần Bái (1983), Phạm Thị Hồng Hà (1995) .  
+ Xác ñịnh khối lượng giun ñất theo phương pháp cân ño  
thông thường.  
- Phân tích mẫu ñất:  
+ Xác ñịnh ñộ mùn tổng số theo phương pháp Walkley –  
Blach [6].  
15  
16  
CHƯƠNG 3  
3.1.2. Sinh khối giun ñất qua các ñợt thu mẫu  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN  
Qua nghiên cứu cho thấy giun ñất xuất hiện vào cả 3 ñợt.  
Sinh khối thu ñược giữa các ñợt có sự biến ñộng rõ rệt, sinh khối  
giun ñất trung bình ñợt 2 là cao nhất (10.53 ± 7.7) tiếp theo là ñợt 3  
(9.58 ± 5.5) và thấp nhất là ñợt 1 (7.3 ± 4.89). Sự khác nhau này là do  
sự chênh lệch về nhiệt ñộ, ñộ ẩm của môi trường giữa 2 mùa, ñợt 2  
và ñợt 3 thu mẫu vào mùa mưa dài ngày (từ tháng 10 ñến tháng 12),  
thời gian thu mẫu ñúng vào thời gian bón phân nên ñộ ẩm và hàm  
lượng N và P trong ñất cao, tạo ñiều kiện thích hợp cho giun ñất phát  
triển.  
3.1. Thành phần, số lượng, sinh khối và mật ñộ giun ñất  
3.1.1.Thành phần, số lượng giun ñất  
Đã phát hiện ñược tại các ñịa ñiểm nghiên cứu 13 loài giun  
ñất thuộc 4 giống: Pontoscolex, Pheretima, Drawida, Gordiodrilus;  
4 họ: Glossoscolecidae, Megascolecidae, Moniligastridae và  
Ocenerodrilidae. Trong ñó, số lượng loài giun ñất cao nhất tại khu  
vực keo lá tràm 2 năm (11 loài), giảm tại ñất cao su 11 năm (10 loài), thấp  
hơn tại ñất keo lá tràm 6 năm (9 loài) và thấp nhất ở cao su 2 năm (2 loài).  
Chỉ số ña dạng loài qua 3 ñợt thu mẫu tại keo lá tràm 2 năm là  
cao nhất (DMg= 1,66 ± 0,18; H = 1,75 ± 0,28; J = 1,98 ± 0,28); tiếp  
ñến là keo lá tràm 6 năm (DMg= 1.38 ± 0.24; H = 1.56 ± 0.36; J =  
1.31 ± 0.48) ; cao su 11 năm (DMg= 0.98 ± 0.12; H = 1.1 ± 0.22; J = 1  
± 0.2) và thấp nhất là cao su 2 năm (DMg= 0.69 ± 0.1; H = 0.81 ±  
0.25; J = 1.0 ± 0.1).  
Xếp theo thứ tự các khu vực nghiên cứu thì sinh khối giun  
ñất tại ñất trồng cao su 11 năm (13.97 ± 7.11g/m2) cao hơn ñất cao su  
2 năm (8.55 ± 5.6), sinh khối giun ñất tại ñất trồng keo lá tràm 2 năm  
(9.07 ± 7.4 g/m2) cao hơn keo lá tràm 6 năm (8.03 ± 5.79 g/m2). Điều  
này có thể do ñất trồng cao su 11 năm là cây lâu năm sản phẩm thu  
lại là mủ cao su vì vậy muốn thu năng suất cao người dân phải chăm  
sóc và bón phân thường xuyên hằng năm còn ñối với keo lá tràm thu  
hoạch sản phẩm là cây keo nên sau thời gian 4 năm trở lên có thể thu  
hoạch cây trưởng thành không cần phải bón phân hoặc chăm sóc .  
Ngoài ra xét cùng một ñịa ñiểm thu mẫu thì sinh khối giun  
ñất cũng giảm từ tầng ñất 1 xuống tầng ñất 3. Theo Đặng Văn Minh  
khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa giun ñất và chất lượng ñất  
trồng chè tại huyện Đồng hỷ, Thái nguyên ñã khẳng ñịnh rằng giun  
ñất tập trung chủ yếu ở tầng ñất mặt và giảm dần theo ñộ sâu của  
ñất [13].  
Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng ñộ ña dạng của giun ñất ở  
sinh cảnh trồng keo cao hơn so với sinh cảnh cao su. Có thể vì keo là  
loài cây họ ñậu, có khả năng sống cộng sinh với vi khuẩn cố ñịnh  
ñạm Rhizobium và nấm rễ Mycoohizea.  
Mặt khác ở ñất trồng cao su 11 năm là cây lâu năm nên tầng  
thảm mục nhiều hơn, các tầng ñất phía dưới tơi xốp, nhiệt ñộ, ñộ ẩm  
trong ñất ổn ñịnh hơn, hàm lượng dinh dưỡng cao hơn ở ñất trồng  
cao su 2 năm. Độ ña dạng loài biến ñộng rõ rệt giữa các tầng ñất thu  
mẫu.  
3.1.3. Mật ñộ giun ñất qua các ñợt thu mẫu  
Qua phân tích mật ñộ giun ñất trung bình của 4 ñịa ñiểm qua  
3 ñợt thu mẫu chúng tôi nhận thấy ở ñợt 2 mật ñộ giun ñất cao hơn 2  
17  
18  
ñợt còn lại, cụ thể: ñợt 1 (24.42 ± 8.5 con/m2); ñợt 2 (39.3 ±  
23.4con/m2); ñợt 3 (38.7± 21.4con/m2). Sự khác nhau này cũng tương  
tự như khi xét về mặt sinh khối giun ñất.  
mật ñộ giun ñất trong ñất nhân tác ñều giảm theo chiều sâu của phẫu  
diện ñất [10].  
3.2. Một số ñặc ñiểm môi trường ñất tại khu vực nghiên cứu  
3.2.1. Độ pH môi trường ñất  
Mật ñộ giun ñất trung bình ở 4 ñịa ñiểm thu mẫu qua 3 ñợt  
thu mẫu cao nhất ở ñất trồng cao su 11 năm (46.94 ± 16.6 con/m2);  
cao su 2 năm có mật ñộ trung bình là (38.3 ± 18.1 con/m2); tiếp ñến  
là keo lá tràm 6 năm (30.5 ± 23.2 con/m2) và thấp nhất là keo lá tràm  
2 năm (22.19 ± 12.4 con/m2).  
Đa số giun sống trong môi trường trung tính, nếu quá kiềm  
hoặc quá chua sẽ ảnh hưởng không tốt ñến thành phần loài cũng như  
sư ña dạng về số lượng, sinh khối của giun ñất [13].  
Chỉ số pH trung bình ở các khu vực thu mẫu dao ñộng từ  
5.72 ± 0.68 ñến 7.09 ± 0.41 ñạt mức “không chua”. Chỉ số pH ở các  
tầng ñất tương ñối ổn ñịnh. Mức pH tại các ñịa ñiểm cũng như tại các  
ñợt nghiên cứu thích hợp cho sự phát triển của giun ñất và hoàn toàn  
phù hợp với nghiên cứu trước ñây.  
Mật ñộ giun ñất thu ñược ở ñất trồng cao su 2 năm vào ñợt 2  
gấp 2 lần so với ñợt 1, ñợt 3 bằng 1.5 lần so với ñợt. Đất trồng cao  
su 11 năm ñợt 2 bằng 1.5 lần so với mật ñộ giun ñất thu ở ñợt 1, mật  
ñộ ñợt 3 bằng 2.2 lần so với ñợt 1. Đối với ñất trồng keo lá tràm 2  
năm ñợt 2 gấp 8 lần so với ñợt 1, ñợt 3 gấp 7.7 lần so với ñợt 1. Ở ñất  
trồng keo lá tràm 6 năm chúng tôi thu ñược ñợt 2 gấp 1.045 lần ñợt 1  
và ñợt 3 gấp 1.77 lần so với ñợt 1.  
3.2.2. Hàm lượng mùn (% OM) trong ñất  
Thành phần mùn ở các khu vực nghiên cứu tương ñối cao  
dao ñộng từ 2.95% ñến 5.85%. Giữa các ñợt thu mẫu có sự khác  
nhau, ở ñợt 1 hàm lượng %OM trung bình ñạt mức thấp nhất là  
3.62% theo thang xếp loại là “trung bình” cao nhất ở ñợt 2 trung bình  
ñạt 5.05% xếp vào mức “giàu mùn”, và ñợt 3 là 4.65% thấp hơn ñợt 2  
nhưng cao hơn ñợt 1 ñược xếp vào loại “giàu mùn”.  
Như vậy sinh khối và mật ñộ giun ñất giữa các ñợt ở ñất  
trồng cao su 11 năm và keo lá tràm 6 năm ổn ñịnh ít biến ñộng hơn  
và cao hơn so với ñất trồng cao su 2 năm và keo lá tràm 2 năm do cao  
su 2 năm và keo lá tràm 2 năm là những cây non mới trồng nên diện  
tích lá nhỏ và ñộ che phủ thấp tạo cho ñộ ẩm mặt ñất cũng thấp hơn  
chính vì thế số lượng, sinh khối và mật ñộ giun thấp hơn. Mặc khác,  
ở ñất trồng cao su 2 năm phụ thuộc vào sự chăm sóc của người dân  
nên khi thu mẫu rơi vào ô có bón phân nên hàm lượng dinh dưỡng  
cao, số lượng giun ñất tăng vọt lên cao.  
Giữa 4 ñịa ñiểm nghiên cứu qua 3 ñợt thu mẫu có sự khác  
nhau có ý nghĩa, hàm lượng %OM tại keo lá tràm 2 năm có giá trị 4.8  
± 0.65% xếp vào mức “giàu mùn” cao hơn keo lá tràm 6 năm 3.98 ±  
1.14 xếp vào loại “trung bình”; cao su 11 năm là 4.74 ± 0.62 xếp vào  
mức “giàu mùn” và cao su 2 năm thấp hơn cao su 11 năm có giá trị  
là 4.33 ± 0.79 xếp loại “giàu mùn”.  
Qua phân tích cho thấy càng xuống các tầng ñất sâu thì mật  
ñộ giun ñất càng giảm. Khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số tính  
chất lý hóa của ñất ñến thành phần và phân bố của giun ñất tại Vườn  
Quốc gia Tam Đảo, Huỳnh Thị Kim Hối và cs (2005), ñã kết luận:  
Theo nghiên cứu của Berhard và Reverat tiến hành năm 1993  
những vùng ñất trồng keo là những khu vực có thành phần chất hữu  
19  
20  
cơ và nguồn cung cấp xác thực vật cao nhất. Hàm lượng chất hữu cơ  
trong ñất phụ thuộc vào thời gian trồng và loại cây trồng [22].  
Ngoài ra hàm lượng OM trong ñất tại các ñịa ñiểm nghiên  
cứu còn giảm từ tầng ñất 1 ñến tầng ñất 3. Theo nghiên cứu của  
Huỳnh Thị Kim Hối về ảnh hưởng của một số tính chất lý hóa của  
ñất ñến thành phần và phân bố của giun ñất tại Vườn Quốc gia Tam  
Đảo cũng kết luận rằng thành phần cơ giới, hàm lượng mùn ñều giảm  
theo chiều sâu của phẩu diện tương ứng [10].  
3.2.4. Hàm lượng Photpho tổng số (Pts) trong môi trường ñất  
Tương tự như hàm lượng Nts hàm lượng Pts cao nhất ở ñợt 2  
(0.29 ± 0.08%) tiếp theo là ñợt 3 (0.25 ± 0.05%, ) thấp nhất là ñợt 1  
(0.026 ± 0.017%) theo thang xếp loại của Lê Đức (2004) lần lượt là  
giàu, giàu và nghèo.  
Đồng thời hàm lượng Pts tại mỗi tầng ñất qua các ñợt thu mẫu  
giảm dần từ tầng 1 ñến tầng 3.  
3.3. Phương thức canh tác cây công nghiệp tác ñộng ñến thành  
phần, phân bố và sự ña dạng của giun ñất tại khu vực nghiên cứu  
Khi tiến hành ñiều tra, phỏng vấn các kỹ thuật viên và các  
công nhân trồng cao su và keo lá tràm ở Hiệp Đức người trực tiếp  
tham gia sản xuất, người ta tiến hành các khâu: làm ñất ꢀgieo trồng  
ꢀ chăm sóc ꢀ thu hoạch. Tuy nhiên, trong quá trình canh tác người  
dân ñã sử dụng phân rong, lá cây hoặc phân hóa học, thuốc trừ sâu ñể  
cải tạo ñất, làm tăng ñộ phì nhiêu.  
3.2.3. Hàm lượng Nitơ tổng số (Nts) trong môi trường ñất  
Các nghiên cứu trước ñây ñã chỉ ra rằng 3 yếu tố: pH, OM và  
Nts có quan hệ mật thiết với nhau, sự biến ñộng giữa các ñợt thu mẫu  
tỉ lệ thuận với sự biến ñộng của hàm lượng mùn. Trong các ñặc tính  
của ñất %OM và Nt là 2 nhân tố ảnh hưởng ñến sự phong phú và sinh  
khối của giun ñất [20].  
Hàm lượng Nts trong ñất ở 4 khu vực nghiên cứu dao ñộng từ  
0.07 ± 0.03% ñến 0.21 ± 0.06%. Như vậy kết quả hoàn toàn phù hợp  
với những nghiên cứu trước ñây.  
+ Quy trình trồng mới, chăm sóc cây cao su ñược tiến hành  
như sau:  
Hàm lượng Nts tại tất cả các ñịa ñiểm thu mẫu ở ñợt 2 ñều  
cao hơn ñợt 3 và ñợt 1. Qua phân tích phương sai Anova và kiểm tra  
LSD ở mức α = 0,05 cho thấy giữa 4 ñịa ñiểm nghiên cứu qua 3 ñợt  
thu mẫu không có sự khác nhau. Hàm lượng Nts trung bình tại cao su  
11 năm là 0.13% và cao su 2 năm thấp hơn là 0.11% theo thang xếp  
loại là “trung bình”; tại keo lá tràm 6 năm và keo lá tràm 2 năm là  
0.14 % ñều xếp vào loại “trung bình ”.  
- Bón lót trước khi trồng. Bón lót mỗi hố 10kg phân chuồng ủ  
hoai (có thể dùng phân vi sinh) và 300g phân lân nung chảy.  
- Bắt ñầu phun thuốc trừ sâu từ năm thứ 2 trở ñi. Hàng năm có  
kế hoạch bón phân cho cây trồng vào ñầu và cuối mùa mưa.  
- Bón phân vô cơ cao su năm 2 với khối lượng như sau: phân  
ñạm (N) 55kg/ha; phân lân (P2O5) 54kg/ha; phân Kali (K2O) 18kg/ha.  
Số lần bón chia làm 2-3 ñợt trong năm. Năm thứ 2 trở ñi, bón vào  
ñầu và cuối mùa mưa. Phun bổ sung phân bón lá cao su từ năm thứ  
nhất ñến năm thứ hai, phun với liều lượng là 4lít/ha phân Komix-Rb;  
các lần phun cách nhau 10 ngày.  
Ở các khu vực nghiên cứu qua các ñợt thu mẫu hàm lượng  
Nts giảm từ tầng ñất 1 ñến tầng ñất 3.  
21  
22  
- Phân hữu cơ ñược dùng ñể cải tạo lý tính ñất, tăng lượng  
mùn và cung cấp 1 phần dinh dưỡng cho cây. Định mức phân hữu cơ  
bón thúc cho mỗi ha cao su trong thời gian 1 năm khoảng 10 tấn [3].  
+ Quy trình trồng mới và chăm sóc cây keo lá tràm:  
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa giun ñất và chất lượng  
ñất trồng chè tại huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên Đặng Văn Minh ñã  
kết luận rằng: sự thay ñổi về số lượng giun ñất trong quá trình canh  
tác có liên quan nhiều tới hàm lượng C hữu cơ, ñây là mối tương  
quan thuận tức là số lượng giun ñất giảm ñồng thời với hàm lượng C  
hữu cơ trong ñất [13].  
Thường người ta gieo hạt và tạo cây con trước thời vụ trồng  
khoảng 2,5 – 3 tháng. Thành phần hỗn hợp trong bầu: nơi ñất bạc  
màu nghèo dinh dưỡng có thể tạo hỗn hợp gồm 80% ñất tầng mặt +  
20% phân chuồng hoai. Nơi ñất có hàm lượng mùn cao có thể dùng  
90% ñất tầng mặt + 8 - 9% phân chuồng hoai + 1 – 2% Supe lân [4].  
Phân bón lót chủ yếu là vô cơ và phân vi sinh. Sau ñó phải  
trồng ngay ñể tránh việc phân bị rửa trôi. Thường bón phân khoảng  
100 – 150 g NPK/hố.  
Qua nghiên cứu cho thấy các chỉ số ña dạng và sinh khối của  
giun ñất có khả năng phản ánh chất lượng dinh dưỡng mà cụ thể là  
hàm lượng mùn của ñất trong khu vực nghiên cứu.  
3.4.2. Hàm lượng Nitơ tổng số (Nts) với sinh khối và các chỉ số ña  
dạng loài (H, DMg, J)  
Mối tương quan giữa tính chất môi trường ñất và sinh  
khối của giun ñất cũng ñược nhiều tác giả nghiên cứu. Theo M.  
Iordache, I. Borza tại Đại học Khoa học Nông nghiệp Banat,  
Rumani cho thấy giữa N vô cơ và số lượng giun ñất có sự tương  
quan mạnh (r= 0,9825), Nts trong ñất có sự tương quan thuận với  
sự ña dạng của giun ñất (hệ số tương quan r = 0,639) và tương  
quan thuận với sinh khối giun ñất (hệ số tương quan r = 0,726)  
[20].  
Trồng rừng: Trước khi ñặt cây vào hố phải ñập tơi ñất trong  
hố, ñảo ñều phân bón lót và lấp ñất thêm cho ñầy hố.  
Bón phân: Bón lót bằng phân vi sinh kết hợp với lấp hố,  
lượng bón 100g/hố; Bón thúc thực hiện 2 lần kết hợp với lần chăm  
sóc ñầu tiên của năm; lượng bón 50g NPK + 50g phân vi sinh/gốc.  
3.4. Tương quan giữa một số tính chất lý hoá của ñất với thành  
phần, phân bố và sự ña dạng giun ñất tại khu vực nghiên cứu  
3.4.1. Hàm lượng mùn (OM) với sinh khối giun ñất và các chỉ số  
ña dạng loài (H, DMg, J)  
Hàm lượng Nts trong ñất tương quan thuận với sinh khối  
giun ñất, chỉ số DMg, ở mức “tương quan chặt” với hệ số tương  
quan lần lượt r = 0,72 (pvalue = 0,005); r = 0,86 (pvalue = 0,0001).  
Đồng thời, tương quan thuận với chỉ số J, H ở mức “tương ñối chặt”  
Hàm lượng mùn trong ñất tương quan thuận với sinh khối  
giun ñất, chỉ số DMg, H ở mức “tương quan chặt” với hệ số tương  
quan lần lượt là r = 0,7 (pvalue = 0,043); r = 0,72 (pvalue = 0,0001) và r  
=0,746 (pvalue = 0,0001); tương quan thuận với chỉ số J ở mức “tương  
quan tương ñối chặt” với hệ số tương quan r = 0,68(pvalue = 0,045).  
Sự ña dạng loài giun ñất tăng theo hàm lượng mùn có trong môi  
trường chúng sinh sống.  
với hệ số tương quan r = 0,6647 (pvalue = 0,063), r = 0,669(pvalue  
=
0,0315). Qua ñó cho thấy, hàm lượng Nts trong môi trường ñất tăng  
thì sinh khối, sự ña dạng loài giun ñất trong khu vực ñó cũng tăng  
theo.  
23  
24  
J. C. Buckerfield và cs. tại Australia nghiên cứu ñiều tra ở  
một cuộc ñiều tra của 95 mảnh ñất gieo lúa mì, lúa mạch hoặc ñậu Hà  
Lan, trong diện tích khoảng 3500km2 cho thấy có sự tương quan  
thuận giữa việc phân bón nitơ với số lượng giun ñất (r = 0,48) và sinh  
khối (r = 0,43) làm tăng lượng chất hữu cơ trong ñất ñược [17].  
Qua kết quả thống kê các chỉ số ña dạng và sinh khối giun  
ñất có khả năng phản ánh chất lượng Nts của khu vực nghiên cứu. Số  
lượng loài, sinh khối trung bình của giun ñất tại hầu hết các khu vực  
nghiên cứu ñều giảm theo chiều sâu của các tầng ñất tương ứng với  
sự giảm của hàm lượng Nts.  
Qua nghiên cứu ñã chỉ ra rằng các chỉ số DMg, H, J, sinh khối  
của giun ñất có thể phản ánh ñược mối tương quan thuận tương ứng  
với 4 yếu tố pH, hàm lượng %OM, Nts và Pts trong môi trường nơi  
chúng sinh sống.  
3.4.3. Hàm lượng Photpho tổng số (Pts) với sinh khối và chỉ số ña  
dạng loài (H, DMg, J)  
Kết quả phân tích:  
Hàm lượng Pts trong ñất tương quan thuận với sinh khối giun  
ñất, chỉ số sinh khối, J, H ở mức “tương ñối chặt” với hệ số tương  
quan lần lượt là r = 0,687(pvalue = 0,033), r = 0,667(pvalue = 0,014) và r  
= 0,63(pvalue = 0,01); tương quan thuận với chỉ số DMg, ở mức “tương  
quan chặt” với hệ số tương quan r = 0,73 (pvalue = 0,0001). Qua ñó  
cho thấy, sinh khối, sự ña dạng loài giun ñất tăng theo hàm lượng Pts có  
trong môi trường chúng sinh sống.  
Sự biến ñộng của hàm lượng Pts có tỷ lệ thuận với sự biến  
ñộng về số lượng loài, mật ñộ và sinh khối của giun ñất, theo nghiên  
cứu của Huỳnh Thị Kim Hối và cs, (2005) về ảnh hưởng của một số  
tính chất lý hóa của ñất ñến thành phần và phân bố của giun ñất tại  
vườn Quốc gia Tam Đảo cho kết quả như trên [10].  
Như vậy kết quả nghiên cứu ñã phản ánh các chỉ số ña dạng  
và sinh khối giun ñất có mối tương quan với hàm lượng Pts trong khu  
vực nghiên cứu.  
25  
26  
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
sinh khối giun ñất và các chỉ số ña dạng có khả năng phản ánh hàm  
lượng mùn, Nts và Pts trong môi trường ñất nơi mà chúng sinh sống.  
d. Phương thức canh tác ở ñất trồng cao su 11 năm, cao su 2  
năm, keo lá tràm 2 năm, keo lá tràm 6 năm ñều có tác ñộng ñến thành  
phần, mật ñộ, sự phân bố và sự ña dạng loài của giun ñất.  
2. KIẾN NGHỊ  
1. KẾT LUẬN  
a. Đã phát hiện ñược 13 loài giun ñất thuộc 4 giống, 4 họ ở  
các ñịa ñiểm của khu vực nghiên cứu. Chỉ số cân bằng, số lượng loài,  
mật ñộ và sinh khối trung bình của giun ñất có sự biến ñộng rõ rệt ở các  
ñợt, cụ thể ñợt 2 cao hơn so với ñợt 1 và ñợt 3. Mật ñộ giun ñất trung  
bình tại ñất trồng cao su 11 năm và keo lá tràm 6 năm là cao hơn và ổn  
ñịnh hơn so với keo lá tràm 2 năm và cao su 2 năm. Các chỉ số DMg, H,  
J, sinh khối ở ñất trồng cao su 11 cao hơn so với ñất trồng cao su 2 năm  
và ngược lại ñất trồng keo 2 năm cao hơn so với ñất trồng keo 6 năm.  
Tại các ñịa ñiểm nghiên cứu các chỉ số này ñều giảm từ tầng 1 ñến 3.  
b. Đất ở 4 khu vực nghiên cứu qua các ñợt thu mẫu có pH  
ñược xếp vào mức không chua thích hợp cho sự tồn tại của giun ñất.  
Hàm lượng mùn, Pts và Nts tại tất cả các ñịa ñiểm nghiên cứu có sự  
biến ñộng rõ rệt giữa các ñợt thu mẫu, ñợt 2 là cao nhất, tiếp ñến là  
ñợt 3 và thấp nhất là ñợt 1. Hàm lượng %OM, Nts, Pts tại ñất trồng  
cao su 11 năm cao hơn so với cao su 2 năm nhưng ñất trồng keo lá  
tràm 6 năm thấp hơn so với keo lá tràm 2 năm. Đồng thời hàm lượng  
mùn, Pts và Nts tại tất cả các ñịa ñiểm nghiên cứu cũng giảm dần từ  
tầng 1 ñến tầng 3.  
a. Đây là một trong những nghiên cứu góp phần vào hệ thống  
nghiên cứu sử dụng giun ñất như chỉ thị sinh học môi trường ñất. Đề  
tài mới chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu mối tương quan giữa một số  
tính chất lý, hóa của ñất với sự ña dạng giun ñất. Do ñó, cần nghiên  
cứu mức ñộ bón phân của từng vùng nghiên cứu ñể thiết lập mối  
tương quan giữa hoạt ñộng sản xuất của con người ñến sự phong phú,  
ña dạng về thành phần loài, số lượng và sinh khối giun ñất.  
b. Đề tài mới chỉ tiến hành nghiên cứu ở một số khu vực  
trồng cây công nghiệp của huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam. Do ñó,  
cần có những nghiên cứu ñánh giá ở quy mô lớn hơn, ở nhiều khu  
vực khác nhau ñể có thể sử dụng giun ñất làm chỉ thị sinh học ñể  
ñánh giá chất lượng môi trường ñất và phương thức canh tác của con  
người.  
c. Sinh khối và ñộ ña dạng của giun ñất tương quan thuận với  
tính chất môi trường ñất (%OM, Nts, Pts) ở mức tương quan tương ñối  
cao. Sinh khối, chỉ số ña dạng của giun ñất cũng như các yếu tố: hàm  
lượng mùn, Nts, Pts trong ñất ở khu vực nghiên cứu tại các ñịa ñiểm  
nghiên cứu ở ñợt 2 cao hơn ñợt 3 và ñợt 1. Hàm lượng mùn, Nts, Pts,  
trong tất cả các ñịa ñiểm nghiên cứu ở tầng trên cao hơn tầng phía  
dưới tương ứng với sự giảm này só lượng loài, mật ñộ trung bình,  
sinh khối và các chỉ số ña dạng (DMg, H, J) cũng giảm theo. Như vậy,  
pdf 13 trang yennguyen 14420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu tương quan giữa thành phần và sự phân bố của giun đất với chất lượng đất ở một số vùng trồng cây công nghiệp tại xã Hiệp Hoà, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nghien_cuu_tuong_quan_giua_thanh_phan_va_su.pdf