Luận án Quản lý nhà nước về thu từ khai thác công trình đường bộ ở Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI  
HOÀNG NGỌC SƠN  
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THU  
TỪ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH ĐƢỜNG BỘ Ở VIỆT NAM  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ  
Hà Nội - 2021  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI  
HOÀNG NGỌC SƠN  
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THU  
TỪ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH ĐƢỜNG BỘ Ở VIỆT NAM  
Ngành: Quản lý Xây dựng  
Mã số: 9.58.03.02  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
1. TS NGUYỄN QUỲNH SANG  
2. PGS.TS VŨ TRỌNG TÍCH  
Hà Nội - 2021  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học này là của riêng tôi. Kết quả  
nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình  
nghiên cứu nào.  
Hà Nội, ngày ..........tháng.......năm 2021  
Tác giả  
Hoàng Ngọc Sơn  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với TS. Nguyễn Quỳnh Sang,  
PGS.TS. Vũ Trọng Tích - Những người đã tận tâm, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi  
hoàn thành luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Quản lý xây dựng, Bộ môn Kinh tế xây dựng  
và các Bộ môn khác thuộc Khoa Quản lý xây dựng - Trường Đại học Giao thông vận  
tải đã có những đóng góp và giúp đỡ cho tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện các nội  
dung của luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Phòng Đào tạo sau đại  
học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành các thủ tục theo đúng qui định.  
Tôi xin chân thành cảm ơn các Nhà khoa học, các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến  
sĩ... đến từ Đại học Giao thông vận tải, Đại học Xây dựng, Đại học Thủy lợi, Viện  
chiến lược và phát triển Giao thông vận tải, ... đã có những đóng góp, giúp đỡ tôi trong  
quá trình tôi thực hiện các nội dung của luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn những đóng góp và đánh giá của các chuyên gia đến  
từ các cơ quan quản lý nhà nước thuộc Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, các Sở  
Giao thông vận tải, Tổng Cục đường bộ Việt Nam, ... Các chuyên gia đến từ các Tổng  
Công ty, các Công ty đang hoạt động trong lĩnh vực đầu tư xây dựng và khai thác công  
trình giao thông nói chung và đường cao tốc nói riêng đã giúp tôi hoàn thành tốt nội  
dung của luận án.  
Tôi xin cảm ơn các anh chị, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ cho  
tôi về thời gian, số liệu các công trình thực tế để thực hiện tốt luận án.  
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình của tôi đã luôn luôn ủng hộ, giúp đỡ, chia sẻ  
và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2021  
Tác giả  
Hoàng Ngọc Sơn  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
v
vi  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
Chữ viết tắt  
BTĐB  
Nguyên nghĩa  
Tiếng Việt  
Bảo trì đường bộ  
ĐBVN  
ĐKVN  
ĐTXD  
DVC  
Đường bộ Việt Nam  
Đăng kiểm Việt Nam  
Đầu tư xây dựng  
Dịch vụ công  
GTĐB  
GTNT  
GTVT  
HĐND  
KCHT  
KTCTĐB  
KT-XH  
NSNN  
QL  
Giao thông đường bộ  
Giao thông nông thôn  
Giao thông vận tải  
Hội đồng nhân dân  
Kết cấu hạ tầng  
Khai thác công trình đường bộ  
Kinh tế-xã hội  
Ngân sách Nhà nước  
Quốc lộ  
QLNN  
UBND  
XDĐB  
Quản lý nhà nước  
Ủy ban nhân dân  
Xây dựng đường bộ  
Tiếng Anh  
BOT  
BT  
Build Operate Transfer - Xây dựng-Vận hành-Chuyển Giao  
Build Transfer -Xây dựng - Chuyển giao  
Foreign Direct Investment-Đầu tư trực tiếp nước ngoài  
Official Development Assistance-Hỗ trợ phát triển chính thức  
Public - Private Partner - Hợp tác công-tư  
Vietnam Expressway Corporation-Tổng Công ty Đầu tư Phát  
triển đường cao tốc Việt Nam  
Vietnam Infrastructure Development and Finance Investment  
Joint Stock Company- Tổng công ty Phát triển hạ tầng và Đầu  
tư tài chính Việt Nam  
FDI  
ODA  
PPP  
VEC  
VIDIFI  
vii  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU  
Bảng 3.10. ANOVA analyses of HBC a,b ......................................................................99  
Bảng 3.14. Phân tích phương sai của các chỉ tiêu KHa,b .............................................101  
Bảng 3.18. Phân tích phương sai của các chỉ tiêu TCa,b..............................................106  
Bảng 3.22. Phân tích phương sai các chỉ tiêu CDa,b ....................................................112  
 
ix  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
 
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Hệ thống công trình đường bộ có vị trí trọng yếu trong hệ thống giao thông  
vận tải (GTVT) quốc gia, đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế  
- xã hội, góp phần đảm bảo quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống nhân dân, vì vậy  
cần được ưu tiên đầu tư phát triển. Nhận thức được vai trò quan trọng trên, trong  
nhiều năm qua, Nhà nước đã đầu tư vào kết cấu hạ tầng (KCHT) giao thông đường  
bộ một phần không nhỏ ngân sách. Từ năm 2013, Quỹ bảo trì đường bộ (BTĐB)  
được hình thành và đi vào hoạt động, bắt đầu thu phí sử dụng đường bộ theo đầu  
phương tiện, thay thế cho hình thức thu phí qua các trạm thu phí nộp ngân sách Nhà  
nước (NSNN). Như vậy, bên cạnh NSNN cấp hàng năm, ngành đường bộ có thêm  
một kênh huy động vốn ổn định cho công tác bảo trì.  
Việc đầu tư cho xây dựng mới và bảo trì hạ tầng giao thông đường bộ đòi hỏi  
kinh phí rất lớn, khó thu hồi hoặc thu hồi vốn chậm. Trong bối cảnh nguồn lực  
NSNN hạn chế và nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) thu hẹp dần thì thu từ  
khai thác công trình đường bộ (KTCTĐB) là nguồn thu quan trọng, góp phần tái đầu  
tư cơ sở hạ tầng giao thông. Công tác quản lý nhà nước (QLNN) về thu từ KTCTĐB  
rất quan trọng. Chính từ những khoản thu này mà hàng năm NSNN cấp cho việc đầu  
tư phát triển công trình đường bộ cũng được tăng lên, cùng với đó chất lượng thực  
hiện bảo trì cũng tốt hơn. Trong nhiều năm trở lại đây Nhà nước đã có nhiều chính  
sách, quy định để tạo nguồn thu từ KTCTĐB, như: thu qua đầu phương tiện, thu qua  
giá bán nhiên liệu, thu trực tiếp các phương tiện và mới đây nhất Nhà nước đã có  
nhiều đổi mới phương thức khai thác tài sản hạ tầng đường bộ theo hướng thu hút  
khu vực tư nhân như: Bán quyền thu phí, cho thuê quyền khai thác, chuyển nhượng  
có thời hạn tài sản KCHT đường bộ và khai thác quỹ đất hai bên đường đã khuyến  
khích nhà đầu tư tư nhân quan tâm hơn tới lĩnh vực hạ tầng đường bộ, tạo nguồn  
vốn quay trở lại phục vụ bảo trì và đầu tư phát triển KCHT đường bộ, thúc đẩy phát  
triển KT-XH. Tuy nhiên, hiệu quả khai thác KCHT giao thông đường bộ (GTĐB)  
chưa tương xứng với quy mô tài sản hiện có; công tác chỉ đạo triển khai thực hiện  
của một số địa phương chưa thật sự sát sao, quá trình tổ chức thực hiện còn  
chậm dẫn đến việc khai thác nguồn lực tài chính từ KCHT GTĐB chưa thực sự  
hiệu quả; Hoạt động thu phí mới áp dụng đối với tuyến đường quốc lộ (QL) có  
lưu lượng phương tiện giao thông lớn; Chưa thu hút được nhiều nguồn vốn từ  
các thành phần kinh tế tư nhân. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trên thì có  
nhiều, trong đó phải kể đến là công tác QLNN về thu từ KTCTĐB, như: hệ thống  
pháp luật về thu từ KTCTĐB; bộ máy quản lý tài sản hạ tầng giao thông đường bộ từ  
 
2
Trung ương đến địa phương, nhất là ở cấp huyện, xã; tổ chức tốt công tác chỉ đạo,  
triển khai thực hiện ở Trung ương và địa phương; phân cấp thẩm quyền, trách nhiệm  
của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan; tuyên truyền, phổ biến, tập huấn pháp  
luật gắn với công tác tổng kết, sơ kết đánh giá tình hình về các nguồn thu từ  
KTCTĐB,..  
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về thu từ khai  
thác công trình đường bộ tại Việt Nam” làm chủ đề nghiên cứu của luận án tiến sĩ  
ngành Quản lý xây dựng.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án là trên cơ sở khoa học và thực tiễn đề  
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước về thu từ khai thác công  
trình đường bộ ở Việt Nam.  
Để thực hiện mục đích trên, luận án cần đạt được các mục tiêu cụ thể sau:  
Một là, hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn quản lý  
Nhà nước về thu từ khai thác công trình đường bộ trong điều kiện xuất hiện các  
khoản thu mới với công nghệ quản lý thay đổi và mạng lưới đường bộ ngày càng  
phát triển hiện đại.  
Hai là, phân tích, đánh giá một cách khách quan, có cơ sở khoa học thực trạng  
quản lý Nhà nước về thu từ khai thác công trình đường bộ trong giai đoạn gần đây,  
chỉ ra được những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong  
quản lý Nhà nước về thu từ khai thác công trình đường bộ ở Việt Nam  
Ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về thu từ KTCTĐB ở  
Việt Nam.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là QLNN về thu từ KTCTĐB.  
- Phạm vi nghiên cứu  
+ Phạm vi nội dung: Nghiên cứu về thu và QLNN về thu ở các cấp trung ương  
và địa phương trong việc KTCTĐB. Trong đó đi sâu nghiên cứu các vấn đề: Xây  
dựng và ban hành chế độ, chính sách thu; Tổ chức bộ máy thu; Quản lý quá trình thu;  
Thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình thu.  
+ Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu QLNN về thu từ KTCTĐB giai đoạn  
2008 đến 2019. Định hướng giải pháp đến năm 2030.  
+ Phạm vi không gian: Toàn bộ hệ thống công trình giao thông đường bộ ở  
Việt Nam.  
3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án  
Ý nghĩa khoa học: Thể hiện ở việc hệ thống hóa, làm rõ hơn cơ sở lý luận và  
cơ sở thực tiễn đối với quản lý Nhà nước về thu từ khai thác công trình đường bộ.  
Đánh giá một cách khoa học thực trạng và đề xuất kiến nghị hoàn thiện quản lý Nhà  
nước về thu từ khai thác công trình đường bộ ở Việt Nam.  
Ý nghĩa thực tiễn: Luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý Nhà  
nước về thu từ khai thác công trình đường bộ ở Việt Nam. Chỉ ra được những tồn tại,  
hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong quản lý Nhà nước về thu từ  
khai thác công trình đường bộ. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất một số giải pháp có  
tính khả thi, phù hợp với thực tế, giúp các cơ quan quản lý thu từ khai thác công trình  
đường bộ ở Việt Nam có thể vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tiễn nhằm nâng  
cao hiệu quả thu từ khai thác công trình đường bộ ở Việt Nam.  
5. Tên đề tài và kết cấu của luận án  
Tên đề tài luận án là: “Quản lý nhà nước về thu từ khai thác công trình  
đường bộ ở Việt Nam”  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội  
dung luận án gồm 4 chương:  
Chương 1: Tổng quan các công trình có liên quan đến đề tài luận án và  
phương pháp nghiên cứu  
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về thu từ khai thác  
công trình đường bộ  
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về thu từ khai thác công trình đường  
bộ ở Việt Nam  
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về thu từ khai thác công  
trình đường bộ ở Việt Nam  
.
4
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ  
TÀI LUẬN ÁN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án  
1.1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước  
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu về thu từ khai thác công trình đường bộ  
Luận án tiến sĩ “ Các giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển cơ  
sở hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam” của tác giả Phạm Văn Liên tại Học viện  
Tài chính (năm 2005) [37], đã đưa ra các giải pháp huy động vốn chủ yếu tập trung  
theo hướng đảm bảo bền vững, khai thác tổng hợp các nguồn vốn, giảm dần bao cấp  
của Nhà nước đó là: hoàn thiện chế độ thu phí cầu đường bộ, phát hành trái phiếu  
chính phủ huy động vốn đầu tư, thành lập một quỹ chuyên dùng đầu tư cho đường  
bộ, chuyển nhượng quyền khai thác cầu đường, hoàn thiện cơ chế quản lý vốn đầu tư,  
cải tiến mô hình tổ chức “ khép kín” của Cục đường bộ, điều chỉnh cơ cấu vốn đầu  
tư, tăng cường kiểm tra giám sát thanh toán vốn đầu tư, xử lý dứt điểm tình trạng nợ  
đọng vốn xây dựng cơ bản.  
Luận án chưa đưa ra được cách thức thực hiện, một số giải pháp không còn  
phù hợp với thực tế hiện nay. Bên cạnh việc thu phí, nhượng quyền bảo trì và thu phí  
thì cho thuê quyền khai khác, tiền thu từ giá dịch vụ sử dụng tài sản KCHT GTĐB  
cũng là một trong các khoản thu từ KTCTĐB cũng chưa được đề cập đến.  
Luận án tiến sĩ: “ Nghiên cứu các nguồn thu từ người sử dụng đường bộ ở Việt  
Nam” của Lê Văn Dũng tại trường Đại học Giao thông vận tải (năm 2011) [29] đã  
khái quát một số vấn đề về khu vực công, bao gồm: khái niệm về khu vực công; hoạt  
động kinh tế khu vực công; sự cần thiết phải can thiệp vào khu vực công của Chính  
phủ; Nghiên cứu cơ sở lý luận về các nguồn thu từ người sử dụng đường bộ (nguyên  
tắc xác định mức thu, cơ cấu chi phí xã hội biên; các nguồn thu trực tiếp, gián tiếp;  
các nguồn thu ngoại ứng và thu khác); Nghiên cứu các nguồn thu thực tế từ người sử  
dụng đường bộ ở Việt Nam, xác định nguồn thu trực tiếp, gián tiếp, ngoại ứng và thu  
khác. Đề xuất 3 nguồn thu mới là phí tải trọng trục, nguồn thu từ những cơ quan sử  
dụng cơ sở hạ tầng đường bộ và nguồn thu từ những người gián tiếp sử dụng đường.  
Các nguồn thu trên đều góp phần bổ sung, cung cấp vốn cho xây dựng và bảo  
trì mạng lưới đường bộ. Tuy nhiên, trong luận án chưa đưa ra được cách tổ chức  
thực hiện QLNN về các nguồn thu này, bao gồm: Lập kế hoạch, Tổ chức thực hiện kế  
hoạch, Chỉ đạo thực hiện kế hoạch, Giám sát thực hiện kế hoạch.  
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài “QLNN về thu và sử dụng phí đường bộ ở Việt  
Nam” của tác giả Phan Huy Lệ tại trường Đại học Kinh tế Quốc Dân (năm 2010)  
     
5
[38]. Luận án đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản của QLNN về thu  
và sử dụng phí đường bộ; làm rõ khái niệm về đường bộ và QLNN về thu và sử dụng  
phí đường bộ và đề xuất các nguyên tắc cơ bản mà Nhà nước cần sử dụng trong quá  
trình QLNN nhằm cung ứng tốt nhất về dịch vụ đường bộ cho người dân. Luận án áp  
dụng phương pháp đánh giá khoa học nhằm đánh giá, phân tích thực trạng QLNN về  
thu và sử dụng phí đường bộ tại Việt Nam giai đoạn từ 2006 đến 2010. Đề xuất một  
số giải pháp và kiến nghị, các điều kiện để thực hiện nó với các cơ quan QLNN nhằm  
hoàn thiện QLNN về thu và sử dụng phí đường bộ ở Việt Nam theo hướng QLNN  
đối với dịch vụ công.  
Nghiên cứu chỉ mới đề cập đến việc QLNN về thu và sử dụng phí đường bộ.  
Hiện nay, xã hội hóa việc quản lý khai thác KCHT GTĐB là chủ trương đang và sẽ  
được áp dụng phổ biến. Bên cạnh phát sinh các khoản thu mới từ KTCTĐB, cần tiếp  
tục nghiên cứu cơ chế, chính sách trong việc QLNN về các khoản thu mới này cho  
phù hợp với điều kiện phát triển KT-XH hiện nay.  
Nghiên cứu của Vũ Anh Tuấn [53] đăng trên tạp chí của Viện nghiên cứu chính  
sách giao thông Nhật Bản (năm 2012) về "Thu phí lưu hành phương tiện như thế nào  
cho đúng bản chất và hiệu quả". Nghiên cứu này dựa trên nguyên tắc 2 loại chi phí  
trong giao thông i) nhóm chi phí nội sinh gồm các chi phí cố định dùng để xây dựng,  
mở mang hệ số giấy phép Phí xả thải Z* Sz Dz 0 P* 17 tầng và các chi phí biến thiên  
dùng cho vận hành khai thác và duy tu bảo dưỡng hạ tầng dịch vụ. Những chi phí này  
sẽ do người sử dụng chi trả một phần lớn, phần còn lại do nhà nước bỏ ra vì hạ tầng  
giao thông còn đem lại các lợi ích xã hội cơ bản khác; ii) nhóm chi phí ngoại sinh do  
những hậu quả của hoạt động khai thác hạ tầng/dịch vụ giao thông gây ra như là tắc  
đường, tai nạn, ô nhiễm môi trường, tiếng ồn. Nghiên cứu này cho rằng lệ phí trước  
bạ và phí sử dụng phương tiện giao thông sẽ là các công cụ chính sách điều tiết các  
phí nội sinh cố định. Nghiên cứu đề xuất sử dụng các loại phí phương tiện, trong đó  
có phí lưu hành hàng năm, phí đi vào trung tâm, phí xăng dầu, phí bến bãi … và coi  
đó là những chính sách lâu dài. Việc thu phí sẽ tạo ra một khoản thu lớn, ổn định cho  
phát triển giao thông tương lai, góp phần giải quyết các vấn nạn giao thông. Nghiên  
cứu đề xuất Nhà nước ta không nên cắt giảm khoản ngân sách (từ thuế nói chung)  
phân bổ cho ngành giao thông khi có các khoản thu bổ sung từ phí. Đồng thời phải có  
chiến lược sử dụng nguồn thu bổ sung hợp lý, hiệu quả nhằm giải quyết tình trạng tắc  
nghẽn giao thông.  
Nghiên cứu này chưa đánh giá mặt tiêu cực và tác động của chúng đến xã hội  
khi sử dụng các loại phí lưu hành hàng năm, phí đi vào trung tâm đối với phương  
tiện giao thông, tính khả thi của việc thiết lập bộ máy tổ chức thu phí. Việc QLNN về  
6
khoản thu này cần phải được nghiên cứu một cách đầy đủ.  
Đề tài nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện công tác quản lý khai thác cầu” của  
Đặng Thị Xuân Mai tại Trường Đại học Giao thông vận tải (năm 2012) [39]. Đề tài  
đã khái quát hóa về bản chất kỹ thuật và bản chất kinh tế của công tác quản lý khai  
thác công trình cầu đường. Phân tích thực trạng công tác quản lý khai thác cầu về  
phương diện quản lý vĩ mô của Nhà nước trong việc khảo sát các văn bản về lĩnh vực  
này. Đề tài đã đi sâu vào một số nội dung như sau: công tác quản lý thu phí, công tác  
bảo trì, tình hình đảm bào hành lang an toàn công trình cầu đường. Đề tài đề xuất các  
giải pháp sau: thiết lập cơ cấu, thể chế quản lý đối với công trình cầu; các giải pháp  
về thu phí, duy tu sửa chữa, phát triển kinh doanh tổng hợp cầu.  
Nghiên cứu có đề cập đến việc thu phí cầu và phát triển kinh doanh tổng hợp  
cầu nói chung, bên cạnh đó các khoản thu như: Cho thuê quyền khai thác, chuyển  
nhượng có thời hạn tài sản KCHT GTĐB và khai thác quỹ đất hai bên đường.. còn  
chưa đề cập đến. Việc QLNN về các khoản thu này cần được tiếp tục nghiên cứu.  
Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu phương pháp phân tích hoạt động khai  
thác công trình cầu đường” của Đặng Thị Xuân Mai tại Trường đại học Giao thông  
vận tải (năm 2009) [40]. Đề tài đã khái quát hóa nội dung công tác quản lý khai thác  
công trình giao thông theo 6 tiêu chí: Quản lý thu phí cầu đường; Quản lý hành chính  
công cầu đường; Quản lý giao thông; Quản lý duy tu, bảo dưỡng; Quản lý thông tin,  
giám sát, khống chế; Quản lý phát triển kinh doanh tổng hợp mạng lưới cầu đường.  
Trên cơ sở nội dung quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với công trình cầu đường đã chỉ  
ra các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp quản lý khai thác công trình cầu  
đường. Đó là hoạt động thu phí, hoạt động quản lý bảo trì công trình, hoạt động xây  
dựng và đã nêu lên nội dung, phương pháp phân tích các hoạt động đó. Ngoài ra, tác  
giả còn đề cập đến một số nội dung phân tích khác có liên quan đến vấn đề quản lý  
khai thác công trình cầu đường như: phân tích về cơ cấu, thể chế quản lý vận doanh,  
thu phí công trình cầu đường; phân tích mức độ phục vụ của công trình; phân tích  
chiến lược bảo trì, nâng cấp mạng lưới giao thông. [26], [27]  
Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu giải pháp huy động và sử dụng vốn cho bảo trì  
đường bộ” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Dung tại Trường đại học Giao thông vận tải  
(năm 2018) [25] đã xây dựng trình tự, tiêu chí đánh giá việc huy động vốn và phương  
pháp xác định nhu cầu vốn bảo trì đường bộ; xác định, đánh giá nhóm nhân tố ảnh  
hưởng đến huy động vốn và nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng hiệu quả vốn bảo  
trì đường bộ. Luận án đã đề xuất 2 nhóm giải pháp về huy động và sử dụng vốn cho  
bảo trì đường bộ:  
- Nhóm giải pháp về huy động cho bảo trì đường bộ gồm: Hoàn thiện công tác  
7
lập kế hoạch bảo trì đường bộ; hoàn thiện các chính sách, pháp luật liên quan đến huy  
động vốn cho bảo trì đường bộ (từ khai thác hạ tầng đường bộ và vay vốn ODA);  
tăng cường tuyên truyền giáo dục pháp luật, thông tin về hoạt động của Quỹ bảo trì  
đường bộ và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư theo hình thức BOT.  
- Nhóm giải pháp sử dụng vốn cho bảo trì đường bộ gồm: Hoàn thiện cơ chế  
quản lý sử dụng Quỹ bảo trì đường bộ (bổ sung bốn tiêu chí cho các căn cứ phân bổ  
dự toán chi Quỹ bảo trì đường bộ địa phương); tăng cường áp dụng tiến bộ công nghệ  
trong công tác bảo trì đường bộ; nâng cao năng lực quản lý Nhà nước đối với công  
tác bảo trì đường bộ; điều chỉnh hợp lý cơ cấu vốn đầu tư cho bảo trì đường bộ.  
Công trình nghiên cứu trên có đề cập trực tiếp đến lĩnh vực BTĐB nhưng chỉ đề  
cập đến khía cạnh là huy động và sử dụng vốn cho BTĐB ở Việt Nam (từ khai thác  
hạ tầng đường bộ và vay vốn ODA). Tuy nhiên đây chỉ là một dung của QLNN về thu  
từ KTCTĐB, các nội dung về QLNN về thu và các khoản thu khác từ KTCTĐB chưa  
được nghiên cứu và đề cập đến.  
Tác giả Phạm Thị Tuyết với bài báo “Quản lý, khai thác tài sản kết cấu hạ  
tầng đường bộ: Kết quả và nhiệm vụ đặt ra” đăng trên tạp chí Tài chính (tháng  
4/2019) [55] đã chỉ ra những đổi mới, những hạn chế về cơ chế quản lý, khai thác  
nguồn lực từ KCHT GTĐB. Trên cơ sở đó tác giả đưa những nhiệm vụ cần thực hiện  
trong thời gian tới như hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng và khai thác  
tài sản KCHT GTĐB; đẩy mạnh thu hút các thành phần kinh tế tham gia phát triển  
KCHT GTĐB, huy động tối đa mọi nguồn lực thông qua các phương thức khai thác  
như: Bán quyền thu phí, cho thuê quyền khai thác đặc biệt là hình thức chuyển  
nhượng có thời hạn tài sản KCHT GTĐB và khai thác quỹ đất hai bên đường; có kế  
hoạch phân bổ nguồn vốn hợp lý cho công tác bảo trì, dần đáp ứng được nhu cầu  
thực tế.  
Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu hoàn thiện quản lý đầu tư xây dựng và khai thác  
đường cao tốc ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Phương Châm tại Trường đại học  
Giao thông vận tải (năm 2018) [24] từ góc độ của chủ đầu tư, Luận án đã xây dựng  
mô hình kinh tế lượng thể hiện ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của người  
sử dụng đường cao tốc làm cơ sở để đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý khai  
thác đường cao tốc có hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam bao  
gồm: Thành lập các Công ty chuyên đầu tư xây dựng và khai thác đường cao tốc; Áp  
dụng phương pháp đánh giá tổng hợp trong xét thầu; Triển khai ứng dụng giải pháp  
4E’s trong quản lý khai thác đường cao tốc; Hoàn thiện quản lý kinh doanh các khu  
dịch vụ trên đường cao tốc; Hoàn thiện công tác chuyển nhượng quyền khai thác  
đường cao tốc: Phương pháp định giá chuyển nhượng, hợp đồng chuyển nhượng.  
8
Luận án nghiên cứu về quản lý khai thác đường cao tốc, cụ thể: đối tượng  
nghiên cứu chỉ là đường cao tốc có thu phí trên phạm vi cả nước; nguồn thu nghiên  
cứu là hai nguồn chính, bao gồm: kinh doanh doanh dịch vụ trên đường cao tốc và  
chuyển nhượng quyền khai thác đường cao tốc. Việc nghiên cứu các nguồn thu khác  
ngoài hai nguồn thu nêu trên và QLNN về thu từ KTCTĐB còn chưa được đề cập đến.  
Tác giả Nguyễn Phương Vân trong bài “Chuyển nhượng quyền khai thác các  
công trình hạ tầng giao thông trong điều kiện hiện nay của Việt Nam” [44] đăng trên  
tạp chí GTVT (tháng 11/2016) chỉ ra việc chuyển nhượng quyền khai thác là một vấn  
đề không hoàn toàn mới mẻ; tầm quan trọng của chuyển nhượng quyền khai thác các  
công trình hạ tầng kỹ thuật và đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác  
này trong điều kiện hiện nay của Việt Nam. Tác giả đưa ra các nguyên tắc khi định  
giá chuyển nhượng quyền khai thác và đề xuất xây dựng khung pháp lý và lộ trình  
chuyển nhượng cụ thể.  
Đề án “Huy động nguồn vốn và phát huy hiệu quả sử dụng trong công tác bảo  
trì đường bộ” của Tạ Quang Huy tại Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (năm  
2017) [33]. Xuất phát từ nhu cầu bổ sung thêm nguồn thu cho Quỹ BTĐB, tác giả đã  
xây dựng đề án với mục tiêu tạo nguồn thu hợp pháp cho Quỹ BTĐB để đảm bảo có  
một nguồn vốn đầy đủ, ổn định và bền vững dành cho công tác BTĐB. Nghiên cứu  
đã đề xuất phương án khai thác nguồn lực từ tổ chức, cá nhân sử dụng kết cấu hạ tầng  
đường bộ dưới hình thức cho thuê kết cấu hạ tầng đường bộ nhằm tăng nguồn thu  
cho Quỹ BTĐB. Kiến nghị mức thu, bổ sung danh mục nguồn thu của Quỹ.  
Luận án tiến sĩ “ Giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển giao thông đường bộ  
Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Tuyết tại Trường đại học Giao thông vận tải (năm  
2018) [54], nghiên cứu đưa ra 6 nguyên tắc đề xuất giải pháp thu hút vốn đầu tư phát  
triển GTĐB , trên cơ sở đó đề xuất 9 giải pháp có tính cấp thiết và khả thi thu hút vốn  
đầu tư cho phát triển GTĐB Việt Nam, trong 9 giải pháp trên, giải pháp khai thác  
nguồn lực tài chính từ kết cấu hạ tầng các dự án đường bộ hoàn thành để đầu tư các  
dự án mới, cụ thể: Bán quyền thu phí sử dụng đường bộ, Cho thuê quyền khai thác tài  
sản KCHT đường bộ, chuyển nhượng có thời hạn KCHT giao thông, Khai thác quỹ  
đất hai bên đường, Khai thác các dịch vụ dọc tuyến đường bộ.  
Các nguồn thu trên đều góp phần bổ sung, cung cấp vốn cho xây dựng và bảo  
trì mạng lưới đường bộ. Tuy nhiên, trong luận án chưa đưa ra được cách tổ chức  
thực hiện QLNN về các nguồn thu này.  
Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu công tác quản lý khai thác và bảo trì kết cấu hạ  
tầng giao thông đường bộ trên địa thành phố Hà Nội” của tác giả Trần Trung Kiên  
9
tại Trường đại học Giao thông vận tải (năm 2019) [34], đã nghiên cứu làm rõ các  
nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý khai thác và bảo trì kết cấu hạ tầng giao  
thông đường bộ tại các thành phố lớn. Trên cơ sở đó, chỉ ra những thành công, những  
hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế. Luận án đề xuất 06 nhóm giải pháp  
nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý khai thác và bảo trì  
kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong đó có đề  
xuất cho thuê quyền sử dụng KCHT GTĐB và thu phí phương tiện cơ giới vào nội đô.  
Luận án có cung cấp những thông tin cần thiết về tăng cường huy động vốn  
cho quản lý khai thác và bảo trì KCHT GTĐB nhưng chưa đề cập đến nội dung  
QLNN về thu từ KTCTĐB nên cần tiếp tục nghiên cứu về QLNN về thu từ KTCTĐB.  
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về thu từ khai thác công trình  
đường bộ  
(1)Về xây dựng và ban hành chế độ, chính sách về thu từ khai thác công trình đường bộ  
Đề án "Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai và tài sản nhà nước phục vụ  
phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2013 - 2020" của Thủ tướng Chính phủ (2013)  
[20]. Việc thực hiện đề án nhằm điều tiết một cách hợp lý giá trị tăng thêm từ đất  
không do đầu tư của người sử dụng đất đem lại. Trước mắt hoàn thiện cơ chế, quy  
định của pháp luật và triển khai thực hiện triệt để phương thức khai thác quỹ đất hai  
bên đường khi đầu tư xây dựng KCHT GTĐB theo quy định của pháp luật đất đai và  
pháp luật khác có liên quan. Dự báo số thu từ khai thác quỹ đất hai bên đường bình  
quân đến năm 2020 khoảng 10.000 tỷ/năm.  
Đề án xã hội hóa lĩnh vực đường bộ của Bộ GTVT được thực hiện vào năm  
2015 [5]. Việc thực hiện đề án nhằm huy động tối đa các nguồn lực của xã hội phát  
triển lĩnh vực đường bộ. Trọng tâm của việc xã hội hóa là xây dựng và hoàn thiện  
quy hoạch KCHT GTĐB, hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách thúc đẩy xã  
hội hóa linh vực đường bộ. Giảm tỷ trọng vốn của Nhà nước tham gia quản lý khai  
thác và bảo trì KCHT GTĐB, tiến tới sau năm 2020 đáp ứng đủ kinh phí để thực hiện  
quản lý bảo trì công trình. Về huy động vốn ngoài ngân sách cho đầu tư KCHT  
GTĐB: Giai đoạn 2016 ÷2020 đạt khoảng 27,56 % tổng nhu cầu vốn đầu tư KCHT  
GTĐB; Giai đoạn 2020÷2030 phấn đấu đạt khoảng 50% tổng nhu cầu vốn đầu tư  
KCHT GTĐB.  
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ GTVT của Dương Văn Chung tại Viện  
Chiến lược và phát triển GTVT (năm 2018) [23] “Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề  
xuất giải pháp huy động các nguồn lực đột phá phát triển KCHT giao thông” đã đưa  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 214 trang yennguyen 17560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Quản lý nhà nước về thu từ khai thác công trình đường bộ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_quan_ly_nha_nuoc_ve_thu_tu_khai_thac_cong_trinh_duon.pdf