Luận văn Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Cà Mau

VIỆN HÀN LÂM  
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
NGÔ ĐỨC BÍNH  
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ  
TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU  
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH  
HÀ NỘI, năm 2018  
VIỆN HÀN LÂM  
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
NGÔ ĐỨC BÍNH  
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ  
TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU  
Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính  
Mã số: 8380102  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM QUANG HUY  
HÀ NỘI, năm 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan những nội dung nghiên cứu trình bày trong luận văn thạc sĩ  
chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật hành chính với đề tài “Tổ chức và hoạt động  
trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Cà Mau” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,  
dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Quang Huy. Các số liệu, kết quả nêu trong luận  
văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố  
trong bất cứ công trình nào.  
Hà Nội, ngày 30 tháng 7 năm 2018  
TÁC GIẢ LUẬN VĂN  
Ngô Đức Bính  
LỜI CẢM ƠN  
Sau gần 02 năm học tập và nghiên cứu tại Học viện Khoa học xã hội thuộc  
Viện Hàn lâm Việt Nam, được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo đặc biệt là  
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của TS Phạm Quang Huy, sự giúp đỡ của các bạn,  
đến nay tôi đã hoàn thành Luận văn thạc sĩ Luật học, chuyên ngành Luật hiến pháp  
và Luật hành chính với đề tài “Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý từ thực tiễn  
tỉnh Cà Mau”.  
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, chu đáo của  
TS Phạm Quang Huy và các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, các thầy, cô giáo, các  
đồng chí lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp và Trung tâm Trợ giúp pháp lý  
nhà nước tỉnh Cà Mau,...trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này.  
TÁC GIẢ  
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1  
Chương 1: NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP  
PHÁP LÝ ...................................................................................................................8  
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của trợ giúp pháp lý ..........................................8  
1.2. Những vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ...................... 14  
1.3. Các yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ...................... 25  
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP  
LÝ TẠI TỈNH CÀ MAU........................................................................................ 29  
2.1. Các đặc điểm về vị trí địa lý, dân cư, văn hóa ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt  
động trợ giúp pháp lý ở tỉnh Cà Mau....................................................................... 29  
2.2. Thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ....................... 31  
2.3. Thực trạng về tổ chức trợ giúp pháp lý ở tỉnh Cà Mau..................................... 34  
2.4. Thực trạng về hoạt động trợ giúp pháp lý ở tỉnh Cà Mau................................. 38  
2.5. Đánh giá chung về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ............................... 47  
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT  
ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI TỈNH CÀ MAU.......................................... 55  
3.1. Các quan điểm hoàn thiện tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý.................... 55  
3.2. Những giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý................. 58  
KẾT LUẬN............................................................................................................. 69  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
CTVTGPL:  
Cộng tác viên trợ giúp pháp lý  
Hội đồng phối hợp liên ngành  
Trợ giúp pháp lý  
HĐPHLN:  
TGPL:  
TGVPL:  
UBND:  
XHCN:  
Trợ giúp viên pháp lý  
Ủy ban nhân dân  
Xã hội chủ nghĩa  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Trợ giúp pháp lý là một chức năng xã hội và là trách nhiệm của Nhà nước  
trong việc giúp đỡ các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương trong trường hợp họ  
không có đủ khả năng tài chính thuê luật sư khi phải đối diện với pháp luật để bảo  
đảm công lý, công bằng xã hội và góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công  
dân trong tiếp cận công lý, bình đẳng trước pháp luật. Theo Nghị quyết số 67/187  
của Đại hội đồng Liên hợp quốc xác định TGPL là việc tư vấn pháp luật, giúp đỡ và  
đại diện cho người bị giam giữ, người bị bắt hoặc bị phạt tù; người bị tình nghi, bị  
buộc tội hoặc phạm tội; nạn nhân, nhân chứng trong quá trình tư pháp, miễn phí cho  
người có điều kiện khó khăn. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm việc thực hiện  
TGPL cho các đối tượng theo quy định của pháp luật.  
Hiện nay trên thế giới có khoảng 150 nước áp dụng thực hiện chính sách  
TGPL cho các đối tượng “yếu thế” trong xã hội, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển và  
cũng là chính sách để nhà nước thực hiện nghĩa vụ đối với công dân. Vì người dân  
là chủ thể thực hiện pháp luật, ngược lại pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp  
của nhân dân. Nếu không làm được điều này, tất yếu sự hoài nghi của công dân đối  
với pháp luật sẽ nảy sinh và đó sẽ là nguy cơ lớn đối với khả năng thực thi pháp luật  
của Nhà nước. Theo kinh nghiệm nghiên cứu ở Đức có quan niệm "TGPL là giúp  
đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán  
cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước toà án". Điều 5,  
Luật TGPL năm 1997 của bang Queensland (Úc) quy định "TGPL có nghĩa là cung  
cấp dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc có thu phí nhưng với mức thấp hơn so với giá trị  
thực tế của dịch vụ", ở Anh và xứ Wales thì TGPL là “Giúp đỡ pháp lý cho những  
người không có khả năng chi trả cho việc tư vấn, hỗ trợ và đại diện pháp lý”. Đạo  
luật TGPL năm 1995 của Singapore định nghĩa "TGPL là việc giúp đỡ những người  
không có khả năng chi trả cho dịch vụ pháp lý" [60, tr.1]  
1
Ở nước ta, vào ngày 06/9/1997 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định  
số 734/TTg về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính  
sách. Năm 2006, Quốc hội khóa 11 thông qua Luật Trợ giúp pháp lý số  
69/2006/QH11 và được thay thế bởi Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 (được  
thông qua tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa 14) đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hình  
thành và phát triển hoàn chỉnh hệ tổ chức và hoạt động TGPL tại Việt Nam. Đây là  
cơ sở pháp lý thể hiện tính nhân văn của Nhà nước ta về các vấn đề công lý bảo vệ  
quyền được TGPL của người có công với cách mạng, người nghèo và các đối tượng  
người dân chịu thiệt thòi Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm để họ có quyền  
bình đẳng tiếp cận dịch vụ TGPL có chất lượng. Trên cơ sở đó UBND tỉnh Cà Mau  
đã ban hành quyết định số 13/1998/QĐ-UB ngày 25/3/1998 về việc thành lập Trung  
tâm TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách. Đến khi Luật TGPL năm 2006  
được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, Chủ tịch UBND tỉnh đã  
có quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 04/5/2007 về việc đổi tên Trung tâm TGPL  
của Nhà nước thành Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Cà Mau và ngày 09/4/2008  
Chủ tịch UBND tỉnh có quyết định số 572/QĐ-UBND về ban hành Quy chế tổ chức  
và hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Cà Mau. Tiếp đó, Chủ tịch UBND  
tỉnh có quyết định số 687/QĐ-UBND ngày 09/5/2013 ban hành Kế hoạch Tổng thể  
triển khai thực hiện chiến lược phát triển TGPL của tỉnh Cà Mau đến năm 2020  
định hướng đến năm 2030 và quyết định số 865/QĐ-UBND ngày 19/5/2016 về việc  
phê duyệt Đề án vị trí việc làm của Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Cà Mau trực  
thuộc Sở Tư pháp. Từ đó quy mô tổ chức ngày một hoàn thiện hơn và chất lượng vụ  
việc TGPL được nâng lên.  
Để đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công  
dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ,  
bảo đảm theo Hiến pháp năm 2013 và pháp luật, thì trước hết người dân phải hiểu  
biết pháp luật. Vì vậy Nhà nước không chỉ xây dựng pháp luật mà còn tổ chức  
tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến với người dân, trong đó các hoạt động TGPL  
2
là một trong những hình thức để đưa pháp luật đến được với nhân dân hiệu quả  
nhất.  
Thực hiện Nghị quyết của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội  
chủ nghĩa, hoạt động TGPL được hình thành và phát triển qua 20 năm đã đạt được  
những kết quả quan trọng: mạng lưới tổ chức TGPL ngày càng được củng cố, kiện  
toàn đến tận cơ sở, đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác TGPL của các Trung tâm  
TGPL từng bước được tăng cường về số lượng và năng lực chuyên môn. TGPL đã  
giúp đỡ pháp lý cho các đối tượng được TGPL theo quy định của pháp luật và qua  
đó đã giúp cho họ có thêm lòng tin đối với Đảng và Nhà nước. Hoạt động TGPL  
trong nhiều trường hợp đã đưa ra kiến nghị có căn cứ pháp lý để các cơ quan Nhà  
nước, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện xem xét giải  
quyết lại vụ việc đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời góp phần tích  
cực vào sự nghiệp cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước  
pháp quyền, phát huy vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, giữ ổn định chính  
trị, trật tự, an toàn xã hội.  
Tuy nhiên, từ thực tiễn tổ chức và hoạt động TGPL còn bộc lộ những khó  
khăn, hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động TGPL cần được nghiên cứu  
một cách đầy đủ và toàn diện như: hệ thống pháp luật về TGPL chưa đồng bộ, còn  
chồng chéo, mạng lưới tổ chức thực hiện TGPL chậm được kiện toàn, đội ngũ  
người thực hiện TGPL còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, cơ sở vật chất,  
kinh phí bảo đảm cho hoạt động còn thiếu và hạn chế chưa tương xứng với nhiệm  
vụ, số lượng vụ việc TGPL hình thức tham gia tố tụng còn ít, chất lượng một số vụ  
việc TGPL chưa cao, chưa phát huy tích cực vai trò luật sư và các tổ chức xã hội  
tham gia TGPL, từ đó đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện tổ chức và nâng cao  
hiệu quả hoạt động TGPL…, đáp ứng nhu cầu TGPL rất phong phú đa dạng và  
ngày một tăng của nhân dân.  
Xuất phát từ thực tế gắn với yêu cầu nhiệm vụ đang công tác, tác giả chọn đề  
tài “Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Cà Mau” là cần thiết  
3
cả về phương diện lý luận cũng như phương diện thực tiễn để làm luận văn thạc sĩ  
Luật học.  
2. Tình hình nghiên cứu đề tài  
Về các công trình nước ngoài: Trên thế giới đã có nhiều tác giả có những  
công trình nghiên cứu, bài bài viết giới thiệu về hoạt động TGPL của các nước như  
tác giả Allen C.Choate đã nghiên cứu về “Trợ giúp pháp lý tại Trung Quốc”. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy tác giả đã nghiên cứu một cách tổng quát có hệ thống về  
TGPL, khái niệm TGPL, người được TGPL tại Trung Quốc.  
Ở nước ta, trong những năm gần đây, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của  
xã hội trong tình hình mới, vấn đề TGPL được đề cập nhiều trong một số đề tài  
nghiên cứu tiến sĩ, thạc sĩ, đề tài cấp bộ và các bài báo, tạp chí, chuyên đề nghiên  
cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến TGPL miễn phí cho  
người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng “yếu thế” khác trong  
xã hội với một số công trình nghiên cứu đáng chú ý:  
Các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ:  
- Luận án tiến sĩ của tác giả Tạ Thị Minh Lý về “Điều chỉnh pháp luật về trợ  
giúp pháp lý ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới”, đã tập trung nghiên cứu và làm  
rõ một số vấn đề về cơ sở lý luận, pháp lý và thực trạng điều chỉnh pháp luật về  
TGPL. Từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện việc điều chỉnh pháp luật về TGPL  
theo sự phát triển của đất nước.  
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Xuân Lân về "Hoàn thiện các hình thức  
tiếp cận pháp luật của người nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, đã tập  
trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng tiếp cận pháp luật của người nghèo và  
đưa ra các giải pháp bảo đảm cho người nghèo được tiếp cận pháp luật.  
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Vũ Hồng Tuyến về "Hoàn thiện pháp luật về  
người thực hiện trợ giúp pháp lý ở Việt Nam", đã đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận,  
pháp lý, thực tiễn về người thực hiện TGPL, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp  
luật về người thực hiện TGPL.  
4
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phan Thị Thu Hà về "Bảo đảm quyền được trợ  
giúp pháp lý ", thực hiện nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền được  
TGPL của người dân.  
Các đề tài, bài báo nghiên cứu liên quan: “Mô hình tổ chức và hoạt động  
TGPL, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay”, do Viện Khoa học pháp  
lý - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm đề tài: Ts.Tạ Thị Minh Lý; “Luận cứ  
khoa học và thực tiễn xây dựng pháp lệnh TGPL”, do Viện Khoa học pháp lý - Bộ  
Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm đề tài: Ts.Tạ Thị Minh Lý; bài viết “Chất  
lượng vụ việc TGPL” Ts.Tạ Thị Minh Lý, Tạp chí Dân chủ pháp luật, Bộ Tư Pháp,  
số chuyên đề tháng 10/2009, tr.2-8; bài viết “Chất lượng vụ việc TGPL và các yếu  
tố ảnh hưởng đến chất lượng vụ việc TGPL” của Đỗ Xuân Lân; Tạp chí Dân chủ  
pháp luật, Bộ Tư Pháp, số 1/2008, tr.22-29; bài viết “Chất lượng vụ việc TGPL” của  
Nguyễn Hải Anh, Tạp chí Dân chủ pháp luật, Bộ Tư Pháp, số 5/2008; bài viết  
“Đánh giá chất lượng vụ việc TGPL là hình thức giám sát hiệu quả nhất về thi hành  
pháp luật TGPL” Ts.Tạ Thị Minh Lý, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Văn phòng  
Quốc Hội; bài viết “Tiêu chí đánh giá chất lượng vụ việc TGPL” chuyên đề của Cục  
TGPL, Bộ Tư pháp, 2008; Báo cáo Tổng kết 20 năm (năm 1997 – 2017) hình thành  
và phát triển TGPL của Cục Trợ giúp pháp lý…  
Đa số các công trình tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận, pháp luật về  
TGPL ở tầm vĩ mô với phạm vi toàn quốc mà chưa đi sâu vào thực tiễn áp dụng  
thực hiện TGPL. Với đề tài “Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh  
Cà Mau”, trong phạm vi luận văn, tác giả sẽ đi sâu phân tích làm sáng tỏ các vần đề  
có liên quan đến tổ chức và hoạt động TGPL trên cả hai khía cạnh lý luận và thực  
tiễn tại tỉnh Cà Mau, góp phần tìm ra giải pháp khoa học hoàn thiện tổ chức và hoạt  
động TGPL để kịp thời cung cấp dịch vụ pháp lý cho các đối tượng người được  
TGPL, nhằm bảo về tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của người được TGPL;  
góp phấn bảo đảm mọi tầng lớp người dân đều công bằng trước pháp luật, đưa chủ  
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống và xây dựng  
nhà nước pháp quyền XHCN.  
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
Mục đích nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về lý luận,  
thực tiễn tổ chức và hoạt động TGPL bao gồm: khái niệm, mục tiêu, đặc điểm, thực  
trạng tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Cà Mau trong thời  
gian qua. Từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động  
TGPL, giúp các đối tượng được TGPL được tiếp cận pháp luật, bảo vệ quyền và lợi  
ích hợp pháp của mình.  
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải  
quyết các nhiệm vụ sau: Một là, nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý và cơ sở  
thực tiễn về tổ chức và hoạt động TGPL. Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng tổ  
chức và hoạt động TGPL trên địa bàn tỉnh Cà Mau; làm rõ những nguyên nhân, hạn  
chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Ba là, đưa ra được các giải pháp phù hợp  
đặc thù hoạt động TGPL ở tỉnh Cà Mau và khuyến nghị vận dụng khai thực hiện.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về những vấn đề lý luận, thực tiễn  
pháp lý về tổ chức và hoạt động TGPL dưới góc độ Luật hiến pháp và Luật hành  
chính.  
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu hoạt động TGPL, tổ chức thực  
hiện TGPL, người thực hiện TGPL và đối tượng được TGPL trên địa bàn tỉnh Cà  
Mau từ năm 2007 đến nay.  
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu  
Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa  
Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật; quan điểm, chủ  
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề bảo đảm quyền con  
người, quyền công dân.  
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và  
phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, thu thập được trên Internet,  
sách, báo, tạp chí,…để giải quyết các nhiệm vụ nhằm đạt được mục đích của luận  
văn đặt ra.  
6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn  
Về khoa học: Có giá trị tham khảo trong học tập, nghiên cứu và giảng dạy về  
TGPL.  
Về thực tiễn: Giải pháp có ý nghĩa áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức thực  
hiện hoạt động trợ giúp pháp lý.  
7. Cơ cấu của Luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục thì  
nội dung luận văn được chia thành 03 chương:  
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về trợ giúp pháp lý.  
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý tại Cà Mau.  
Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động trợ giúp  
pháp lý tại tỉnh Cà Mau.  
7
Chương 1  
NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ  
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của trợ giúp pháp lý  
1.1.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý  
Ở góc độ ngôn ngữ học, “trợ giúp pháp lý” được sử dụng phổ biến từ giữa  
thế kỷ XX từ tiếng Anh là “Legal aid”. Đó là việc cung cấp cho những người không  
đủ khả năng có được đại diện pháp lý khi tiếp cận với hệ thống tư pháp. Nó được  
coi là trụ cột của tiếp cận công lý để bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trước  
pháp luật, có quyền được tư vấn và quyền được xét xử một cách công bằng [59,  
tr.8].  
Ở góc độ dịch thuật, “legal aid” được dịch là “bảo trợ tư pháp”; “hỗ trợ pháp  
lý”, khía cạnh “hỗ trợ”, “bảo trợ” gắn liền với tính chất “giúp đỡ” hoặc “trợ giúp”.  
Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” thể hiện khái quát nhất nội dung chính của các hoạt  
động này. Theo Đại từ điển tiếng việt, “trợ giúp” là sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp  
cho ai việc gì, đem lại cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến [59, tr.8].  
Pháp luật của các nước trên thế giới đều coi TGPL là giúp đỡ một phần hoặc  
toàn bộ tài chính cho những người không có điều kiện kinh tế để tiếp cận sử dụng  
pháp luật để được tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa nhằm bảo vệ quyền và  
lợi ích hợp pháp cho họ. Khái niệm này tương tự như khái niệm được đưa ra trong  
từ điển Oxford, theo đó TGPL được hiểu là khoản tiền mà chính phủ hoặc tổ cung  
cấp cho những người cần để trả cho các dịch vụ pháp lý. Tại Hoa Kỳ, thuật ngữ  
TGPL được biết với thuật ngữ “legal aid” (đối với hoạt động vào những năm  
1960), legal services, civil legal assistance (được sử dụng từ năm 1965 trở lại đây)  
được hiểu là cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho những người không thể đáp ứng  
được chi phí pháp lý. Trong tiếng Trung Quốc TGPL được gọi là “fa lu yuan zhu”  
có nghĩa là cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp cho người xứng đáng được  
miễn phí hoặc với tỷ lệ giảm bớt hoặc trợ cấp trong các vụ kiện, tranh chấp. Dựa  
trên hình thức thực hiện, TGPL cũng được hiểu: Giáo dục, tư vấn, thông tin pháp  
8
luật; bất cứ dịch vụ pháp luật nào do luật sư cung cấp; các dịch vụ khác trong phạm  
vi thẩm quyền của TGPL bao gồm dịch vụ của luật sư theo nghĩa vụ, tư vấn pháp  
luật và hỗ trợ pháp luật theo Luật TGPL 1978 (bản sửa đổi ngày 01/01/2010) của  
bang Victoria, Australia [60, tr.7]. Quy định tại Đạo luật về hành nghề luật B.E  
2528 năm 1985 của Thái Lan, TGPL được hiểu là việc tư vấn và đưa ra ý kiến; soạn  
thảo các hợp đồng; cung cấp các dịch vụ pháp lý phục vụ hoạt động tranh tụng cho  
những người nghèo và người bị đối xử bất công.  
Ở Việt Nam, ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết  
định số 734/TTg về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng  
chính sách. Từ đó, thuật ngữ “TGPL” chính thức được ghi nhận và sử dụng phổ  
biến trong các văn bản pháp luật, sách báo, tạp chí và hiện nay khái niệm TGPL  
đang được hiểu ở hai phạm vị rộng và hẹp khác nhau:  
Theo nghĩa rộng: TGPL được hiểu là sự giúp đỡ miễn phí của Nhà nước và  
xã hội cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận  
với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, bào chữa, bảo vệ, đại diện), nhằm bảo  
đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội  
[70].  
Theo nghĩa hẹp: TGPL là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của  
các tổ chức TGPL cho người nghèo và người được hưởng chính sách ưu đãi và một  
số đối tượng khác [60, tr.8]. Ngoài ra cũng có quan niệm cho rằng TGPL là việc  
giúp đỡ pháp luật miễn phí cho người nghèo và đối tượng được hưởng chính sách  
ưu đãi của Nhà nước để họ có điều kiện tiếp cận, sử dụng pháp luật bảo vệ quyền và  
lợi ích hợp pháp của mình.  
Qua các khái niệm được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của các nước,  
cũng như các khái niệm đang tồn tại ở nước ta có thể nhận thấy, TGPL được hiểu là  
sự giúp đỡ về mặt pháp lý, bằng nhiều hình thức khác nhau của Nhà nước và xã hội  
cho những người không có khả năng chi trả cho các chi phí pháp lý. TGPL, trước  
hết về mặt ngữ nghĩa thì “trợ giúp” là sự giúp đỡ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem  
cho ai cái gì trong lúc khó khăn, đang cần đến hoặc cũng có thể là giúp để làm giảm  
9
bớt khó khăn, nghĩa là làm cho một ai đó một việc mà người đó đang cần. Còn thuật  
ngữ “pháp lý” được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật nói một cách khái quát;  
pháp lý là lý luận, luận điểm cơ bản đối với pháp luật của một chế độ. Trong điều  
kiện hiện nay, pháp luật là hệ thống các quy phạm do Nhà nước ban hành để quản  
lý xã hội. Mọi người dân phải lấy pháp luật làm chuẩn mực để thực hiện quyền và  
nghĩa vụ của mình. Theo hướng tiếp cận này, TGPL là sự giúp đỡ thực hiện một  
việc, hay nói cách khác là cung cấp một dịch vụ pháp lý cho những người đang cần  
sự giúp đỡ về mặt pháp lý bảo vệ các quyền và lợi ích của mình theo quy định của  
pháp luật [60, tr.8].  
Như vậy, TGPL là việc nhà nước thông qua các tổ chức và cá nhân thực hiện  
đại diện, bào chữa, bảo vệ, tư vấn pháp luật và kiến nghị, tham gia hòa giải cho một  
số đối tượng nhất định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giúp họ nâng cao hiểu biết  
pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo đảm quyền con  
người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.  
Tuy còn có nhiều ý kiến về TGPL, nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề  
tài về tổ chức và hoạt động TGPL từ thực tiễn tỉnh Cà Mau thì khái niệm được quy  
định Điều 2 Luật TGPL năm 2017: “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp  
lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy  
định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp  
cận công lý và bình đẳng trước pháp luật” [53, tr.7] là phù hợp hơn cả.  
Từ khái niệm TGPL được thể hiện cụ thể như sau:  
Thứ nhất, TGPL là phương thức thực hiện cụ thể hóa đường lối của Đảng  
vào pháp luật và thông qua hoạt động của pháp luật đưa chủ trương, đường lối của  
Đảng vào cuộc sống, nâng cao hoạt động công vụ, tăng niềm tin của dân vào pháp  
luật; khẳng định tính đúng đắn của đường lối, chính sách trong đời sống xã hội.  
Công dân với tư cách là chủ thể của quyền lực, nên họ phải đảm bảo về mặt pháp lý  
để họ được hưởng công bằng trong giải quyết tranh chấp, khiếu kiện hoặc xét xử.  
TGPL chính là công cụ góp phần khắc phục sự bất bình đẳng do phân tầng giàu  
nghèo, làm giảm bớt mâu thuẫn giai cấp, từ đó thiết lập sự ổn định chính trị, trật tự  
10  
an toàn xã hội, bảo vệ chế độ và định hướng các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà  
nước [59, tr.11].  
Thứ hai, TGPL là tạo cơ chế để người được tư vấn pháp luật, được bảo vệ  
quyền lợi hoặc bào chữa miễn phí và Nhà nước thực hiện cung cấp kinh phí cho tổ  
chức nghề nghiệp như văn phòng luật sư, công ty luật hoặc thành lập Trung tâm  
TGPL … để góp phần giữ ổn định trật tự xã hội và giảm các chi phí giải quyết  
khiếu kiện không cần thiết, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.  
Thứ ba, TGPL là dịch vụ pháp lý thuộc phạm trù nghề luật sư với chất lượng  
hoạt động TGPL phụ thuộc vào nguồn nhân lực, nên đòi hỏi người thực hiện TGPL  
phải có trình độ pháp lý, kỹ năng chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp và kinh  
nghiệm thực tiễn. Người thực hiện TGPL là Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư, chuyên  
gia pháp lý…hình thức TGPL là tham gia tố tụng để bảo vệ, bào chữa, tư vấn pháp  
luật, đại diện ngoài tố tụng và theo trình tự luật định.  
Trợ giúp pháp lý khác với tư vấn pháp luật trong các dịch vụ có thu:  
- Trợ giúp pháp lý khác với tư vấn pháp luật trong các dịch vụ có thu phí đó  
là trong các dịch vụ pháp lý có thu phí thì tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp  
luật, hướng dẫn cá nhân, tổ chức thực hiện đúng pháp luật; giúp cho các cá nhân, tổ  
chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, là việc hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp họ  
soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Còn  
TGPL chỉ giải đáp pháp luật, hướng dẫn cá nhân thực hiện đúng pháp luật, đưa ra ý  
kiến, soạn thảo các giấy tờ liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân.  
- Xét về mục đích TGPL và tư vấn pháp luật là cung cấp thông tin pháp lý  
cho các đối tượng được TGPL hiểu, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình  
trong các quan hệ pháp luật. Tuy nhiên, tư vấn pháp luật trong các dịch vụ pháp lý  
có thu phí thì người được tư vấn pháp luật phải trả một khoản chi phí nhất định theo  
quy định của pháp luật hoặc theo sự thỏa thuận của hai bên không trái với quy định  
pháp luật, còn TGPL thì người được TGPL được miễn phí hoàn toàn.  
- Xét về đối tượng và lĩnh vực được tư vấn pháp luật trong các dịch vụ pháp  
lý có thu phí thì đối tượng rộng rãi, trên các lĩnh vực pháp luật điều chỉnh so với  
11  
TGPL thì đối tượng là những người “yếu thế” trong xã hội thuộc diện người có  
công với cách mạng, người nghèo, trẻ em, người dân tộc và một số đối tượng khác  
theo quy định của pháp luật về TGPL; lĩnh vực pháp luật mà TGPL thực hiện bị hạn  
chế như không được TGPL trong lĩnh vực kinh doanh thương mại.  
1.1.2. Đặc điểm trợ giúp pháp lý  
TGPL là trách nhiệm của nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện,  
tổ chức thực hiện TGPL, không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được TGPL; hoạt  
động TGPL phải tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý, đảm  
bảo tính kịp thời, độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan và bảo vệ tốt  
nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý.  
TGPL không chỉ giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của  
mình mà còn giúp họ nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành  
pháp luật; góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, hạn chế tranh  
chấp và vi phạm pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp  
cận công lý và bình đẳng trước pháp luật. Đối tượng được hưởng các quyền và lợi  
ích từ TGPL phần lớn là những người yếu thế trong xã hội như: “Người có công với  
cách mạng; người thuộc hộ nghèo; trẻ em; người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có  
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến  
dưới 18 tuổi; người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo; người có khó khăn về kinh tế  
(người thuộc hộ cận nghèo hoặc là người đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng  
theo quy định của pháp luật) được TGPL bao gồm: cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con  
của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ, người nhiễm chất độc da  
cam, người cao tuổi, người khuyết tật, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại  
trong vụ án hình sự, nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình, nạn nhân của hành vi  
mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người, người nhiễm  
HIV” [53, tr.11].  
Ngoài những đặc điểm trên thì TGPL có các thuộc tính cơ bản sau:  
- TGPL là hoạt động không mang tính quyền lực nhà nước, không mang tính  
lợi nhuận nên khác với hoạt động quản lý hành chính thông thường và khác với hoạt  
12  
động dịch vụ tư vấn, đó chính là tính nhân văn trong vai trò của Nhà nước [60,  
tr.10].  
- Khả năng của người nghèo, người có công với cách mạng và người có hoàn  
cảnh đặc biệt, không thể tiếp cận các dịch vụ pháp lý để tự bảo vệ mình (trong một  
số tài liệu gọi là người yếu thế) được thụ hưởng một dịch vụ pháp lý từ chuyên gia  
pháp luật mà không phải chi trả tài chính.  
- TGPL là trách nhiệm của Nhà nước thực hiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp của công dân thông qua dịch vụ TGPL miễn phí, nhất là những người có hoàn  
cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, những đối tượng “yếu thế” không tự bảo vệ mình.  
Và là trách nhiệm của thành viên trong cộng đồng tham gia đóng góp cho xã hội  
thông qua hoạt động TGPL.  
1.1.3. Vai trò của trợ giúp pháp lý  
Qua 20 năm hình thành (từ năm 1997-2017) và phát triển công tác TGPL đã  
có những đóng góp tích trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và  
đã là một bộ phận bảo đảm thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước. TGPL đã thể  
hiện rõ bản chất Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và là bản chất  
của chế độ ta. Vì vậy, bản chất Nhà nước được thể hiện khi dân cư trong lãnh thổ  
quốc gia, mọi người dân đều phải có trách nhiệm trong việc duy trì sự tồn tại của  
Nhà nước thông qua việc thực hiện các nghĩa vụ nhất định. Tuy nhiên, không chỉ  
người dân có nghĩa vụ đối với Nhà nước, mà Nhà nước cũng phải có trách nhiệm  
duy trì trật tự xã hội, bảo đảm an ninh và bảo vệ các lợi ích chính đáng của người  
dân. Nhà nước thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người dân thông qua việc dùng  
pháp luật và những công cụ hỗ trợ khác để đảm bảo cơ chế thực thi các quyền lực  
của mình giúp người dân hiểu biết pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ khi  
bị xâm hại. Từ đó nhằm giữ gìn, duy trì và bảo đảm sự công bằng cho người dân,  
nhất là các đối tượng được hưởng chính sách về TGPL.  
- TGPL là một chính sách xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế với bảo đảm  
công bằng xã hội, xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa và chính sách dân tộc của  
Đảng và Nhà nước ta. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước ta là  
13  
xóa đói giảm nghèo, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội. Hiện nay, mục tiêu xóa  
đói giảm nghèo là góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trong đó TGPL  
cho người nghèo và đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi là nội dung quan trọng  
của chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo quốc gia.  
- TGPL thuộc chế định tư pháp bảo trợ gắn với bảo đảm quyền con người,  
quyền công dân nhằm thực thi dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm công bằng  
xã hội để mọi công dân không phân biệt giàu nghèo đều bình đẳng trước pháp luật,  
được tiếp cận với dịch vụ pháp luật như nhau trong điều kiện phát triển nền kinh tế  
thị trường.  
- TGPL là một trong những hình thức đưa chủ trương, chính sách xóa đói  
giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa và bảo đảm công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước  
đi vào cuộc sống, nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần hoàn thiện  
bộ máy nhà nước, hoàn thiện pháp luật và nâng cao trách nhiệm công vụ, góp phần  
thiết thực bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.  
- TGPL góp phần nâng cao ý thức pháp luật và trình độ dân trí để cho nhân  
dân tự mình biết cách ứng xử phù hợp với quy định của pháp luật, góp phần lành  
mạnh hóa quan hệ xã hội và xây dựng nếp sống văn minh “sống và làm việc theo  
pháp luật”; thực sự là địa chỉ tin cậy để người nghèo, người có công với cách mạng  
và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt tìm đến mỗi khi có vướng mắc về pháp luật.  
- TGPL là một bộ phận của công tác dân vận, góp phần củng cố lòng tin của  
người dân vào Đảng và Nhà nước cũng như chính sách, pháp luật, thực sự là cầu nối  
giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước với nhân dân, ổn định chính trị, giữ gìn trật  
tự, an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao trách nhiệm trong  
thực thi công vụ và hoàn thiện hệ thống pháp luật [59, tr.16].  
1.2. Những vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý  
1.2.1. Về tổ chức trợ giúp pháp lý  
Từ khi thành lập tổ chức TGPL vào năm 1997 đến nay, hệ thống pháp luật về  
TGPL ở Việt Nam đã được xây dựng và ban hành khá đầy đủ và đồng bộ, đảm bảo  
cho công tác TGPL đạt hiệu quả. Cụ thể:  
14  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 83 trang yennguyen 19700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Cà Mau", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_to_chuc_va_hoat_dong_tro_giup_phap_ly_tu_thuc_tien.pdf