Luận văn Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình trên địa bàn huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
ĐÀO DUY QUỐC  
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN  
THU NHẬP CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN  
HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2017  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
ĐÀO DUY QUỐC  
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN  
THU NHẬP CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN  
HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH  
Chuyên ngành: Quản lý công  
Mã số  
: 60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC VINH  
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2017  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi tên Đào Duy Quốc, tác giả của luận văn tốt nghiệp cao học đề tài “Phân tích  
các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình trên địa bàn huyện Tuy  
Phước, tỉnh Bình Định”, luận văn là do tác giả nghiên cứu và thực hiện dưới sự  
hướng dẫn của thầy PGS.TS.Nguyễn Ngọc Vinh,Viện Nghiên cứu kinh tế phát triển  
- Trường Đại học Kinh tế TP. HCM. Các số liệu khảo sát và kết quả nêu trong luận  
văn là trung thực, do chính tác giả thu thập, phân tích và chưa từng được ai công bố  
trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.  
Tác giả xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.  
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 02 năm 2017  
Tác giả  
Đào Duy Quốc  
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
LỜI CAM ĐOAN  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ  
TÓM TẮT  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
BD:  
Bình Định  
CNTB:  
CP:  
Chủ nghĩa tư bản  
Chính phủ  
HGD:  
Hộ gia đình  
KT – XH: Kinh tế - xã hội  
PACT:  
SPSS:  
Private Alliance Cooperation  
Cơ quan tư nhân Hợp tác liên minh  
Statistical Package for the Social Sciences  
Phần mềm thống kê dành cho khoa học xã hội định lượng  
Thu nhập  
TN:  
TP:  
Thành phố  
UBND:  
Ủy ban nhân dân  
DANH MỤC BẢNG  
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ  
TÓM TẮT  
Xem xét vấn đề thu nhập của các hộ gia đình là một trong những vấn đề rất  
quan trọng trong việc cải thiện cuộc sống của các hộ gia đình, từ đó, góp phần phát  
triển kinh tế của mỗi Quốc gia. Thu nhập của các hộ gia đình phản ánh điều kiện  
sống cũng như tình hình công ăn việc làm của các hộ gia đình có tốt hay không.  
Tại tỉnh Bình Định, trong những năm gần đây, vấn đề thu nhập của các hộ gia  
đình đang rất được quan tâm. Song song với công tác hỗ trợ gia tăng thu nhập của  
các cấp chính quyền định phương thì việc xác định các nhân tố tác động đến thu  
nhập của các hộ gia đình là điều rất cần thiết.  
Chính vì vậy, đề tài “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của  
các hộ gia đình trên địa bàn huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định” được tiến hành  
nhằm đánh giá và xác định các nhân tố tác động đến thu nhập của các hộ gia đình  
trên địa bàn huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.  
Bên cạnh việc tiến hành thống kê các thông tin cơ bản của các hộ gia đình  
nhưu: Nghề nghiệp, số nhân khẩu, số lao động, các nguồn thu nhập, khoảng cách  
hộ so với trung tâm huyện, tình hình vay vốn, diện tích đất nông nghiệp. Đề tài còn  
tập trung vào việc đánh giá những vấn đề liên quan đến tình hình thu nhập cũng  
như các nguồn tạo ra thu nhập và mức độ tác động của các nhân tố (trình độ học  
vấn, số lao động, độ tuổi trung bình, các nguồn thu nhập, khoảng cách từ hộ đến  
trung tâm huyện) tác động đến thu nhập của các hộ gia đình trên địa bàn huyện Tuy  
Phước, tỉnh Bình Định thông qua mô hình hồi quy đa biến. Trên cơ sở đó, tác giả  
đánh giá và đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao thu nhập của các hộ gia đình trên  
địa bàn huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.  
Với những đóng góp tích cực và phát hiện mới của đề tài thông qua kết quả  
hồi quy cho thấy nhân tố khoảng cách từ hộ đến trung tâm huyện là một vấn đề hết  
sức quan trọng cho các cấp chính quyền địa phương cần lưu tâm trong việc phát  
triển và nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình và hơn hết đó là việc tập trung nâng  
cao trình độ cho các hộ gia đình.  
1
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU  
1.1. Bối cảnh nghiên cứu  
Tuy Phước là một huyện nằm về phía Nam của tỉnh Bình Định, có diện tích 217  
km2, dân số 186.472 nguời, kinh tế của huyện chủ yếu vẫn là nông nghiệp, đời sống  
nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2015 giảm còn 8,65%  
(4.383 hộ nghèo), mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 51,8 triệu  
đồng/người/năm (tuy nhiên cũng có người thu nhập chỉ ở mức 12 triệu đồng/năm,  
tương đương mức 1 triệu đồng/tháng), cùng với thiên tai, dịch bệnh, giá cả bấp  
bênh,… Một bộ phận không nhỏ người dân cứ trong vòng lẫn quẫn của nghèo đói.  
Như chúng ta thấy, thu nhập bình quân đầu người của địa phương là một trong  
những thước đo quan trọng để đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội ở địa  
phương, nó nói lên mức sống của người dân ở một địa phương. Khi thu nhập thực  
tế của người dân tăng lên thi khả năng được tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ được  
tăng lên, do vậy mức sống được cải thiện  
Chính vì vậy việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia  
đình của huyện là rất quan trọng. Việc nghiên cứu để tìm ra những nhân tố ảnh  
hưởng đếnthu nhập để có biện pháp phù hợp nhằm thúc đẩy thu nhập người dân  
tăng cao. Từ các ý tưởng trên học viên chọn chủ đề nghiên cứu của mình là: Phân  
tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình trên địa bàn huyện  
Tuy Phước, tỉnh Bình Định  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là:Đề tài tập trung vào việc phân tích các  
nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình trên địa bàn huyện Tuy Phước,  
tỉnh Bình Định.  
Tương ứng với mục tiêu đó có câu hỏi nghiên cứu sau:Các nhân tố nào tác  
động đến thu nhập của các hộ gia đình trên địa bàn huyện Tuy Phước, tỉnh Bình  
Định?  
     
2
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:Đánh giá sự tác động của các nhân tố ảnh  
hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình trên địa bàn huyện Tuy Phước, tỉnh Bình  
Định.  
- Đối tượng khảo sát: Các hộ gia đình trên địa bàn huyện Tuy Phước tỉnh  
Bình Định.  
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:  
Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung khảo sát tại huyện Tuy Phước, tỉnh  
Bình Định.  
Phạm vi thời gian: Thời gian khảo sát và thu thập số liệu trong vòng 04 tháng  
từ tháng 09 đến tháng 12 năm 2016.  
1.4. Phương pháp nghiên cứu  
Tác giả đã sử dụng các phương pháp sau cho việc thực hiện đề tài Phân tích  
các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình trên địa bàn huyện Tuy  
Phước, tỉnh Bình Định:  
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Nhằm hệ thống, tóm tắt các vấn đề về lý  
luận, lý thuyết có liên quan đến đề tài làm cơ sở cho việc phân tích và đề xuất mô  
hình nghiên cứu.  
- Phương pháp thống kê mô tả: Nhằm mô tả dữ liệu mà tác giả thu thập được  
(dữ liệu từ các trang web, phiếu điều tra) liên quan đến vấn đề thu nhập của các hộ  
gia đình tại huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.  
- Phương pháp phân tích định lượng:Đượcsử dụng nhằm phân tích sự tác  
động của các yếu tố lên thu nhập của các hộ gia đình trên địa bàn huyện Tuy Phước,  
tỉnh Bình Định.  
1.5. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu  
Cho đến thời điểm hiện tại, tác giả chưa tìm thấy công trình nghiên cứu về các  
nhân tố tác động đến thu nhập của các hộ gia đình tại địa bàn huyện Tuy Phước,  
tỉnh Bình Định. Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu này có các ý nghĩa sau:  
     
3
- Về mặt khoa học:Việc tổng hợp lý thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu  
có thể là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tương đồng  
- Về mặt thực tiễn:Trên cơ sở các nhân tố tác động đến thu nhập của các hộ  
gia đình tại huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, đề tài đề xuất các kiến nghị nhằm  
làm tăng thu nhập cho các hộ gia đình tại địa phương này, do đó góp phần làm tăng  
thu nhập quốc dân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của địa phương.  
1.6. Kết cấu của đề tài  
Kết cấu của đề tài gồm 5 chương chính, cụ thể như sau:  
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu  
Trình bày cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi  
nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của đề tài.  
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu  
Gồm những nội dung: Khái niệm thu nhập, các thành phần chính của thu nhập,  
lý thuyết về phân phối thu nhập, các mô hình nghiên cứu trong và ngoài nước về  
các nhân tố tác động đến thu nhập. Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình  
nghiên cứu và phát triển các giả thuyết.  
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu  
Giới thiệu về bảng khảo sát, tổng thể, kích thước mẫu và chọn mẫu, quá trình  
thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu  
Chương 4: Kết quả nghiên cứu  
Phân tích, diễn giải các dữ liệu đã thu được từ cuộc khảo sát bao gồm các kết  
quả thống kê mô tả các biến, mô hình hồi quy và kiểm định các giả thuyết.  
Chương 5: Kết luận và kiến nghị  
Từ kết quả nghiên cứu của chương 4, chương này sẽ trình bày một số đề xuất  
các kiến nghị nhằm nâng cao thu nhập của các hộ gia đình tại huyện Tuy Phước,  
tỉnh Bình Định.  
 
4
Tóm tắt Chương 1:  
Như vậy, trong chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu,  
các vấn đề liên quan như: Mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu,  
thời gian nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài cũng như cấu trúc của đề tài.  
5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
2.1.Khái niệm  
2.1.1. Khái niệm hộ gia đình:  
Hộ gia đình1 hay còn gọi đơn giản là hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay  
một nhóm người ở chung và ăn chung (nhân khẩu). Đối với những hộ có từ 2 người  
trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu  
nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người  
trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi  
dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai.  
Hộ gia đình được phân loại như sau:  
Hộ một người (01 nhân khẩu): Là hộ chỉ có một người đang thực tế thường trú  
tại địa bàn.  
Hộ hạt nhân: Là loại hộ chỉ bao gồm một gia đình hạt nhân đơn (gia đình chỉ  
có 01 thế hệ) và được phân tổ thành: Gia đình có một cặp vợ chồng có con đẻ hoặc  
không có con đẻ hay bố đẻ cùng với con đẻ, mẹ đẻ cùng với con đẻ.  
Hộ mở rộng: Là hộ bao gồm gia đình hạt nhân đơn và những người có quan hệ  
gia đình với gia đình hạt nhân. Ví dụ: một người cha đẻ cùng với con đẻ và những  
người thân khác, hoặc một cặp vợ chồng với người thân khác;  
Hộ hỗn hợp: Là trường hợp đặc biệt của loại hộ mở rộng.  
Chủ hộ: Là người có vai trò điều hành, quản lý gia đình, giữ vị trí chủ yếu,  
quyết định những công việc của hộ.  
Người lao động của hộ gia đình: Điều 6 Bộ Luật Lao động quy định người lao  
động là người ít nhất đủ 15 tuối, có khả năng lao động.  
Từ tình trạng việc làm của các thành viên trong hộ, tác giả phân chia hộ thành  
hộ không có hoạt động kinh tế và hộ có hoạt động kinh tế.  
- Hộ không làm việc: là hộ không có thành viên trong gia đình làm công ăn  
lương và không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào.  
- Hộ làm công: là hộ có thành viên trong gia đình làm công ăn lương nhưng  
1 Theo Wikipedia, khái niệm về hộ gia đình  
     
6
không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào.  
- Hộ thuần nông: là những hộ gia đình mà việc làm của mọi thành viên trong  
hộ thuộc khu vực nông nghiệp.  
- Hộ sản xuất kinh doanh: là những hộ gia đình mà việc làm của mọi thành  
viên trong hộ thuộc khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ.  
- Hộ nông nghiệp - làm công: là những hộ gia đình mà việc làm của các thành  
viên trong hộ vừa thuộc khu vực nông nghiệp vừa là làm công ăn lương.  
- Hộ nông nghiệp - sản xuất kinh doanh: là những hộ gia đình mà việc làm của  
các thành viên trong hộ vừa thuộc khu vực nông nghiệp vừa thuộc khu vực công  
nghiệp hoặc khu vực dịch vụ, hoặc thuộc cả ba khu vực.  
- Hộ sản xuất kinh doanh - làm công: là những hộ gia đình mà việc làm của  
các thành viên trong hộ vừa thuộc khu vực công nghiệp, dịch vụ vừa là làm công ăn  
lương.  
- Hộ nông nghiệp - sản xuất kinh doanh - làm công, gọi chung là hộ hỗn hợp:  
là những hộ gia đình mà việc làm của các thành viên trong hộ vừa thuộc khu vực  
nông nghiệp vừa thuộc khu vực công nghiệp, dịch vụ, vừa có làm công ăn lương.  
- Khu vực nông nghiệp: Bao gồm các hoạt động kinh tế thuộc lĩnh vực nông  
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.  
- Khu vực công nghiệp: Bao gồm các hoạt động thuộc lĩnh vực công nghiệp  
và xây dựng.  
- Khu vực dịch vụ: Bao gồm các hoạt động thuộc lĩnh vực thương nghiệp,  
khách sạn - nhà hàng, vận tải và các dịch vụ khác như hoạt động tài chính, tín dụng,  
hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và  
dịch vụ tư vấn, hoạt động quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng, giáo dục và đào  
tạo, y tế, thú y và hoạt động cứu trợ, hoạt động văn hoá và thể thao, hoạt động đảng,  
đoàn thể, hiệp hội.  
7
2.1.2. Khái niệm thu nhập của hộ gia đình:  
Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các  
thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định (thường là một năm),  
bao gồm:  
Thu từ tiền công, tiền lương  
Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế  
sản xuất)  
Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí  
sản xuất và thuế sản xuất)  
Thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản,  
vay thuần tuý, thu nợ và các khoản chuyến nhượng vốn nhận được).  
2.2. Các lý thuyết có liên quan đến chủ đề nghiên cứu  
Cùng với sản xuất và tiêu dùng, phân phối là một trong những phạm trù  
kinh tế chungnhất của xã hội loài người. Với tư cách như vậy, phân phối theo  
nghĩa chung nhất có thể được hiểu là hoạt động chia các yếu tố sản xuất, các  
nguồn lực đầu vào trong một quá trình sản xuất và chia các kết quả sản xuất,  
các sản phẩm đầu ra trong quá trình tái sản xuất xã hội. Trong đó, phân phối các  
yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn  
nhau.  
Phân phối thu nhập là một bộ phận của phân phối, gắn liền với sự phân  
phối sản phẩm đầu ra được biểu hiện dưới các hình thái thu nhập. Thực tiễn cho  
thấy phân phối thunhập đóng vai trò rất quan trọng trong mọi xã hội cũng như  
trong mọi hình thái kinh tế vì phân phối thu nhập hỗ trợ cho tiêu dùng và quá  
trình tái sản xuất, đảm bảo cho sự tồn tạicủa loài người.  
Mặc dù cụm từ “phân phối” (distribution) lần đầu tiên được đưa vào sử  
dụng trong lý thuyết kinh tế bởi Francois Quesnay và một số nhà kinh tế trọng  
nông Pháp từ những năm 1750 nhưng những vấn đề lý luận về phân phối thu  
nhập chỉ thực sự xuất hiện sau công trình Wealth of Nations (1776) của Adam  
   
8
Smith và được hệ thống thành một lý thuyết phân phối thu nhập với David  
Ricardo (1817).  
Lý thuyết về thu nhập của David Ricardo: Kế thừa quan điểm của Smith về  
những thu nhập ban đầu của ba giai cấp và dựa vào lý luận giá trị - lao động, David  
Ricardo đã làm cho lý luận này chiếm vị trí quan trọng trong học thuyết của mình.  
Ông đã trình bày về các vấn đề tiền công, lợi nhuận và địa tô như sau:  
Về tiền công:Coi lao động là hàng hóa, ủng hộ "quy luật sắt về tiền công",  
ủng hộ quan điểm "nhà nước không can thiệp vào thị trường lao động", vạch ra các  
yếu tố ảnh hưởng đến giá cả lao động.  
Về lợi nhuận: Gián tiếp thừa nhận lợi nhuận là kết quả của lao động làm  
thuê, có quan hệ tỷ lệ nghịch với tiền công. Thấy được quy luật tỷ suất lợi nhuận có  
xu hướng giảm xuống, nhưng lại cho rằng quy luật này có quan hệ với quy luật độ  
phì của đất giảm dần.  
Về địa tô: dựa trên lý luận giá trị - lao động để giải thích, đó là cống hiến của  
ông.  
Theo ông David Ricardo "Giá trị nông sản phẩm là do mức hao phí lao động  
trên đất đai xấu nhất quyết định và đất đai xấu nhất không thu được địa tô". Địa tô  
là việc trả công cho những khả năng thuần túy tự nhiên và điạ tô bao giờ cũng được  
trả về việc sử dụng ruộng đất tốt hơn.  
Từ đó đến nay, lý thuyết phân phối thu nhập đã không ngừng phát triển với  
sự đóng góp, bổ sung, hoàn thiện của các học giả, các nhà kinh tế trên thế giới.  
Nhìn chung, lý thuyết phân phối thu nhập bao gồm: Giải thích bản chất của  
phân phối thu nhập, các yếu tố tác động đến quá trình phân phối thu nhập, phân  
tích các vấn đề nảy sinh từ kết quả của phân phối thu nhập như bất bình đẳng  
kinh tế, nghèo đói, sự can thiệp của Nhà nước,...  
Cũng theo ông David Ricardo, về bản chất, phân phối thu nhập được đặc  
trưng bởi ba yếu tố cơ bản: đốitượng phân phối, chủ thể phân phối và người  
tiếp nhận thu nhập  
.
-
Đối tượng của phân phối ở đây là phần sản phẩm xã hội mới được tạo ra  
9
trong một thời gian nhất định, và khi chúng được chuyển đến người tiếp nhận  
thì hình thành nên thu nhập chongười tiếp nhận. Thu nhập (income) có thể  
được biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị. Trong các lý thuyết phân phối  
thu nhập, thu nhập có thể được xem xét theo cách tiếp cận vi mô hoặc vĩ mô:  
Đối với cách tiếp cận vi mô, thu nhập mang tính cá nhân, có thể được biểu  
hiện bởi 4 hình thái: tiền lương (thu nhập lao động), địa tô (thu nhập của đất  
đai), lợi tức (thu nhập của vốn, lợi nhuận (thu nhập của tư bản). Trong khi đó,  
cách tiếp cận vĩ mô coi thu nhập là tổng thu nhập quốc dân với hai thành phần  
cơ bàn: tiêu dùng và tiết kiệm.  
-
Chủ thể phân phối thu nhập là một khái niệm không thống nhất trong  
các lý thuyết phân phối thu nhập. Trong các thời kỳ trước nền kinh tế hàng  
hóa tư bản chủ nghĩa, chủ thể phân phối thu nhập thường là người có quyền  
lực cao nhất trong xã hội như tù trưởng trong chế độ nguyên thủy, chủ nô  
trong chế độ chiếm hữu nô lệ, vua hay các lãnh chúa trong chế độ phong kiến.  
Những người này dựa trên quyền chiếm hữu tập trung các tư liệu sản xuất  
quyết định phân phối thu nhập. Đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa, các lý thuyết  
phân phối thu nhập của các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển như Adam  
Smith, David Ricardo hay của trườngphái tân cổ điển sau này coi người nắm  
giữ các yếu tố sản xuất (lao động, đất đai, vốn) là chủ thể phân phối và cũng  
là đối tượng tiếp nhận phân phối. Lý thuyết phân phối thu nhập thuộc trường  
phái mácxít cho rằng trong nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa, chủ thể  
phânphối chính là các nhà tư bản, những người chiếm hữu các tư liệu sản  
xuất. Từ đó, trường phái này đề xuất lý thuyết phân phối thu nhập của xã hội  
chủ nghĩa với chủ thể phân phối là quầnchúng lao động khi mà toàn bộ tư liệu  
sản xuất được công hữu. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, với sự xuất hiện  
của trường phái kinh tế phúc lợi cũng như những nghiên cứu chỉ ra những  
thất bại thị trường ở các nước phát triển, đã dẫn đến sự can thiệp của Nhà  
nước trong phân phối thu nhập, đặc biệt trong các phân phối lại thông qua các  
chính sách thuế và trợ cấp.  
10  
-
Người tiếp nhận thu nhập là những tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thông  
qua quá trình phân phối mà nhận được thu nhập. Theo cách tiếp cận vi mô,  
người tiếp nhận phải trả giá để đánh đổi được thu nhập, ví dụ như lao động bỏ  
sức lao động ra làm việc để nhận được tiền lương, chủ tư bản bỏ vốn kinh  
doanh nhận được lợi nhuận… Tuy nhiên, trong trường hợp nhà nước phúc lợi,  
một nhóm người có thể nhận được thu nhập do nhà nước cấp cho dưới dạng trợ  
cấp, bảo hiểm y tế …  
Ba yếu tố cơ bản trên kết hợp tạo ra quá trình phân phối thu nhập trong đời  
sống kinh tế- xã hội. Nguyên tắc cơ bản cho sự kết hợp này là thực hiện quyền  
sở hữu của chủ thể tạo ra giá trị hay thu nhập. Đây cũng là nguyên tắc xuyên  
suốt trong lý thuyết phân phối thu nhập của hầu hết các trường phái kinh tế, dù  
là cổ điển, tân cổ điển hay mácxít…  
Theo A.Smith (1817) trong tác phẩm Wealth of Nationsđã tranh luận rằng  
giá trị của bất cứ thứ hàng hóa nào cũng bao gồm tiền lương, lợi nhuận và địa  
tô. Theo A.Smith, trước khi có chủ nghĩa tư bản, người lao động tạo ra sản  
phẩm bằng những tư liệu sản xuất và ruộng đất của chính họ nên người lao động  
được toàn quyền sở hữu giá trị sản phẩm được tạo ra đó, nhưng trong điều kiện  
chủ nghĩa tư bản, khi người lao động không có ruộng đất và phải đi làm thuê để  
tạo ra của cải thì họ chỉ được hưởng một bộ phận giá trị sản phẩm được tạo ra  
đó là tiền lương.Bên cạnh đó, lợi nhuận và địa tô là những khoản khấu trừ tiếp  
theo vào trong giá trị sản phẩm được tạo ra và nó thuộc về nhà tư bản kinh  
doanh và các địa chủ (địa tô là khoản khấu trừ đầu tiên còn lợi nhuận là khoản  
khấu trừ thứ hai – khoản còn lại trong giá trị sản phẩm); ngoài ra, lợi tức là một  
phần của lợi nhuận và nó thuộc về chủ sở hữu vốn. Cũng dựa trên những tư  
tưởng này, trường phái cổ điển về sau đã tiến tới xác định thu nhập theo các yếu  
tố sản xuất. Còn trường phái mác xít, mặc dù cũng thừa nhận nguyên tắc sở hữu  
và lập luận cũng dựa trên lý luận giá trị lao độngnhư các nhà cổ điển, nhưng do  
quan niệm tư bản, bản chất là lao động mà thành nên đã coi toàn bộ giá trị thuộc  
về lao động.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 92 trang yennguyen 11020 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình trên địa bàn huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_phan_tich_cac_nhan_to_anh_huong_den_thu_nhap_cua_ca.pdf