Tóm tắt Luận văn Vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho học sinh Trung học phổ thông ở tỉnh Quảng Nam hiện nay

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
HOÀNG QUỐC HỘI  
VẤN ĐỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ  
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  
Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC  
Mã số: 60 22 03 01  
Đà Nẵng - Năm 2017  
Công trình được hoàn thành tại  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN  
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ TUYẾT BA  
Phản biện 1: TS. Phạm Huy Thanh  
Phản biện 2: TS Hồ Tấn Sáng  
Luận văn sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận văn tốt  
nghiệp Thạc sĩ Triết học họp tại trường Đại học Kinh tế, Đại  
học Đà Nẵng vào ngày 19 tháng 8. năm 2017.  
Có thể tìm hiểu luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện, Trường đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Thẩm mỹ là một trong những yếu tố góp phần cấu thành nhân  
cách con người. Nó là cơ sở góp phần hình thành tư tưởng, tình cảm,  
cách ứng xử, đồng thời là thước đo đánh giá năng lực thẩm mỹ của  
mỗi chúng ta. Không chỉ định hướng tư tưởng, quan điểm mà thẩm  
mỹ còn góp phần thôi thúc khát vọng, lý tưởng, động cơ, hình thành  
lối sống học tập và lao động có mục đích, hướng đến giá trị chân -  
thiện - mỹ. Thị hiếu thẩm mỹ là một bộ phận cấu thành ý thức  
thẩm mỹ của con người, là cơ sở cho mọi hoạt động thưởng thức,  
đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ. Thẩm mỹ lành mạnh có vai trò to  
lớn trong xây dựng nền văn hóa mới, con người mới ở nước ta mà  
mục tiêu trọng tâm là tạo cơ sở đúng đắn cho mọi hoạt động sống  
cũng như mọi hoạt động thưởng thức, đánh giá và sáng tạo thẩm  
mỹ của chủ thể.  
Thẩm mỹ không chỉ biểu hiện quá trình tự phát triển của  
cá nhân mà nó còn thể hiện trình độ giáo dục thẩm mỹ trong nhà  
trường và ngoài xã hội. Luật Giáo dục năm 2005 đã nhấn mạnh:  
“Quan tâm đầy đủ đến giáo dục phẩm chất, đạo đức, ý thức công  
dân, giáo dục sức khỏe và thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên là yêu  
cầu chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn mới ở nước ta”.  
Có thể nói, cùng với giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể chất, giáo dục  
thẩm mỹ có liên quan sâu sắc đến nhu cầu lành mạnh, lý tưởng tiên  
tiến của con người Việt Nam giai đoạn mới.  
Nước ta đang trong tiến trình hội nhập kinh tế, văn hóa với thế  
giới. Nền kinh tế mở là điều kiện cho sự du nhập của các loại hình  
giải trí, thúc đẩy quá trình giao lưu, học hỏi và tiếp thu những giá trị  
2
thẩm mỹ tích cực của nhân loại. Tuy nhiên, bên cạnh việc tiếp thu  
những giá trị thẩm mỹ tích cực, nó cũng để lại nhiều hệ lụy, đó là sự  
mơ hồ, lệch lạc trong nhận thức, hành vi, thái độ về thẩm mỹ của giới  
trẻ mà đặc biệt là bộ phận học sinh.  
Luật Giáo dục của nước ta năm 2005, sửa đổi bổ sung năm  
2009 nhấn mạnh “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh  
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ  
năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo  
hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây  
dựng tư cách và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếp tục  
học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động tham gia xây dựng và bảo vệ  
Tổ quốc”.  
Quảng Nam là vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời và rất  
đa dạng về hình thức sinh hoạt văn hóa, đồng thời có hai di sản văn  
hóa là, đô thị cổ Hội An và khu đền tháp Mỹ Sơn được Unesco công  
nhận là di sản văn hóa thế giới, cùng nhiều di tích văn hóa, lễ hội và  
các món ăn truyền thống. Sự đa dạng trong sinh hoạt văn hóa của các  
đồng bào ít người, hằng năm đón rất nhiều du khách trong và ngoài  
nước tham quan. Cùng với du khách là các lễ hội văn hóa được giới  
thiệu và biểu diễn tại Hội An, Mỹ Sơn và nhiều nơi. Quảng Nam trở  
thành nơi giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và các nước trên thế giới.  
Từ việc giao lưu văn hóa đó mà các giá trị thẩm mỹ trong văn hóa ít  
nhiều cũng ảnh hưởng đến cư dân bản địa.  
Hiện nay ở nước ta, vấn đề giáo dục toàn diện cho con người  
ngày càng cấp thiết, đặc biệt là vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho thế hệ  
học sinh.  
Cùng với giáo dục chính trị, giáo dục tri thức khoa học, giáo  
dục thể chất,…giáo dục thẩm mỹ đã góp phần xây dựng nền văn hóa,  
3
con người mới ở nước ta và đào tạo nên những chủ thể thẩm mỹ mới  
với nhân cách cao đẹp, có lối sống lành mạnh. Việc giáo dục và định  
hướng thẩm mỹ là một trong những vấn đề quan trong, nhằm tiếp  
thu văn hóa nhân loại nhưng vẫn bảo tồn được trong văn hóa Việt  
Nam đang .  
Trong công tác giáo dục học sinh, nhà trường rất coi trọng nội  
dung giáo dục thẩm mỹ coi đó là một bộ phận không thể thiếu được  
của quá trình giáo dục toàn diện. Con người có trí tuệ thông minh, có  
sức khỏe cường tráng, nếu thiếu óc thẩm mỹ vẫn không được coi là  
con người toàn diện trong một xã hội hiện đại.  
Giáo dục thẩm mĩ trở nên hết sức quan trọng vì nó có tác động  
mạnh đến trí tuệ, đến tình cảm đạo đức, đến quá trình hình thành  
những nét đẹp trong hành vi, thói quen của học sinh, đến khả năng  
sáng tạo – một phẩm chất cực kỳ quý báu của con người hiện đại.  
Xuất phát từ tầm quan trọng của giáo dục thẩm mỹ và quá  
trình giáo dục thẩm mỹ đối với sự phát triển toàn diện của học sinh  
THPT, từ thực trạng công tác giáo dục thẩm mỹ trong các trường  
phổ thông hiện nay còn nhiều bất cập, xuất phát từ yêu cầu giáo dục  
thẩm mỹ đòi hỏi sự tham gia và kết hợp đồng bộ của mọi lực lượng  
xã hội đặc biệt là vai trò tổ chức quản lí của Nhà trường, gia đình  
trong việc giáo dục thẩm mỹ cho học sinh, nên học viên đã chọn đề  
tài: “Vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho học sinh trung học phổ thông ở  
tỉnh Quảng Nam hiện nay” làm luận văn của mình.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Trên cơ sở nghiên cưú lí luận chung và từ thực trạng giáo dục  
thẩm mỹ cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Quảng Nam, đề tài  
xây dựng một số giải pháp nhằm nâng chất lượng giáo dục thẩm mỹ  
trong giai đoạn hiện nay.  
4
Với mục tiêu đó, đề tài có những nhiệm vụ sau:  
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về thẩm  
mỹ và giáo dục thẩm mỹ.  
Thứ hai, phân tích thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh  
trung học phổ thông ở Quảng Nam.  
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng  
giáo dục thẩm mỹ cho học trung học phổ thông ở tỉnh Quảng Nam.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu  
Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận về thẩm mỹ và giáo dục  
thẩm mỹ cho học sinh trung học phổ thông ở tỉnh Quảng Nam.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Đề tài tập trung làm rõ vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho học sinh  
trung học phổ thông ở tỉnh Quảng Nam  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng duy vật;  
luận văn sử dụng các phương pháp logic và lịch sử; phân tích, tổng  
hợp, điều tra xã hội học, so sánh đối chiếu... nhằm thực hiện mục  
đích và nhiệm vụ của luận văn.  
5. Bố cục của đề tài  
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,  
nội dung luận văn gồm 03 chương, 06 tiết.  
6. Tổng quan vấn đề nghiên cứu  
Đánh giá cao vai trò của thị hiếu thẩm mỹ trong việc giáo dục  
hình thành nhân cách con người, cho nên từ lâu trong lịch sử phát  
triển của mỹ học, nhiều nhà mỹ học nổi tiếng đã đề cập, nghiên cứu  
vấn đề này. Sự nghiên cứu thị hiếu thẩm mỹ cũng như vai trò của  
giáo dục thẩm mỹ ở lớp tuổi trẻ ngày càng được quan tâm nhiều  
5
hơn trong các giai đoạn về sau này, nhất là khi vấn đề xây dựng  
mẫu con người lí tưởng cho xã hội mới xã hội chủ nghĩa được đặt ra.  
Có thể tổng quan vấn đề nghiên cứu có liên quan đến chủ đề của  
luận văn ở 3 khía cạnh chính là: Về giáo dục thẩm mỹ, Về thị  
hiếu thẩm mỹ và Về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh THPT.  
Về giáo dục thẩm mỹ: Các nghiên cứu về giáo dục thẩm  
mỹ và vai trò của giáo dục thẩm mỹ trong việc hình thành lối sống  
con người có thể kể đến các công trình sau:  
Trong các bài giảng mỹ học của Hegel, ông đã đưa ra  
quan điểm về nghệ thuật và sự tự sản sinh ra nhân cách văn hóa.  
Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của mỹ học, Hegel đã coi nghệ  
thuật là sản phẩm của quá trình vận động của tinh thần tuyệt đối và  
đến lượt mình, nghệ thuật trở thành chiếc chìa khóa mở ra các vấn đề  
lớn lao của con người.  
Trong các tư tưởng về mỹ học của mình, Mác, Ăngghen đã đề  
cập sâu sắc đến vai trò của nghệ thuật đối với cuộc đấu tranh  
của nhân loại vì cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Mác - Ăngghen đã đưa ra  
những quan điểm cơ bản nhất về văn hóa thẩm mỹ trong xã hội  
tương lai. Các ông đặc biệt nêu lên vai trò của các quan điểm thẩm  
mỹ trong việc hình thành con người mới, thế giới quan mới và cá  
tính con người.  
Ở Việt Nam, giáo dục thẩm mỹ có thể coi là mảnh đất thu hút  
khá nhiều tâm huyết của các nhà mỹ học, triết học, văn học cũng như  
nghệ thuật học. Một trong số đó có thể kể đến các công trình:  
Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ, Nxb Chính trị  
Quốc gia, Hà Nội, 1995 của tác giả Trần Túy; Vai trò của văn học  
trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ, học viện  
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1996 của tác giả Lê Quang Vinh;  
6
Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước  
ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 của tác giả  
Trần Ngọc Tăng… đã tập trung đề cao vai trò của các yếu tố liên  
quan đến việc hình thành và hoàn thiện môi trường giáo dục thẩm  
mỹ. Các nghiên cứu kể trên đều khẳng định rằng giáo dục thẩm mỹ  
là một nội dung trọng tâm trong sự nghiệp giáo dục nói chung ở  
nước ta hiện nay, và thành quả các hoạt động giáo dục thẩm mỹ có  
mối quan hệ mật thiết với các yếu tố vệ tinh như nghệ thuật, văn học,  
truyền thông đại chúng…Các tác giả đã đưa ra những đóng góp nhất  
định và đi sâu nghiên cứu nội dung lý luận của giáo dục thẩm mỹ và  
quan hệ biện chứng giữa giáo dục thẩm mỹ với các hình thức biểu  
hiện của đời sống thẩm mỹ.  
Về thị hiếu thẩm mỹ: Thị hiếu thẩm mỹ là vấn đề đã được đề  
cập nhiều trong lịch sử mỹ học.  
Ở Việt Nam, thị hiếu thẩm mỹ cũng được các nhà nghiên cứu  
mỹ học, văn học và nghệ thuật học đặc biệt quan tâm. Tiêu biểu  
trong đó có tác phẩm của hai tác giả hàng đầu trong lĩnh vực mỹ học  
hiện nay là PGS.TS Đỗ Văn Khang và GS. Đỗ Huy với các tác phẩm  
viết chung Mỹ học Mác – Lênin, Nxb Đại học và Trung học chuyên  
nghiệp, Hà Nội, 1985; Giáo trình mỹ học cơ sở, Nxb Giáo dục, Hà  
Nội, 2011 và các tác phẩm khác như Giáo trình mỹ học đại cương  
của PGS.TS Nguyễn Văn Huyên chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia,  
Hà Nội, 2004. Các công trình này nhìn chung đã lột tả được bản chất  
của giáo dục thị hiếu thẩm mỹ và đều coi thị hiếu thẩm mỹ là một bộ  
phận quan trọng cấu thành năng lực thẩm mỹ của con người.  
Ngoài các công trình nêu trên, một số nghiên cứu khác như:  
Nâng cao thị hiếu thẩm mỹ trong thưởng thức và đánh giá nghệ  
thuật, Văn hóa nghệ thuật 9/1999, 7-10; luận án tiến sĩ Thị hiếu  
7
thẩm mỹ và vai trò của nó trong đời sống thẩm mỹ, Trung tâm Khoa  
học xã hội và nhân văn quốc gia, Hà Nội, 2000 của tác giả Nguyễn  
Chương Nhiếp và các bài viết được in trong cuốn Thỏa mãn nhu  
cầu văn hóa và nâng cao thị hiếu nghệ thuật, Viện Văn hóa, Nxb  
Văn hóa, Hà Nội, 1987 như: Thị hiếu nghệ thuật và cái mới của Phan  
Kế An, Bàn về giáo dục thị hiếu âm nhạc lành mạnh cho quần chúng  
của Vũ Tự Lân, Mỹ học thực dụng chủ nghĩa nguồn gốc thị hiếu  
nghệ thuật tầm thường ở Mỹ của Trường Lưu, Thế nào là thị hiếu  
nghệ thuật lành mạnh của Lê Đức Nga… Các nghiên cứu đều có  
sự quan tâm tới vai trò của thị hiếu thẩm mỹ trong đời sống thẩm  
mỹ, đời sống nghệ thuật của con người. “Vai trò của thị hiếu thẩm  
mỹ trong đời sống thẩm mỹ chính là sự ảnh hưởng, sự tác động của  
thị hiếu thẩm mỹ đối với đời sống thẩm mỹ”. Nhìn chung, thị hiếu  
thẩm mỹ đã được các nhà nghiên cứu bàn tới nhiều nhưng còn ở  
tầm vĩ mô, cần có thêm những công trình nghiên cứu cụ thể hơn vai  
trò thị hiếu thẩm mỹ đối với từng đối tượng cụ thể.  
Về giáo dục thị hiếu thẩm mỹ nói chung và giáo dục thẩm  
mỹ cho học sinh THPT: Giáo dục thẩm mỹ là vấn đề còn khá  
mới mẻ nhưng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp  
phần nâng cao tư duy thẩm mỹ cho con người nói chung cũng như  
giới trẻ hiện nay. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này chủ yếu khai  
thác trên bình diện lý luận và thực tiễn về văn hóa thẩm mỹ và xây dựng  
lối sống văn hóa. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:  
Nhóm các công trình nghiên cứu thị hiếu thẩm mỹ như một  
công cụ lý luận giáo dục có: Vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ của  
tác giả Lê Anh Trà (in trong cuốn Thỏa mãn nhu cầu văn hóa và  
nâng cao thị hiếu nghệ thuật, Viện Văn hóa, Nxb Văn hóa, Hà Nội,  
1987), Nghệ thuật và vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, Mỹ học  
8
thời nay, 12/10 -1996, của tác giả Nguyễn Chương Nhiếp, Luận án  
tiến sĩ Văn hóa thẩm mỹ với sự hình thành nhân cách của con người  
Việt Nam hiện nay của tác giả Lê Quang Vinh,1996. Mục tiêu  
giáo dục thị hiếu thẩm mỹ là nội dung mà các công trình này  
hướng tới. Các tác giả đều đề cập tới giáo dục thị hiếu thẩm mỹ như  
một nhân tố quan trọng trong hệ thống giáo dục hiện nay, góp  
phần tích cực trong việc hình thành nhân cách, nâng cao khiếu  
thẩm mỹ cho con người.  
Nhóm các công trình nghiên cứu thị hiếu thẩm mỹ trong  
vai trò giáo dục thế hệ trẻ như: Luận án tiến sĩ Văn hóa thẩm mỹ và  
việc xây dựng lối sống cho thanh niên đô thị của nước ta hiện nay  
của Hồ Thị Tuyết Dung, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,  
1998; Bàn thêm về nội dung và hình thức giáo dục thị hiếu thẩm mỹ  
cho học sinh, sinh viên hiện nay, Tạp chí Khoa học và Công nghệ,  
Đại học Đà Nẵng, số 5(40), 2010 của hai tác giả Lê Hữu Ái và Đinh  
Đức Hiền đề tài Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh qua vẻ đẹp  
của tranh dân gian Đông Hồ trên trang web http://webtailieu.org.  
Giáo dục cái đẹp trong gia đình” – Nguyễn Ánh Tuyết – NXB  
Phụ nữ, 1984: Nêu những nét đặc trưng trong sự phát triển tâm lí của  
trẻ và gợi ý về nội dung giáo dục cái đẹp trong gia đình. Những hiểu  
biết bước đầu nền giáo dục thẩm mỹ trong gia đình qua từng lứa tuổi  
từ lúc lọt lòng cho tới khi bước vào tuổi thành niên.  
“Về giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay” – Vĩnh Quang Lê –  
NXB Chính trị quốc gia, 1999: Nêu đặc trưng của giáo dục thẩm mỹ  
và vấn đề xây dựng con người mới ở nước ta, đặc trưng và vai trò của  
văn học trong giáo dục thẩm mỹ.  
“Giáo trình Mỹ học đại cương” – Dùng cho học viên cao học  
và nghiên cứu sinh ngành mỹ học – Trường Đại học Khoa học xã hội  
9
và nhân văn, khoa triết học- NXB Chính trị quốc gia, 2004: Giáo  
trình trình bày về qúa trình hình thành và phát triển quan niệm về cái  
đẹp, cái thẩm mỹ, tính khách quan và tính xã hội của cái thẩm mỹ,  
cái đẹp, cái bi kịch, cái hài kịch, cái trác tuyệt, các loại hình nghệ  
thuật như: nghệ thuật ứng dụng, kiến trúc, nghệ thuật tạo hình, âm  
nhạc, sân khấu và điện ảnh, giáo dục thẩm mỹ vì sự phát triển của  
con người.  
“Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ” – Trần Tuý  
– NXB Chính trị quốc gia, 2005: Phân tích vai trò của nghệ thuật  
trong việc phát triển nhân cách, hình thành xúc cảm, thị hiếu, lý  
tưởng thẩm mỹ lành mạnh, đúng đắn; sự tác động của nghệ thuật với  
công chúng; nêu một số thực trạng, đề xuất những giải pháp nâng cao  
vai trò nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ.  
“Thị hiếu thẩm mỹ của người Việt qua ca dao” – Nguyễn Thị  
Thu Hà – Tạp chí khoa học, Số 2, tr 6-11, 2007, là công trình nghiên cứu  
nhằm tìm hiểu thêm về đặc điểm ý thức thẩm mỹ, quan niệm thẩm mỹ  
của cha ông, hiểu thêm về đời sống tinh thần, về văn hoá Việt Nam.  
Tình yêu cái đẹp thiên nhiên thể hiện lối sống của người Việt vốn gần  
gũi, thân thiết với thiên nhiên, gắn bó với thiên nhiên. Đối với người  
Việt Nam cái đẹp gắn với phẩm chất đạo đức của con người.  
Báo cáo nghiên cứu khoa học “Bàn thêm về nội dung và hình  
thức giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh, học sinh THPT hiện  
nay” – Lê Hữu Ái – Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà  
Nẵng – số 5(40).2010. Nội dung của báo cáo bàn về vấn đề: Giáo dục  
thị hiếu thẩm mỹ là một trong những nội dung quan trọng của chiến  
lược giáo dục hiện nay. Bài viết chỉ ra những đặc trưng cơ bản trong  
việc giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, chỉ ra các nội dung và hình thức giáo  
dục thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh THPT trong hệ thống giáo dục ở  
10  
nước ta. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hình thành thị hiếu thẩm  
mỹ lành mạnh cho đối tượng này.  
Nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ có công trình  
nghiên cứu“Thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh”,  
TS.Nguyễn Thị Hậu, Nxb Văn hóa Văn nghệ, 2013. Tuy nhiên, công  
trình này chỉ tập hợp các bài viết riêng lẻ về một số vấn đề của thị  
hiếu thẩm mỹ. Vì thế, chưa đảm bảo tính xuyên suốt, hệ thống. Các  
nội dung còn mang tính khái quát với đánh giá chung chung.  
Các tác giả đều cho thấy giáo dục thị hiếu thẩm mỹ là nội dung  
quan trọng của chiến lược giáo dục hiện nay. Các nghiên cứu chỉ ra  
những đặc trưng cơ bản trong việc giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, chỉ ra  
các nội dung và hình thức của giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho học  
sinh, sinh viên hiện nay, tuy nhiên đối tượng học sinh, sinh viên các  
nghiên cứu này nhắm tới đều chung chung, chưa cụ thể.  
“Về vấn đề giáo dục thẩm mỹ của học sinh THPT ở tỉnh Quảng  
Nam, cho đến nay, vẫn chưa có bất kì một công trình nghiên cứu nào đề  
cập đến. Đứng trước một số biểu hiện lệch lạc về thị hiếu thẩm mỹ của  
một bộ phận học sinh THPT, tôi nhận thấy giáo dục thẩm mỹ là một  
vấn đề quan trọng. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước sẽ  
là cơ sở, là tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho tác giả trong quá trình triển  
khai nghiên cứu đề tài của mình.  
11  
CHƢƠNG 1  
THẨM MỸ VÀ GIÁO DỤC THẨM MỸ  
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM MỸ  
1.1.1. Các quan niệm thẩm mỹ trong lịch sử  
Về mặt lịch sử, từ xưa tới nay, quan niệm về thẩm mỹ, về cái  
đẹp được bàn luận rất nhiều, song chưa đi đến một quan điểm thống  
nhất.  
Nhờ vào quá trình lao động cải tạo tự nhiên, cải tạo bản thân  
con người dần phát hiện và nhận thức ra quy luật phổ biến của cái  
đẹp khi con người đối chiếu, so sánh, nhận xét rằng: xấu thì con  
người đã nhận thức ra cái đẹp và dùng từ cái đẹp để chỉ bất cứ điều gì  
dấy lên ở con người những xúc cảm và những cảm hứng tốt đẹp.  
Con người là chủ thể có ý thức, có khả năng cảm nhận được  
những cái hay, cái đẹp và cái xấu xí của sự phát triển đa dạng đó. Cái  
nào đẹp được con người nâng niu, phát triển, cái nào xấu xí bị bác  
bỏ, bị loại trừ, đó là năng lực thuộc về bản chất của loài người.  
Thẩm mỹ theo tiếng Hán: “thẩm”: xem xét “mỹ”: đẹp Do đó  
Thẩm mỹ là hiểu biết và thưởng thức cái đẹp.  
Cái đẹp giữ vị trí trung tâm trong đời sống thẩm mỹ, vì vậy nó  
là phạm trù của mỹ học. Phạm trù cái đẹp được hình thành và phát  
triển cùng với sự hình thành và phát triển của tình cảm và ý thức con  
người.  
Sự phát triển của quan điểm mỹ học về "cái đẹp" trong lịch sử  
tư tưởng mỹ học đã đưa đến một khái niệm mang tính bao quát, trừu  
tượng về "cái đẹp". Sự phát triển quan niệm về "cái đẹp" đồng thời  
cũng là quá trình đấu tranh tư tưởng của hai chủ nghĩa duy vật và duy  
tâm trong triết học. Trên cơ sở thế giới quan khác nhau, các nhà tư  
12  
tưởng đã lý giải về "cái đẹp" và bản chất "cái đẹp" trên những lập  
trường khác nhau. “Trong tư tưởng mỹ học trước Mác, có ba quan  
niệm khác nhau về cái đẹp, ba nguyên tắc để giải quyết vấn đề "cái  
đẹp": theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan, chủ nghĩa duy tâm khách  
quan và theo chủ nghĩa duy vật trước Mác” [6:tr 244].  
Những nhà duy tâm khách quan cho rằng nguồn gốc cái đẹp là  
ý niệm khách quan, ý niệm này truyền linh hồn cho vật chất bất động,  
cho thế giới thuộc phạm vi cảm tính và vô vị về mặt thẩm mỹ.  
Chủ nghĩa duy vật trước Mác cho rằng “cái đẹp là một phẩm  
chất thẩm mỹ tự nhiên, vốn có trong các hiện tượng của hiện thực”  
[6:tr 246].  
1.1.2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về thẩm mỹ  
Mỹ học Mác – Lênin tiếp thu trên tinh thần phê phán các tư  
tưởng mỹ học trong lịch sử. Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng  
và duy vật lịch sử, đã khẳng định nguồn gốc, bản chất của quan hệ  
thẩm mỹ: Quan hệ thẩm mỹ là kết quả của quá trình hoạt động sản  
xuất vật chất và đấu tranh xã hội, nó chính là quá trình phát hiện, cảm  
thụ các thuộc tính thẩm mỹ của thế giới và sáng tạo ra những giá trị  
thẩm mỹ trong đời sống văn hoá nghệ thuật của con người.  
Theo mỹ học Mác - Lênin. Thẩm mĩ là phạm trù triết học nói  
về cái đẹp khách quan của tự nhiên, xã hội và con người.  
1.2. VẤN ĐỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ  
1.2.1. Quan niệm về giáo dục thẩm mỹ  
Trên phương diện là một bộ môn khoa học, giáo dục được hiểu  
là quá trình hoạt động có ý thức có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi  
dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức, những tri thức cần  
thiết về tự nhiên và xã hội cũng như những kỹ năng, cần thiết cho đời  
sống. Như vậy, ngoại diên của khái niệm giáo dục không chỉ dừng lại  
13  
ở những tri thức về tự nhiên và xã hội, mà còn bồi dưỡng cho con  
người những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết phục vụ đời sống con người.  
1.2.2. Vai trò của giáo dục thẩm mỹ  
Giáo dục thẩm mĩ là quá trình hình thành cho học sinh năng  
lực nhận thức, thưởng ngoạn, đánh giá, sáng tạo và hành động theo  
cái đẹp. Vì vậy giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trong của nền  
giáo dục phổ thông, đó là quá trình hoạt động chung của nhà giáo dục  
và người được giáo dục nhằm hình thành và phát triển ở người được  
giáo dục những quan hệ thẩm mỹ đúng đắn với hiện thực bằng cách  
thông qua các phương tiện thẩm mỹ, đặc biệt là phương tiện nghệ  
thuật nhằm góp phần phát triển nhân cách toàn diện hài hoà cho  
người được giáo dục.  
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1  
Thẩm mỹ là một trong những hình thái ý thức xã hội, có quan  
hệ biện chứng khăng khít với ý thức đạo đức. Sự hình thành ý thức  
đạo đức sẽ bị chi phối, tác động bởi ý thức thẩm mỹ. Trong đó những  
lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp trở thành nhân tố tích cực trong phát triển  
con người mới. Nói một cách khác hơn, ý thức thẩm mỹ có sự tác  
động sâu xa đến tất cả các thuộc tính của nhân cách: Cả khí chất,  
năng lực, xu hướng và tính toán, góp phần tạo nên một nhân cách  
phát triển cho mỗi cá nhân với những đặc trưng vừa đáp ứng yêu cầu  
của xã hội hiện nay vừa hướng tới việc hình thành con nguời mới xã  
hội chủ nghĩa.  
14  
CHƢƠNG 2  
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO HỌC SINH  
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẢNG NAM HIỆN NAY.  
2.1. CÔNG TÁC GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO HỌC SINH  
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY  
2.1.1. Đặc điểm kinh tế- xã hội và đặc thù của học sinh trung  
học phổ thông ở Quảng Nam  
* Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam  
Quảng Nam nằm ở khu vực miền trung Việt Nam, cách thủ đô  
Hà Nội 883 km về phía Nam, cách thành phố Đà Nẵng 68 km về  
phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 887 km về phía Bắc theo  
đường Quốc Lộ 1A. Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế và thành  
phố Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum,  
phía Tây giáp tỉnh Sekong (Lào), phía Đông giáp Biển Đông.  
* Nét đặc thù của học sinh trung học phổ thông ở Quảng Nam:  
Quảng Nam là vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời , vùng  
đất hiếu học “ Ngũ phụng tề phi” . Người Quảng Nam vốn cần cù,  
chịu khổ, chịu khó lại rất thật thà, chất phát, ăn mặc giản dị, kín đáo  
nhưng gần gũi với thiên nhiên và rất đa dạng về hình thức sinh hoạt  
văn hóa, đồng thời có hai di sản văn hóa là, đô thị cổ Hội An và khu  
đền tháp Mỹ Sơn được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới,  
cùng nhiều di tích văn hóa, lễ hội và các món ăn truyền thống. Sự đa  
dạng trong sinh hoạt văn hóa của các đồng bào ít người,  
2.1.2. Nội dung và hình thức giáo dục thẩm mỹ cho học sinh  
trung học phổ thông ở tỉnh Quảng Nam hiện nay  
* Nội dung giáo dục thẩm mỹ:  
Giáo dục thẩm mỹ về cơ bản là có định hướng, có kế hoạch  
15  
nhằm nâng cao thẩm mỹ của từng chủ thể thẩm mỹ, để từ đó định  
hướng cho chủ thể thẩm mỹ hoạt động thụ hưởng và sáng tạo thẩm  
mỹ theo quy luật của cái đẹp. Căn cứ vào cấu trúc của thẩm mỹ, thì  
nội dung giáo dục thẩm mỹ được thể hiện trên các mặt cơ bản sau:  
Giáo dục xúc cảm thẩm mỹ  
Giáo dục tình cảm thẩm mỹ  
Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ  
Giáo dục quan điểm thẩm mỹ và lý tưởng thẩm mỹ  
Giáo dục tri thức thẩm mỹ  
*Phương pháp giáo dục thẩm mỹ cho học sinh phổ thông  
trung học ở tỉnh Quảng Nam  
Trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin và đặc biệt là kế  
thừa những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thẩm mỹ cho thế  
hệ trẻ; kế thừa và phát huy những thành quả của các lĩnh vực giáo dục  
khác, căn cứ vào đặc điểm là những nội dung cơ bản của giáo dục ý  
thức thẩm mỹ, phương pháp giáo dục thẩm mỹ cho học sinh phổ  
thông trung học được xây dựng trên những hình thức cơ bản như sau:  
Giáo dục thẩm mỹ bằng lao động  
Giáo dục thẩm mỹ thông qua các môn học  
Giáo dục bằng sách báo, văn hóa và nghệ thuật.  
Giáo dục thẩm mỹ bằng gương điển hình tiên tiến  
Giáo dục bằng môi trường thẩm mỹ hóa  
Giáo dục tổng hợp.  
2.2. THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ THẨM MỸ CỦA HỌC  
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở QUẢNG NAM HIỆN NAY  
2.2.1. Yếu tố tích cực trong nhận thức về thẩm mỹ của học  
sinh trung học phổ thông ở tỉnh Quảng Nam  
Về cơ bản ở tỉnh Quảng Nam nói chung và giáo dục THPT  
16  
Quảng Nam nói riêng đã nhận thức được vai trò, vị trí và tầm quan  
trọng của việc giáo dục mỹ cho học sinh là một nhiệm vụ trong trong  
nhiệm vụ giáo dục THPT nói chung. Từ nhận thức đó, đã và đang cố  
gắng xây dựng và phát triển hài hòa các chương trình, kế hoạch ngoại  
khóa nhằm phát triển đời sống tinh thần cho học sinh, bước đầu gắn  
việc giáo dục thẩm mỹ vào chương trình dạy học các bộ môn, xây  
dựng và nâng cao các mối quan hệ phối hợp với các ngành chức năng  
trong việc giáo dục học sinh.  
2.2.2. Những hạn chế trong nhận thức về thẩm mỹ và công tác  
giáo dục thẩm mỹ  
* Về nhận thức thẩm mỹ của học sinh  
Bên cạnh những mặt tích cực thì thẩm mỹ của học sinh Quảng  
Nam gần đây đã có một số biểu hiện cần quan tâm lưu ý. Theo kết quả  
của cuộc khảo sát, có một số lượng không nhỏ học sinh, chỉ chạy theo số  
đông, a dua theo trào lưu (11%). Với câu hỏi “thẩm mỹ của em được  
hình thành như thế nào, đã từng được tư vấn, định hướng về thị hiếu  
thẩm mỹ chưa?”, theo khảo sát, có14,8% học sinh khẳng định chưa bao  
giờ được tư vấn, định hướng về thị hiếu thẩm mỹ. Như vậy có thể nói,  
một số lượng không nhỏ học sinh được hỏi đều gặp khó khăn trong việc  
tìm sự định hướng về thẩm mỹ.  
*Vấn đề giáo dục thẩm mỹ ở các trường THPT ở tỉnh Quảng  
Nam  
Trong hệ thống bộ môn và các bài giảng tại trường các trường  
THPT hiện nay, không có bộ môn hay bài giảng nào liên quan trực  
tiếp đến vấn đề giáo dục thẩm mỹ. Nhiều giáo viên còn nhận thức  
đồng nhất giáo dục thẩm mỹ với dạy học các môn nghệ thuật, đồng  
nhất giữa thẩm mỹ và nghệ thuật nên chưa có sự giáo dục thẩm mỹ  
thông qua hệ thống bài giảng các bộ môn khoa học khác. Các giờ dạy  
17  
trên lớp chủ yếu dừng lại ở việc nghiên cứu lý thuyết, chưa dạy học  
bằng thực tế…Các dữ liệu điện tử hình ảnh như đĩa VCD, băng hình,  
file dữ liệu số chưa đa dạng, phong phú và tập trung đi sâu vào vấn  
đề thẩm mỹ.  
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2  
Trong quá trình đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường,  
con người Việt Nam từng buớc được năng động hóa. Sự giao lưu  
kinh tế, văn hóa giiuwax nước ta và các nước trên thế giới ngày càng  
sâu sắc, nhiều địa phương đã trở thành điểm giao lưu văn hóa, trong  
đó có Quảng Nam. Do đónhững giá trị văn hóa thẩm mỹ tốt và xấu  
được du nhập vào nước ta. Bởi vậy bản thân mỗi cá nhân tự điều  
chỉnh mình để thích hợp với cơ chế mới, đã kích thích sự năng động  
tích cực của mỗi cá nhân, tạo ra một động thái xã hội mang tính sáng  
tạo. Tuy nhiên trong quá trình điều chỉnh ấy, có khi lại thái quá, dẫn  
đến cuộc đua tranh làm giàu bằng mọi giá có thể dẫn đến sự tàn nhẫn  
vô sỉ trong tính toán, nghèo nàn, đơn điệu về nội tâm, trống rỗng về  
tâm hồn, phá hủy những giá trị văn hóa, đặc biệt là văn hóa thẩm mỹ.  
Ở một số bộ phận, hiện nay có những nguời hướng vào những lợi ích  
cá nhân thực dụng, thờ ơ với lý tưởng chính trị - xã hội. Trong nhu  
cầu và thị hiếu, đã xuất hiện tâm lý của xã hội tiêu thụ… Thêm vào  
đó, có rất nhiều thanh niên quên đi những cái đẹp chân chính trong  
nghệ thuật, trong giá trị đạo đức truyền thống để tiếp thu cái gọi là  
“văn hóa ngoại lai”, “thẩm mỹ nước ngoài” để tạo thành thị hiếu cho  
bản thân. Ở họ, “cái đẹp” ở đây chính là ăn mặc hớ hênh, ăn nói “có  
gu”, sống chỉ biết mình, thờ ơ, vô cảm trước mọi vấn đề của xã hội…  
Nền đạo đức cũng vì thế mà xuống cấp trầm trọng, tồn tại ở trong tất  
cả ngành nghề, lĩnh vực. Trong quá trình đó, chúng ta cần coi trọng  
18  
giáo dục thẩm mỹ, hình thành ở họ tình cảm, thị hiếu, lý tưởng thẩm  
mỹ đúng đắn, phù hợp với những giá trị của dân tộc, thúc đẩy họ  
vươn tới cái đẹp và hành động theo cái đẹp. Tuy nhiên, trong những  
năm qua công tác giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thị hiếu nghệ thuật còn  
nhiều hạn chế.  
Để khắc phục tình trạng lệch lạc thị hiếu, sai lệch trong năng  
lực cảm thụcần phải phát huy tối đa năng lực thẩm mỹ tiềm ẩn trong  
con người họ, làm cho đời sống của họ thêm đa dạng, phong phú, tạo  
động lực thúc đẩy họ tích cực tham gia các hoạt động lành mạnh của  
xã hội. Từ đó hình thành nên nhân cách tốt, con người có ích cho xã  
hội. Đây là một trong những nhân tố quan trọng trong việc hình thành  
con người mới - con người xã hội chủ nghĩa.  
Vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho học sinh các trường THPT ở  
tỉnh Quảng Nam trong nhiều năm qua đã có sự chuyển biến và đạt  
được những thành quả đáng khích lệ. Tuy nhiên vẫn còn nhiều những  
tồn tại cần khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa ý thức thẩm mỹ của  
học sinh THPT ở tỉnh Quảng Nam trong công cuộc xây dựng con  
người ở nước ta hiện nay.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 13480 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho học sinh Trung học phổ thông ở tỉnh Quảng Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_van_de_giao_duc_tham_my_cho_hoc_sinh_trung.pdf