Luận văn Tội đánh bạc theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
HOÀNG THỊ YẾN  
TỘI ĐÁNH BẠC THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆTNAM  
VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN  
TỈNH TUYÊN QUANG  
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự  
Mã số: 8380104  
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM MINH TUYÊN  
HÀ NỘI, 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các  
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào  
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,  
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán  
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Viện khoa học xã hội - Hà Nội.  
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể  
bảo vệ Luận văn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
NGƢỜI CAM ĐOAN  
HOÀNG THỊ YẾN  
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU: ..................................................................................................................1  
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI ĐÁNH BẠC THEO  
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ......................................................................6  
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý tội đánh bạc................................................ 6  
1.2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Luật hình sự Việt Nam về tội  
đánh bạc. ...................................................................................................................15  
1.3. Tội đánh bạc trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới ......................20  
CHƢƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN  
HÀNH VỀ TỘI ĐÁNH BẠC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH TUYÊN  
QUANG........................................................................................................................  
2.1. Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 ..........................................24  
2.2. Thực tiễn áp dụng tội đánh bạc trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. ......................27  
2.3. Những vướng mắc trong lập pháp hình sự và thực tiễn khi giải quyết vụ án ...50  
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ÁP DỤNG CÁC  
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI ĐÁNH BẠC 61  
3.1. Giải pháp pháp luật tiếp tục hoàn thiện quy định Pháp luật hình sự Việt Nam về  
tội đánh bạc .............................................................................................................. 61  
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự về  
tội đánh bạc theo Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành. ..........................................65  
KẾT LUẬN .............................................................................................................80  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................81  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
“Cờ bạc là bác thằng bần; cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm” đây là  
câu nói dân gian mà mọi người trong xã hội luôn truyền tụng cho nhau. Đó  
cũng là bài học vừa mang tính dạy dỗ, vừa để răn đe mà thế hệ đi trước muốn  
để lại cho thế hệ sau này. Nó cũng nói lên hệ qủa tất yếu của tệ nạn đánh bạc  
gây tan vỡ gia đình, đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng. Bên cạnh đó, cờ  
bạc là nguồn phát sinh của nhiều loại tội phạm như: Tội phạm trộm cắp, lừa  
đảo, gây rối trật tự .Chính vì lẽ đó, ngay từ khi mới ra đời Nhà nước ta luôn  
coi trọng vấn đề bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, đồng thời không  
ngừng đổi mới, hoàn thiện việc tổ chức và quản lý lĩnh vực này.  
Nghiên cứu số liệu thống kê những vụ đánh bạc bị phát hiện và xử lý của  
Công an tỉnh Tuyên Quang cho thấy 5 năm qua từ năm (2013 – 2017) trung  
bình mỗi năm trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có khoảng 200 vụ đánh bạc với  
khoảng 1000 người thực hiện hành vi đánh bạc bị phát hiện và xử lý, cụ thể năm  
2013 triệt phá 163 vụ với 960 đối tượng, khởi tố 42 vụ xét xử 337 bị can, xử lý  
hành chính 121 vụ 662 đối tượng, Năm 2014 triệt phá 210 vụ với 1225 đối  
tượng, khởi tố 58 vụ xét xử 369 bị can, xử lý hành chính 139 vụ 856 đối tượng,  
năm 2015triệt phá 208 vụ với 1168 đối tượng, khởi tố 69 vụ xét xử 490 bị can,  
xử lý hành chính 139 vụ 678 đối tượng, năm 2016 triệt phá 162 vụ với 928 đối  
tượng, khởi tố 29 vụ xét xử 197 bị can, xử lý hành chính 133 vụ 731 đối tượng;  
cao điểm nhất là năm 2017 triệt phá 254 vụ và 1544 đối tượng, khởi tố 57 vụ xét  
xử 467 bị can, xử lý hành chính 197 vụ 1077 đối tượng,  
Tuy nhiên, cần nhận thức rằng vấn đề xây dựng và quản lí trật tự công  
cộng, an toàn công cộng là bộ phận của quá trình xây dựng và quản lí trật tự  
xã hội mới. Qúa trình này đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng về cơ sở vật  
chất kỹ thuật đồng bộ và hiện đại, về đội ngủ cán bộ quản lí có trình độ  
chuyên môn cao và phẩm chất chính trị tốt. trong điều kiện hiện nay việc xây  
dựng và quản lí trật tự xã hội mới cần phải được tiến hành từng bước, có sự  
1
tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác, cũng như kết hợp hài hòa yếu  
tố phòng ngừa và yếu tố xử lý nghiêm khắc các hành vi xâm phạm an toàn,  
trật tự công cộng và trật tự quản lí hành chính. Bên cạnh việc dùng biện pháp  
hành chính, kinh tế, thuyết phục giáo dục, biện pháp hình sự được coi là biện  
pháp cần thiết góp phàn bảo vệ an toàn, trật tự công cộng.Trên cơ sở kinh  
nghiệm thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự 1985 trong đấu tranh  
phòng chống các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Bộ luật  
hình sự 1999 đã quy định về các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công  
cộng một cách chặt chẽ, toàn diện và phù hợp với chính sách hình sự của  
Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay ( chương XIX với 55 điều luật  
quy định về các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng ). Chính  
sách hình sự của Nhà nước ta đối với các tội xâm phạm an toàn công cộng,  
trật tự công cộng về cơ bản vẫn kế thừa những tư tưởng pháp luật đã được thể  
hiện tại chương VIII Bộ luật hình sự 1985, bên cạnh tính nghiêm khắc trong  
xử lí, Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định hình phạt tiền là hình phạt chính  
đối với nhiều tội ( 29 điều trong tổng số 55 điều trong chương XIX). So với  
quy định tại chương VIII Bộ luật hình sự 1985, chương XIX Bộ luật hình sự  
1999 đã quy định nhiều tội phạm mới đáp ứng yêu cầu bảo vệ trật tự, an toàn  
công cộng trong giai đoan hiện nay. Có thể nói Bộ luật hình sự năm 1999 nói  
chung và chương XIX các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng  
nói riêng đã kế thừa, phát triển Bộ luật hình sự 1985 đồng thời sửa đổi, hoàn  
thiện một cách có hệ thống, toàn diện các tội phạm cụ thể xâm phạm an toàn  
công cộng, trật tự công cộng, đánh dấu bước tiến quan trọng trong lịch sử lập  
pháp hình sự Việt Nam, đặt cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đấu tranh  
phòng chống tội phạm có hiệu qủa.  
Trong Bộ luật hình sự Việt Nam 1999, tội đánh bạc được quy định tại  
Điều 248 chương XIX . Đây là tội xâm phạm nghiêm trọng đến an toàn công  
cộng, trật tự công cộng. Hậu qủa của nó đối với xã hội là vô cùng to lớn và  
diễn biến của nó càng ngày càng phức tạp. Vì vậy trong giai đoạn hiện nay,  
2
việc nghiên cứu những đặc điểm, bản chất cơ bản của tội đánh bạc để hoàn  
thiện điều luật là rất cần thiết. Công việc này hết sức khó khăn và phức tạp, nó  
không đơn giản chỉ là công việc của các nhà lập pháp, mà nó cần sự đóng góp ý  
kiến rất lớn từ phía cử tri trong cả nước, để họ có nhiều tình huống dự liệu thực  
tế và từ đó họ chọn ra những phương pháp tối ưu nhất. Đây cũng là lý do người  
viết chọn đề tài “Tội đánh bạc trong luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn trên địa  
bàn tỉnh Tuyên Quang” nhằm làm rõ những khó khan, vướng mắc mà các cơ  
quan chính quyền địa phương đang phải đối mặt để tìm ra giải pháp chống lại  
loại tội phạm này, đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm phần nào hoàn thiện  
hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả của công tác phòng chống đó.  
2  T nh h nh n hien c u liên quan đến đề tài  
Trong những năm gần đây, đã có không ít những công trình nghiên cứu, công  
trình khoa học của các tác giả về tội đánh bạc cũng như các giáo trình, sách tham  
khảo, bình luận, bài viết trên nhiều phương tiện thông tin khác nhau. Trong đó, nổi  
bật là các công trình sau:  
1) Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội.  
2) Luận văn Thạc sĩ “Tội đánh bạc theo Luật hình sự Việt Nam và thực tiễn  
xét xử trên địa bàn tỉnh Hòa Bình” của Ths. Bùi Minh Giang.  
3) Bài viết “Tội Đánh bạc - những vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn  
4) Bài viết “Điểm mới về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc và tội  
rửa tiền theo quy định của BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015” của ông Dương  
Tấn Thanh - TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (http://tapchitoaan.vn).  
Tuy nhien, các cong trình nghien cứu đã nen tren chỉ tập trung bình luạn các  
dấu hi u pháp lý của tội phạm mà chưa tập trung nghiên cứu tình hình thực tiễn của  
loại tội phạm này tại địa bàn cụ thể là tỉnh Tuyên Quang.  
3  Mục đích và nhiệm vụ n hiên c u  
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật Việt Nam về tội  
đánh bạc, phân tích thực trạng áp dụng các quy định đó tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang,  
3
chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong quá trình áp dụng pháp luật, qua đó đưa ra được  
các kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa quy định của pháp luật về Tội đánh bạc.  
4  Đối tƣợn  và phạm vi n hiên c u  
Trong phạm vi Luận văn này, tác giả chỉ tập trung vào các nội dung sau: khái  
quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến  
tội phạm đánh bạc, phân tích rõ quy định hiện hành của Pháp luật về loại tội phạm  
này, nêu lên tình hình, diễn biến của tội phạm đánh bạc hiện nay trong phạm vi cả  
nước nói chung và phạm vi tỉnh Tuyên Quang nói riêng. Từ nhưng phân tích đó,  
giúp cho người đọc thấy được tính phức tạp của loại tội phạm này, đồng thời đưa ra  
những kiến nghị hợp lý nhằm tiến tới phòng, chống tội phạm đánh bạc và nâng cao  
hiệu quả trong việc áp quy các quy định của pháp luật vào thực tế.  
5. Cơ sở lý lý luận và phƣơn  pháp n hiên c u  
5.1. Phƣơn  pháp n hiên c u  
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Tội đánh bạc theo  
pháp luật hình sự Việt Nam, những dấu hiệu pháp lý và quy định cụ thể của pháp  
luật trong mối quan hệ với các quy định về các tội phạm liên quan khác.  
Đồng thời, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng tội đánh bạc hiện nay trên  
toàn quốc nói chung và tại tỉnh Tuyên Quang nói riêng, nêu rõ tính chất phức tạp,  
quy mô, các loại hình đánh bạc phổ biến hiện nay.  
Từ những phân tích nêu trên, đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy  
định của pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc phòng, chống tệ nạn đánh bạc  
cũng như việc áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tiễn.  
5 2  Phƣơn  pháp n hiên c u  
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-  
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà  
nước và Pháp luật kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khác bao gồm  
phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội và các phương pháp nghiên  
cứu riêng của luật học nhằm đạt được hiệu quả và mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.  
- Phương pháp tổng hợp: Sử dụng để khái quát tổng quan nội dung nghiên cứu  
nhằm xây dựng vấn đề một cách hệ thống, dễ hiểu, giúp người đọc có được góc  
nhìn tổng thể về vấn đề.  
4
- Phương pháp phân loại: dùng khi phân loại các hình thức đánh bạc.  
- Phương pháp đánh giá: phương pháp này được dùng khi đánh giá mức độ  
phức tạp, tính chất của các hình thức đánh bạc phổ biến hiện nay.  
- Phương pháp phân tích: phương pháp này được sử dụng để làm sáng tỏ  
những quy định của pháp luật liên quan đến các vấn đề về tội đánh bạc; phân tích  
nguyên nhân, đặc điểm, tính chất về thực trạng đánh bạc tại tỉnh Tuyên Quang.  
- Phương pháp liệt kê: dùng khi liệt kê một số vụ án đánh bạc tiêu biểu tại tỉnh  
Tuyên Quang.  
Bên cạnh đó, luận văn có sử dụng một số phương pháp khác và có tham khảo,  
kế thừa và sử dụng các kết quả nghiên cứu khoa học của các tác giả đã nghiên cứu  
trước đó.  
6  Ý n hĩa lý luân và thực tiễn  
Đây là công trình chuyên khảo trong khoa học pháp lý Việt Nam ở cấp độ  
luân văn thạc sĩ luật học nghiên cứu tương đối toàn diện hộ thống về tội đánh  
bạc trên cả phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Tuyên Quang.  
Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa  
học của Luận văn:  
- Xây dựng khái niệm về tội đánh bạc và khái quát lịch sử hình thành về  
tội đánh bạc,  
- Đánh giá thực tiễn xét xử tội đánh bạc trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.  
Đề xuất giải pháp áp dụng quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện  
hành về tội đánh bạc.  
7  Kết cấu của luân văn  
Đề tài gồm: Phần mở đầu, 3 chương, kết luận, tài liệu tham khảo, cụ thể như sau:  
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tội đánh bạc theo pháp luật Hình sự Việt  
Nam.  
Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành tội đánh bạc từ  
thực tiễn tỉnh Tuyên Quang.  
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng các quy định của pháp  
luật Hình sự Việt Nam về tội đánh bạc.  
5
CHƢƠNG 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI ĐÁNH BẠC THEO PHÁP LUẬT  
HÌNH SỰ VIỆT NAM  
1.1, Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý tội đánh bạc  
1.1.1 Khái niệm tội đánh bạc.  
Hành vi đánh bạc được xem là tội phạm từ khi Nhà nước ta ban hành Sắc  
lệnh số 168-SL ngày 14/4/1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng  
hòa về việc ấn định cách trừng trị tội đánh bạc. Kế đến, tội đánh bạc, tổ chức đánh  
bạc hoặc gá bạc được quy định tại Điều 200 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985.  
BLHS năm 1999 đã quy định theo hướng tách tội đánh bạc với tội tổ chức đánh  
bạc thành hai điều luật riêng, mà theo đó, tội đánh bạc được quy định tại Điều 248  
và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc quy định tại Điều 249 BLHS. Do sự phát triển  
của tình hình kinh tế, xã hội nước ta nên ngày 19/6/2009 tại kỳ họp thừ 5 Quốc  
hội khóa XII, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS  
năm 2009, trong đó đã sửa đổi, bổ sung tội đánh bạc. Nội dung sửa đổi, bổ sung  
Điều 248 BLHS chủ yếu mức tiền đánh bạc, còn về cơ bản các dấu hiệu cấu thành  
tội đánh bạc được giữ nguyên.  
“Điều 248. Tội đánh bạc”  
1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay  
hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai  
triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật  
này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến  
năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng  
đến ba năm.  
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm  
đến bảy năm:  
a) Có tính chất chuyên nghiệp;  
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;  
c) Tái phạm nguy hiểm.  
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.”  
6
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội đánh bạc  
a,. Khách thể của tội phạm.  
Khách thể của tội phạm nói chung là những mối quan hệ xã hội được pháp luật  
hình sự bảo vệ. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, dễ dẫn đến những hậu quả nghiêm  
trọng khác, như trộm cắp, cố ý gây thương tích, giết người nhằm cướp tài sản, lừa  
đảo chiếm đoạt tài sản… Theo pháp luật hình sự Việt Nam thì tội đánh bạc trực tiếp  
xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, cản trở việc tuân thủ  
các quy phạm pháp luật và quy phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng  
nghiêm trọng đến đời sống tinh thần và cả vật chất của người dân trong xã hội. Đối  
với bản thân người đó, lúc nào cũng sống trong tình trạng lo âu, căng thẳng, chỉ  
nghĩ đến việc được thua, từ đó không có tinh thần nghĩ đến làm việc, cống hiến cho  
gia đình và xã hội. Đối với người thân, gia đình của những người đánh bạc, họ luôn  
sống trong nỗi lo âu, phiền muộn, lo lắng rằng người thân của mình ham mệ cờ bạc,  
lo lắng người thân của mình sẽ sa vào các tệ nạn xã hội hoặc trở thành tội phạm,  
vướng vào vòng lao lý.  
-
Mặt khách quan của tội phạm.  
Thứ nhất, về hành vi khách quan của tội phạm.  
Hành vi khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài của tội  
phạm, được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Hành vi khách  
quan của tội đánh bạc cũng có những đặc điểm cơ bản chung là: Hành vi có tính  
nguy hiểm cho xã hội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho trật tự công cộng  
được pháp luật bảo vệ; là hành vi trái pháp luật; là hoạt động có ý thức và ý chí. Đặc  
điểm của tội đánh bạc là mang tính nhiều người (ít nhất cũng phải từ hai người trở  
lên) tham gia thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào mang tính sát phạt, được thua  
bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ năm triệu đồng trở lên. Do vậy, dấu hiệu định  
lượng tài sản là dấu hiệu quan trọng và cơ bản nhất của tội đánh bạc. Như đã phân  
tích ở trên, trước đây hành vi đánh bạc chủ yếu được thể hiện dưới các hình thức  
như tổ tôm, xóc đĩa, bài tây, quy mô cũng khá đơn giản, tuy nhiên hiện nay những  
người phạm tội đánh bạc đã mở rộng hình thức, quy mô và phạm vi hơn rất nhiều so  
với trước đây, các hình thức phổ biến như: chơi số đề, cá độ bóng đá, chọi gà, cá độ  
7
đua ngựa, đua xe…, hơn nữa thủ đoạn phạm tội cũng rất tinh vi, phạm vi không chỉ  
gói gọn trong một địa phương mà thậm chí là kết nối nhiều tỉnh thành với nhau hoặc  
ra ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Phương thức thanh toán cũng đa dạng, có thể  
thanh toán bằng tiền mặt trực tiếp hoặc chuyển khoản… Hiện nay, trước sự phát  
triển của công nghệ số, đã xuất hiện các hình thức đánh bạc thông qua các mạng  
internet, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử, đã xuất hiện phương thức thanh  
toán mới thông qua phương tiện điện tử hoặc dưới hình thức thẻ cào viễn thông  
hoặc thẻ thanh toán quốc tế…  
Hiện nay, Nhà nước cho phép người dân tham gia một số hình thức vui chơi,  
giải trí cũng có tính chất được thua bằng tiền hay hiện vật, nhưng không bị coi là  
hành vi phạm tội, cụ thể như chơi xổ số, casino, ….. Như vậy, không phải bất kỳ  
hành vi nào có tính chất được thua bằng tiền hay hiện vật đều bị coi là hành vi phạm  
tội. Tuy nhiên, trên thực tế, các đối tượng đánh bạc đã lợi dụng những hình thức  
được phép trên để thực hiện các hành vi, mục đích trái phép của mình.  
Thứ hai, về hậu quả của hành vi phạm tội.  
Theo quy định tại Điều luật, hậu quả của hành vi đánh bạc không phải là dấu  
hiệu bắt buộc và cũng không phải là yếu tố định khung hình phạt mà người phạm  
tội chỉ cần có hành vi đánh bạc trái phép là đã bị coi là vi phạm quy định tại Điều  
luật này. Trên thực tế, hành vi đánh bạc có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng,  
rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội như: vì đánh bạc mà mất  
khoản tiền lớn hoặc hiện vật có giá trị lớn, từ đó gia đình xung đột, tan cửa nát nhà,  
vì đánh bạc thua mà dẫn đến các hành vi phạm tội khác như trộm cắp, cướp giật, cố  
ý gây thương tích, giết người, gây rối trật tự công cộng, tổ chức sử dụng trái phép  
chất ma túy, cho vay nặng lãi, …  
Khi đó, người phạm tội đánh bạc nếu vi phạm các tội như cố ý gây thương  
tích, giết người, … thì không chỉ phải chịu hình phạt đối với tội đánh bạc mà còn  
phải chịu hình phạt đối với các tội phạm khác. Việc không quy định hậu quả của  
hành vi phạm tội trong Điều luật hoàn toàn dễ hiểu vì bản thân hành vi đó có thể  
không thực sự nguy hiểm nhưng nếu một người đã phạm tội này thì rất có thể sẽ  
phạm thêm các tội phạm khác nguy hiểm hơn rất nhiều lần. Do đó, việc ngăn chặn  
8
hành vi đánh bạc trái phép ngay cả khi nó chưa gây ra hậu quả là điều đúng đắn và  
hết sức cần thiết.  
- Chỉ truy cứu trách nhiệm về tội này khi có một trong các điều kiện sau:  
+ Được thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên.  
+ Đã bị kết án về tội này hoặc tội được quy định tại Điều 249 Bộ Luật Hình  
sự mà chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.  
Điều 248 BLHS quy định “ người nào đánh bạc trái phép …” như vậy đây  
là một điểm mới được sửa đổi trong tôi đánh bạc, trước đây mọi hành vi đánh bạc  
đều bị coi là vi phạm pháp luật,tuy nhiên chúng ta vẫn thường thấy những sòng bạc  
( casino) cho những người nước ngoài đánh bạc. Thực tiễn này làm tồn tại hành vi  
đánh bạc mà không bị xử lý mặc dù trái pháp luât. Theo quy định tại điều 248  
BLHS sửa đổi thì hành vi đánh bạc không trái pháp luật cho phép mới cấu thành tội  
phạm, còn những hành vi được pháp luật cho phép, không trái pháp luật thì trách  
nhiệm pháp lý không đặt ra.  
* Chú ý: Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với đánh bạc cần lưu ý một  
số vấn đề sau:  
- Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của từng lần  
đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự ( dưới 2 triệu  
đồng) và không thuộc các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa  
bị kết án về tội này hoặc điều 249 của BLHS thì người đánh bạc không phải chịu  
trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.  
- Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của lần đánh  
bạc nào bằng hoặc hơn mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự ( từ hai triệu  
đồng trở lên) thì người đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối  
với lần đánh bạc đó.  
- Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật  
dùng để đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu  
trách nhiệm hình sự thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội  
đánh bạc về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại  
Điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS.  
9
- Trường hợp đánh bạc từ 5 lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật  
dùng để đánh bạc của từng lần đánh bạc khác bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy  
cứu trách nhiệm hình sự và lấy tiền,hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống  
chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với  
tình tiết định khung “ có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm a khoản 2 Điều  
248 BLHS.  
* Khi truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi đánh bạc dưới hình  
thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa….cần phân biệt.  
- Một lần chơi đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa…( để tính  
là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi một lô đề, tham gia trong một trận  
đấu bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa…trong đó người chơi có thể  
chơi làm nhiều đợt. Trách nhiệm hình sự đối với người chơi một lần đánh bạc trong  
các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.  
- Số tiền, giá trị hiện vật của người chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua  
ngựa…với nhiều người là tổng số tiền, giá trị hiện vật mà họ và những người chơi  
khác dùng để đánh bạc. Ví dụ: C là chủ đề của 5 người chơi khác nhau, mỗi người  
chơi đề mỗi người chơi đề với số tiền là 20 nghìn đồng, nếu tỷ lệ chơi là 1/70 (1 năn  
70) thì số tiền được đánh bạc xác định như sau:  
+ Tiền dùng để đánh bạc của một người chơi số đề với C sẽ được xác định là  
1 triệu bốn trăm trăm hai mươi nghìn đồng ( 20 nghìn đồng tiền của một người chơi  
dùng để đánh bạc + ( 20.000đ X 70 lần) tiền của C dùng để đánh bạc với người chơi  
đó = 1.520.000đ.  
+ Tiền dùng để đánh bạc của C với 5 người chơi đề là 7.100.000đ (  
1.420.000 tiền của C dùng đánh bạc với một người chơi X 5 người chơi =  
7.100.000đ.  
b, Mặt chủ quan của tội phạm.  
Dấu hiệu chủ quan của tội phạm, chính là việc thể hiện diễn biến tâm lý của  
người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện được thể  
hiện dưới dạng lỗi bao gồm lỗi cố ý và vô ý. Đối với tội đánh bạc, những người  
tham gia đánh bạc luôn có ý thức sát phạt nhau mục đích mang tính vụ lợi do vậy,  
10  
lỗi của những người tham gia đánh bạc là lỗi cố ý trực tiếp. Lỗi cố ý trực tiếp được  
hiểu là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ  
hành vi của mình là có tính nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của  
hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Người thực hiện hành vi này biết rõ là  
đánh bạc trái phép, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật ngăn cấm nhưng  
vẫn thực hiện hành vi nhằm mục đích được thua, sát phạt nhau bằng tiền hoặc hiện  
vật. Có một số trường hợp người chơi không biết hành vi đánh bạc của mình là  
được phép, ví dụ như trong các khu vui chơi, giải trí, hội chợ, triển lãm, lễ hội, ... có  
tổ chức một số trò chơi may rủi, người chơi nghĩ rằng trò chơi đó là các trò chơi  
được phép, họ cho rằng việc tổ chức công khai như vậy, không có cơ quan có thẩm  
quyền nào d p bỏ thì là không vi phạm quy định của pháp luật, nhưng thực tế những  
trò chơi này là do một hoặc một số người lợi dụng đứng ra tổ chức để thu tiền, và  
việc tổ chức là hoàn toàn trái phép, không hề có sự cho phép của các cơ quan có  
thẩm quyền. Nếu gặp trường hợp này, người tham gia trò chơi có thể sẽ không bị  
coi là đánh bạc trái phép.  
c. Chủ thể của tội phạm:  
Chủ thể của tội phạm này không phải chủ thể đặc biệt mà là bất cứ “người  
nào”, chỉ cần có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể của tội phạm  
này. Theo quy định tại khoản 1, Điều 12 Bộ luật hình sự 2015: “Người từ đủ 16 tuổi  
trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ  
luật này có quy định khác”. Như vậy, người từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu  
trách nhiệm hình sự về tội phạm này vì tội phạm này là tội phạm do cố ý và không  
có trường hợp nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.  
Nếu số tiền hoặc tài sản dùng để đánh bạc có giá trị không lớn thì người có  
hành vi đánh bạc phải là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc và  
hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc hoặc đã bị kết án về một trong các tội này,  
chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì mới là chủ thể của tội phạm này.  
d, Hình phạt.  
- Khoản 1 ( Cấu thành tội phạm cơ bán) phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu  
đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.  
11  
- Khoản 2 Phạt tù từ 2 năm đến 7 năm khi có một trog những tình tiết sau:  
+ Có tinh chất chuyên nghiệp: Được hiểu là người phạm tội coi đánh bạc như  
một nghề nghiệp và lấy nguồn thu từ đánh bạc làm nguồn sống chính.  
+ Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên;  
+ Tái phạm nguy hiểm.  
- Khoản 3: ( Hình phạt bổ sung): Người phạm tội còn có thể phạt tiền từ 3  
triệu đến 30 triệu đồng.  
Chú ý:” Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc” bao gồm  
- “ Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc.  
- Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác  
định hoặc sẽ đươc dùng để đánh bạc.  
- Tiền hoặc hiện vật ở những nơi khác mà có đủ những căn cứ đã đươc hoặc  
sẽ đươc dùng để đánh bạc  
6.2: Khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc cần phân biệt:  
a, Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác  
định tiền, giá trị hiện vật bằng tiền dùng để đánh bạc đối với từng người đánh bạc  
là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc.  
b, Trường hợp một người đánh bạc cùng nhiều người khác nhau (như trường  
hợp chơi số đề) thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc đối với  
người đánh bạc với nhiều người là tổng giá trị tiền, hiện vật mà họ và những người  
đánh bạc khác dùng để đánh bạc, còn đối với người tham gia đánh bạc đối với  
những người này là tiền, giá trị hiện vật mà họ và những người đánh bạc khác  
dùng để đánh bạc, còn đối với người tham gia đánh bạc với những người này là  
tiền,giá trị hiện vật mà bản thân họ và người đó cũng dùng để đánh bạc”  
Tội tổ chức đánh bac hoặc gá bạc ( Điều 249- BLHS)  
Khoản 1 Điều 249 –BLHS quy định: “ Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá  
bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại  
Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này,  
chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba  
trăm triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm”.  
12  
1, Khách thể của tội phạm.  
Tội phạm xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng. Đánh bạc là một tệ nạn xã  
hội, từ việc đánh bạc có thể dẫn đến nhiều hành vi trái pháp luật khác nhau mà hành  
vi tổ chức đánh bac và gá bạc là tạo điều kiên cho việc đánh bạc, cho các con bạc,  
gây ảnh hưởng xấu đến an toàn, trật tự công cộng.  
2, Mặt khách quan của tội phạm.  
Tội phạm được thể hiện ở hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc:  
- Hành vi tổ chức đánh bạc là hành vi lôi kéo, rủ rê, tụ tập, tập hợp các con bạc  
( Người đánh bạc) bố trí địa điểm cho người khác cùng đánh bạc, người tổ chức  
cũng có thể cùng tham gia đánh bạc.  
- Hành vi gá bạc: Là chứa các đám bạc ở nhà mình hoặc địa điểm do mình bố  
trí để thu tiền hồ, đề cầm đồ cho những người đánh bạc.  
Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi có một trong những tình tiết sau:  
+ Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc với quy mô lớn.  
+ Hoặc đã bị xử lý hành chính về hành vi quy định tai điều này và Điều 248 Bộ  
luật Hình sự mà còn vi phạm.  
+ Hoặc đã bị kết án về tội này hoặc hành vi được quy định tại Điều 248 của Bộ  
luật Hình sự mà còn vi phạm.  
Chú ý: Trường hợp tổ chức đánh bạc với quy mô nhỏ và chưa bị xử phạt hành  
chính hay bị kết án về tội tổ chức đánh bạc, tội đánh bạc thì không cấu thành tội  
phạm ví dụ như: Những trường hợp đánh không nhằm bóc lột nhau, đánh bạc trong  
ngày giỗ, tết, hội hè… nhằm góp tiền ăn uống vui chơi có tính chất gia đình thì  
chưa cấu thành tội phạm.  
3, Mặt chủ quan của tội phạm:  
Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, nhằm sát phạt nhau được thua  
bằng tiền hoặc những lợi ích vật chất khác.  
4, Chủ thể của tội phạm:  
Tội phạm được thực hiện bởi những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự  
và đạt độ tuổi theo luật định.  
5, Hình phạt  
13  
- Khoản 1( Cấu thành tội phạm cơ bản), Phạt tiền từ 10 triệu đồng đế 300 triệu  
đồng hoặc bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.  
- Khoản 2: Phạt tù từ 3 năm đến 10 năm khi có một trong những tình tiết sau:  
+ Có tính chất chuyên nghiệp.  
+ Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn.  
+ Tái phạm nguy hiểm  
- Khoản 3 ( hình phạt bổ sung) Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5 triệu  
đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.  
Về các tình tiết mới “ với quy mô lớn” Thu lợi bất chính, rất lớn hoặc đặc biệt  
lớn quy định tại Điều 249 – BLHS theo trích mục 7, Nghị quyết số 02/2003/NQ –  
HĐTP ngày 17/4/2003 quy định:  
7.1: Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc một trong các trường hợp sau  
đây là “có quy mô lớn”  
a, Tổ chức đánh bạc trong cùng một lúc cho từ 10 người đánh bạc trở lên  
hoặc cho từ 2 chiếu bạc trở lên.  
b, Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc, có lắp đặt  
trang thiệt bị phục vụ cho việc đánh bạc, khi đánh bạc có sự phân công người canh  
gác, người phục vụ, có sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện như ô  
tô, xe máy, xe đạp, điện thoại…để hỗ trợ cho việc đánh bạc.  
7.2: Tổng số tiền đánh bạc hoặc gá bạc thuộc trường hợp chưa đến mức  
được hướng dẫn tại các điểm a, b, c Mục 7.1 này, nếu tổng số tiền hoặc hiện vật  
dùng để đánh bạc có giá trị từ 1 triệu đồng trở lên đến dưới 10 triệu đồng thì họ  
không phải chịu TNHS về tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng họ phải chịu  
TNHS về đồng phạm tội đánh bạc.  
7.3. “ Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn” được xác định  
như sau:  
a, Thu lợi bất chính lớn là từ 5 triệu đồng đến dưới 15 triệu đồng là lớn.  
b, Thu lợi bất chính từ 15 triêu đồng đến duới 45 triệu đồng là rất lớn.  
c, Thu lợi bất chính từ 45 triệu đồng trở lên là đặc biệt lớn.  
14  
1.2  Khái quát lịch sử h nh thành và phát triển của Luật h nh sự Việt Nam  
về tội đánh bạc  
1.2.1 Quy định của pháp luật trước Bộ luật Hình sự 1945.  
Bảy mươi ba năm trước, ngày 02/09/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội  
trước hàng vạn đồng bào, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc  
Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với thế giới và toàn thể quốc dân đồng bào về nền  
độc lập của dân tộc Việt Nam. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới đã được  
thành lập, một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc đã mở ra, kỷ nguyên độc lập tự  
do và chủ nghĩa xã hội.  
Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân  
chủ Cộng hòa, ngày 03/09/1945, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa  
phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Trong buổi họp quan trọng này, Chính  
phủ đã đề ra 6 vấn đề cấp bách cần giải quyết ngay, một trong số đó là phải giáo dục  
nhân dân trừ bỏ những thói xấu do chế độ thực dân đã dùng mọi thủ đoạn để đầu  
độc và hủ hoá dân ta, trong đó có tệ nạn cờ bạc. Việc nhạn thức sớm và rõ tính chất  
nguy hiểm của các hành vi cờ bạc và để đấu tranh, xử lý, ngan chạn những h  lụy  
nguy hại cho xã họi và an ninh quốc gia, Chính phủ Vi t Nam dan chủ cọng hòa đã  
ban hành Sắc l nh số 168/SL ngày 14/4/1948 - Van bản pháp luạt hình sự đầu tien  
đuợc Nhà nuớc ta quy định về tọi cờ bạc. Sắc l nh này thể hi n đuờng lối xử lí cứng  
rắn, thái đọ nghiem khắc của nhà nuớc đối với loại tọi phạm này, đạc bi t đối với  
những đối tuợng đánh bạc.  
Điều I của Sắc lệnh này quy định:  
“Tất cả các trò chơi cờ bạc, dù là có tính cách may rủi hay là có thể dùng trí  
khôn để tính nước, mà được thua bằng tiền, đều coi là tội đánh bạc và bị phạt như sau.  
Những cuộc đánh đố nhau bằng tiền, những cuộc xổ số bằng tiền hay bằng đồ  
mà không có nhà chức trách có thẩm quyền cho phép trước, cũng đều bị phạt như  
tội đánh bạc.”  
Điều II của Sắc lệnh quy định:  
“Những người nào đánh bạc hay dự vào các cuộc chơi nói trên sẽ bị phạt tù từ  
một năm đến ba năm và phạt bạc từ 5,000đ đến 50,000 đồng.  
15  
Bao nhiêu đồ đạc trần thiết nơi đánh bạc, các dụng cụ dùng vào việc đánh  
bạc, tiền nong bắt được trên bàn hay chiếu, đều bị tịch thu”.  
Từ hai điều luật này ta nhận thấy, pháp luật đã quy định khá rõ ràng về hành vi  
đánh bạc, không có hành vi đánh bạc nào được pháp luật cho phép như pháp luật  
hình sự hiện nay. Có thể thấy được thái độ rất nghiêm khắc của Nhà nước ta đối với  
các hành vi đánh bạc này, điều đó là hoàn toàn dễ hiểu trong bối cảnh đánh bạc đã  
trở thành một tệ nạn xã hội nghiêm trọng thời bây giờ, sau khi thực dân Pháp đã  
dùng mọi thủ đoạn để làm ngu muộn dân ta.  
Hình phạt cho tội phạm này là phạt tù từ một năm đến ba năm, phạt bạc từ  
5,000 đồng đến 50,000 đồng, tịch thu toàn bộ đồ đạc, dụng cụ, tiền nơi đánh bạc.  
Ngoài ra, hình phạt bổ sung cho tội phạm này cũng được quy định tại điều luật trên  
là người phạm tội có thể bị quản thúc từ một năm đến mười năm.  
Thái độ nghiêm khắc của Nhà nước ta đối với các loại tội phạm này còn được  
thể hiện tại Điều IV của Sắc lệnh, dù rằng Tòa án có xét xử tình trạng nen giảm,  
cũng bắt buọc áp dụng hình phạt tối thiểu về tù và tiền nói trong Điều II và Điều III  
tren đay. Tòa án phải phạt vừa tù và tiền mà khong cho bị can huởng án treo. Nếu  
có truờng hợp tái phạm, các hình phạt sẽ tang gấp đoi.  
Sắc l nh 168/SL là căn cứ pháp lý quan trọng cho vi c phòng chống các tọi cờ  
bạc nói chung và tọi đánh bạc nói rieng. Tuy nhien sau đó, tình hình kinh tế, xã hội  
chính trị của miền Bắc có nhiều thay đổi, một số quy định của sắc lệnh đã không  
còn phù hợp và cần được sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới. Do vậy, thong tu  
301/VHH-HS ngày 14/2/1957 và thong tu 2098/VHH-HS ngày 31/5/1957 đã được  
ban hành để giải quyết mọt phần những vuớng mắc của Sắc l nh 168/SL.  
Ngoài Sắc l nh số 168- SL, sau này Nhà nước có ban hành Nghị định số 32  
ngày 06/04/1952, Sắc luật 03-SL/76 ngày 15/3/1976. Nhìn chung, các van bản nêu  
trên chua hoàn thi n về mạt lạp pháp do bối cảnh nên kinh tế, chính trị và xã hội  
còn nhiều biến động, các nhà làm luật chưa thực sự có kinh nghiệm và hiểu biết rõ  
ràng. Tuy nhiên, đây là những cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên để đấu tranh  
phòng, chống tọi phạm cờ bạc, thực hi n những nhi m vụ xay dựng cải tại xã họi  
của Nhà nuớc ta trong giai đoạn lịch sử này và cũng là co sở để xay dựng những  
16  
quy định của pháp luạt hình sự nuớc ta về tọi phạm cờ bạc nói chung và tọi đánh  
bạc nói rieng sau này.  
1.2.2 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 (Có hiệu lực từ ngày  
01/01/1986 đến ngày 01/07/2000)  
Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời là bước tiến lớn trong quá trình lập pháp của  
Nhà nước ta đối với lĩnh vực hình sự. Lần đầu tiên trong lịch sử có một bộ luật ra  
đời quy định rõ ràng, tương đối chặt chẽ và đầy đủ về Hình sự, các điều khoản được  
xây dựng quy mô, chặt chẽ hơn rất nhiều so với các văn bản về Hình sự trước đây.  
Cụ thể, Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định chung về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh  
bạc và tội gá bạc tại Điều 200 như sau:  
“1- Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay  
hiện vật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù  
từ ba tháng đến ba năm.  
2- Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo  
không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.  
Phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tù từ hai năm đến  
bảy năm.”  
Về cơ bản, hành vi khách quan của tội phạm, chủ thể phạm tội vẫn được quy  
định tương đối giống với các Sắc lệnh trước năm 1985. Tuy nhiên, tại Bộ Luật này  
đã quy định rõ ràng hơn, phân biệt rõ tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc và tội gá  
bạc. Các loại tội phạm này tuy có tính chất tương tự liên quan đến cờ bạc nhưng  
được quy định riêng tại hai khoản khác nhau. Đây có thể coi là một bước tiến trong  
quá trình làm luật của các Nhà làm luật về loại tội phạm này. Tuy nhiên, việc quy  
định tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc và tội gá bạc tại cùng một điều luật, việc  
phân tách này vẫn chưa thực sự rõ ràng và chặt chẽ. Hơn nữa, về tình tiết tăng nặng,  
phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định sau khoản 2, nhưng  
không nêu rõ tình tiết tăng nặng này chỉ áp dụng cho tội tổ chức đánh bạc và tội gá  
bạc hay áp dụng cho cả ba loại tội phạm: tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc và tội gá  
bạc. Như vậy, Điều luật này quy định chưa thực sự chặt chẽ, hơn nữa thời kỳ này,  
việc ban hành các văn bản hướng dẫn Luật chưa thực sự nhiều và chi tiết như hiện  
17  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 86 trang yennguyen 17060 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Tội đánh bạc theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_toi_danh_bac_theo_luat_hinh_su_viet_nam_va_thuc_tie.pdf