Luận văn Thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

1
2
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Trên thế giới hiện nay, đa phần các vấn đề mang tính toàn cầu liên quan  
tới cuộc sống con người đều có liên quan đến biển và đại dương. Việt Nam là  
quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh  
tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có, với bờ biển dài trên  
3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam. Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về  
Luật Biển năm 1982 thì nước ta ngày nay có vùng biển rộng lớn hơn 1 triệu  
km2, gấp hơn ba lần diện tích đất liền. Từ lợi thế về vị trí, địa lý và vài trò của  
biển đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), quốc phòng – an  
ninh (QP-AN), Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 03-NQ/TW, ngày  
06/5/1993 về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển. Trong đó khẳng định  
rằng, phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường bảo vệ chủ  
quyền và lợi ích quốc gia. Ngày 22/9/1997 Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số  
20- CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hoá,  
hiện đại hoá (CNH - HĐH). Từ quan điểm chỉ đạo trên, Hội nghị lần thứ tư  
Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông qua Nghị quyết số 09-  
NQ/TW, ngày 9/02/2007về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Nghị  
quyết đã xác định quan điểm chỉ đạo, định hướng phát triển kinh tế biển Việt  
Nam đến năm 2020, đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ  
biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các  
ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển  
nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn.Tuy nhiên, nếu chỉ dừng  
lại như điều kiện hiện nay, chúng ta sẽ không bắt kịp xu thế chung của thế  
giới, sẽ hạn chế trong việc bảo vệ và khai thác lợi thế từ biển, mà lại càng hạn  
chế khi mở rộng ra biển quốc tế.  
3
Cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của  
Nhà nước, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định ban hành Chương trình hành  
động số 16-CTr/TU, ngày 20/8/2007 về thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung  
ương 4 (khoá X) về “Chiến lược biển đến năm 2020”.Trong đó xác định, phát  
triển nhanh kinh tế biển và vùng ven biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa, gắn với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng – an ninh tuyến biển.  
Hoài Nhơn là một huyện đồng bằng ven biển có vị trí chiến lược quan  
trọng, là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh phía Bắc của  
tỉnh Bình Định.Có lợi thế bờ biển dài trên 23 km giàu tài nguyên, cùng đội  
tàu khai thác xa bờ nhiều kinh nghiệm và hùng hậu nhất tỉnh Bình Định. Phát  
huy tiềm năng lợi thế sẵn có, trên cơ sở chương trình hành động số 16-  
CTr/TU của Tỉnh ủy Bình Định và các Nghị quyết, Chương trình hành động  
của Huyện ủy Hoài Nhơn xác định phát triển kinh tế biển là ngành kinh tế  
mũi nhọn và phát triển bền vững trên cả 3 lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế  
biến kết hợp với du lịch tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của địa  
phương.Thời gian qua, huyện tập trung mọi nguồn lực ưu tiên đầu tư nâng  
cấp, xây dựng hệ thống giao thông, nạo vét cảng biển, đầu tư đóng mới, cải  
hoán tàu thuyền, dịch vụ hậu cần ven biển. Nhờ đó, sản lượng đánh bắt thủy  
sản ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP của huyện, góp  
phần quan trọng trong việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân  
dân huyện Hoài Nhơn.  
Trên cơ sở các chính sách phát triển kinh tế biển của Trung ương, từ năm  
2010 đến nay, huyện Hoài Nhơn đã ban hành và thực hiện các chính sách về  
phát triển kinh tế biển như: Chương trình hành động số 18-CTr/HU ngày  
04/10/2011 của Ban Thường vụ Huyện ủy về thực hiện Nghị quyết Đại hội  
Đảng bộ lần thứ XVIII của tỉnh và huyện về khai thác, nuôi trồng gắn với chế  
biến và dịch vụ thủy sản, giai đoạn 2011 – 2015; Công văn 161-CV/HU, ngày  
4
01/8/2012 của Ban Thường vụ Huyện ủy về tuyên truyền giảm thiểu tàu cá,  
ngư dân bị nước ngoài bắt giữ; Chương trình hành động số 18-CTr/HU ngày  
31/5/2016 của Huyện ủy về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền  
biển đảo, giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 8029/QĐ-UBND ngày  
23/11/2016 của UBND huyện Hoài Nhơn về Kế hoạch cụ thể về triển khai  
thực hiện Chương trình hành động số 18-CTr/HU ngày 31/5/2016 của Huyện  
ủy về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo, giai đoạn  
2016-2020. Tập trung chỉ đạo thực hiện Nghị định số 67/2014/QĐ-TTg của  
Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản; Thực hiện Quyết định  
48/2010/QĐ-TTg về một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi  
trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa.Bước đầu đạt  
được những kết quả đáng ghi nhận, có thể kể đến như huyện có 116/140 hồ sơ  
tàu cá được tỉnh Bình Định phê duyệt (67 tàu vỏ thép, 40 tàu vỏ gỗ, 9 tàu vỏ  
composite) vay vốn ưu đãi, đóng mới hoàn thành bàn giao 17 tàu vỏ thép,  
hàng nghìn lượt tàu cá đánh bắt xa bờ được hỗ trợ theo với tổng số tiền hàng  
trăm tỷ đồng.  
Mặc dù đã có những chính sách phù hợp, nhưng việc thực hiện chính  
sách phát triển kinh tế biển ở Hoài Nhơn vẫn còn nhiều bất cập như: Quản lý  
Nhà nước trên một số lĩnh vực phát triển kinh tế biển chưa đồng bộ; Việc  
kiểm tra, kiểm soát, quản lý hoạt động tàu cá khai thác, đánh bắt hải sản trên  
biển còn nhiều hạn chế, bất cập.Vì thế, kinh tế biển của Hoài Nhơn vẫn còn  
những hạn chế như: Chưa đánh thức hết tiềm năng và thế mạnh của kinh tế  
biển phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng.  
Tình trạng ngư dân xâm phạm lãnh hải nước ngoài bị bắt giữ vẫn còn xảy ra.  
Tàu thuyền, ngư dân hành nghề trên biển bị tai nạn và sự cố trên biển xảy ra  
nhiều. Phương tiện, lực lượng lao động nghề cá phát triển tự phát, hoạt động  
đơn lẻ, phân tán; cơ sở hạ tầng, dịch vụ hậu cần nghề cá chưa đáp ứng nhu  
5
cầu phục vụ đội tàu đánh bắt xa bờ. Khai thác, đánh bắt còn bừa bãi, ô nhiễm  
môi trường chưa kịp thời khắc phục; Trình độ của người lao động đối với  
kinh tế biển còn thấp. Cửa biển Tam Quan thường xuyên bị bồi lấp; hệ thống  
cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền thường xuyên quá tải…  
Để tiếp tục quản lý, khai thác hiệu quả tiềm năng thế mạnh của kinh tế  
biển, để kinh tế biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, huyện Hoài Nhơn cần  
phải đánh giá đúng thực trạngthực hiện chính sách, bên cạnh việc đánh giá kết  
quả, cần tìm ra những hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện chính sách để tìm  
ragiải pháp hiệu quả hơn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biểntrong thời gian  
tới. Với lý do trên, tôi chọn đề tài“Thực hiện chính sách phát triển kinh tế  
biển từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định” làm luận văn Thạc sĩ,  
chuyên ngành Chính sách công.  
2. Tình hình nghiên cứu đề tài  
Mặc dù là một quốc gia biển, có tiềm năng, lợi thế lớn về kinh tế biển  
nhưng trước năm 2007 mô hình quản lý kinh tế biển của Việt Nam chưa thực  
sự hình thành. Chỉ tới khi ra đời Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 09 tháng 02  
năm 2007 của Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa  
X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, mô hình quản lý kinh tế  
biển của Việt Nam mới được định hình rõ nét.  
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế  
biển, có thể kể đến như:  
Nguyễn Văn Hiến, “Phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an  
ninh trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc và những vấn đề đặt ra”, đăng trên  
Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 12/2011[19]. Bài viết nghiên cứu vị trí  
chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh của các vùng biển, đảo  
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta đã sớm  
quan tâm tới việc quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giải quyết tranh chấp  
6
trên biển và phát triển kinh tế biển.  
Lê Thị Thanh Hà về “Phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ môi  
trường biển, đảo ở Việt Nam hiện nay”, đăng trên Tạp chí cộng sản, ngày  
10/11/2016[18]. Nghiên cứu này cho thấy, bước sang thế kỷ XXI, trước sức  
ép của gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh và nhu  
cầu tăng trưởng kinh tế cao, trong khi các nguồn tài nguyên ở đất liền ngày  
càng cạn kiệt, tiến ra biển, khai thác biển, làm giàu từ biển là hướng đi đúng  
đắn nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng phát triển kinh tế to lớn. Tuy  
nhiên, để phát triển bền vững, cần gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ môi  
trường biển, đảo.  
Nguyễn Thị Hoài Thu với “Phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc  
phòng, an ninh”, đăng trên Tạp chí cộng sản, ngày 13/12/2017[25]. Nghiên  
cứu chỉ ra rằng, phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo  
Việt Nam có ý nghĩa to lớn, nhất là trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới  
đều nỗ lực vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi  
mặt để khai thác và bảo vệ biển.  
Lại Lâm Anh với: “Quản lý kinh tế biển: kinh nghiệm quốc tế và vận  
dụngvào Việt Nam”, Luận án tiến sĩViện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam  
- Học viện Khoa học xã hội (2013)[1]. Luận án đã hệ thống hoá các vấn đề về  
quản lý kinh tế biển, từ khái niệm, vai trò, chiến lược, chính sách, mô hình và  
thể chế phát triển kinh tế biển. Tiếp cận nghiên cứu thực tiễn quản lý kinh tế  
biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore, để tìm ra các vấn đề có tính  
quy luật trong quản lý kinh tế biển nói chung. Từ đó, đề tài đưa ra một số đề  
xuất, mang tính gợi ý chính sách về quản lý kinh tế biển Việt Nam.  
Vũ Văn Phái với “Biển và phát triển kinh tế biển Việt Nam: quá khứ,  
hiện tại và tương lai”[22], Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà  
Nộinăm 2008. Tác giả nhấn mạnh: Từ thời cổ đại đến nay, con người Việt  
7
Nam đã biết khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên của biển phục vụ phát  
triển kinh tế - xã hội với trình độ từ thấp đến cao và bảo vệ an ninh chủ quyền  
quốc gia. Hiện nay và trong những năm tới, phát triển kinh tế biển - một trong  
những chiến lược quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa  
đất nước, đã và sẽ được thực hiện một cách toàn diện hơn với đầy đủ các lĩnh  
vực như nghề cá (đánh bắt, nuôi trồng và chế biến), giao thông - thương mại  
(hệ thống cảng biển, đội tàu,….), khai thác khoáng sản, công nghiệp, du lịch  
và các dịch vụ khác.  
Đối với Hoài Nhơn, là huyện có đội tàu đánh bắt xa bờ lớn nhất tỉnh Bình  
Định. Những năm qua có nhiều chủ trương, chính sách và có một số công trình  
nghiên cứu có liên quanđến kinh tế biển của huyện Hoài Nhơn như:  
Báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngày 07 tháng 3 năm 2018 có  
bài viết “Ngư dân Hoài Nhơn (Bình Định) khai thác xa bờ cꢀ trách nhiệm”.  
Đó là định hướng của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã đề ra cho mùa  
khai thác năm 2018, đảm bảo không có trường hợp ngư dân trong huyện xâm  
phạm lãnh hải nước ngoài.  
Trang Thông tin điện tử UBKT Trung ương, ngày 16 tháng 8 năm 2016  
có bài viết “Hoài Nhơn phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển  
đảo”[28]. Sau khi Nghị quyết đại hội và các Chương trình hành động của  
Huyện ủy được ban hành, các cấp ủy, chính quyền đã thực hiện tốt việc triển  
khai và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết của cấp ủy các cấp bước đầu đi  
vào cuộc sống đạt được một số kết quả đáng ghi nhận.  
Chương trình hành động số18-CTr/HU, ngày 31/5/2016 của Ban Thường  
vụ Huyện ủy Hoài Nhơn thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện, lần thứ  
XIX “Về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo giai đoạn  
2016-2020”[3]. Trong thời gian qua, tình hình an ninh trên biển đông diễn biến  
khó lường, thời tiết diễn biến phức tạp, nguồn lợi thủy sản giảm sút. Từ những  
8
nhu cầu đó, Huyện ủy Hoài Nhơn ban hành Chương trình hành động số18-  
CTr/HU, cùng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị đưa kinh tế biển của  
huyện phát triển khá và trở thành ngành kinh tế quan trọng của địa phương.  
Quyết định số 8029/QĐ-UBND, ngày 23/11/2016 của UBND huyện  
Hoài Nhơn ban hành Kế hoạch cụ thể về triển khai thực hiện Chương trình  
hành động số 18-CTr/HU ngày 31/5/2016 của Huyện ủy về phát triển kinh tế  
biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo, giai đoạn 2016 – 2020.[29]  
Báo cáo Sơ kết thực hiện Chương trình hành động số 18-CTr/HU của  
Huyện ủy ngày 31 tháng 5 năm 2016 về “phát triển kinh tế biển gắn với bảo  
vệ chủ quyền biển đảo, giai đoạn 2016-2020”[20]. Được sự lãnh đạo, chỉ đạo  
quyết liệt của Ban Thường vụ Huyện ủy và quyết tâm của cả hệ thống chính  
trị, sự đồng thuận của địa phương và người dân, qua 02 năm triển khai thực  
hiện Chương trình hành động số 18-Ctr/HU đạt được một số mặt tích cực và  
những kết quả bước đầu trên lĩnh vực khai thác, nuôi trồng thủy, hải sản.  
Quyết định số 1839/QĐ-UBND, ngày 31/5/2016 của UBND tỉnh Bình  
Định về việc phê duyệt Quy hoạch phân khu chức năng tỉ lệ 1/2000 hệ thống  
cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, dịch vụ hậu cần nghề cá Tam  
Quan (Hoài Nhơn).[30]  
Báo Bình Định, ngày 21 tháng 9 năm 2017 có bài viết “Hoài Nhơn, phát  
triển kinh tế biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”. Với lợi thế bờ biển dài  
trên 23 km giàu tài nguyên cùng đội tàu khai thác xa bờ nhiều kinh nghiệm và  
hùng hậu nhất tỉnh Bình Định, những năm qua, Ðảng bộ huyện Hoài Nhơn đã  
tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn  
của địa phương.  
Báo Bình Định, ngày 29 tháng 3 năm 2018 có bài viết “Hoài Nhơn phát  
triển kinh tế biển”. Những năm qua, ngư dân Hoài Nhơn đã chủ động đầu tư  
nâng cấp tàu cá, cải tiến ngư lưới cụ, khai thác kiêm nghề; thành lập tổ đoàn  
9
kết trên biển, nghiệp đoàn nghề cá… đánh bắt đạt hiệu quả, sản lượng và giá  
trị khai thác hải sản tăng qua từng năm, góp phần phát triển KT-XH của địa  
phương.  
Mặc dù, thời gian qua không ít đề tài nghiên cứu về phát triển kinh tế  
biển, gắn với đảm bảo chủ quyền biển đảo. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có  
công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về chính sách phát triển kinh tế biển  
từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn. Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài này làm  
luận văn thạc sĩ của mình, đề tài luận văn thực hiện có sự kế thừa, phát triển  
những kết quả thực hiện trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó đề xuất ra các  
giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương trong thời gian tới.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục đích nghiên cứu  
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển  
kinh tế biển. Nghiên cứu và đánh giá việc thực hiện chính sách phát triển kinh  
tế biển ở huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị  
trong thực hiện hiệu quả chính sách phát triển kinh tế biển ở huyện Hoài Nhơn.  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển  
kinh tế biển.  
- Phân tích, đánh giá, thực trạng việc thực hiện chính sách phát triển kinh  
tế biển của huyện Hoài Nhơn từ năm 2010 đến nay.  
- Đề xuất phương hướng, giải pháp thực hiện hiệu quả hơn chính sách  
phát triển kinh tế biển Hoài Nhơn trong thời gian tới.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển ở huyện Hoài Nhơn, tỉnh  
Bình Định.  
10  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Phạm vi không gian: Việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển ở  
huyện Hoài Nhơn.  
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2010 đến nay và nhiệm vụ, giải pháp trong  
thời gian tới.  
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
5.1. Cơ sở lý luận  
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư  
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế  
biển. Kế thừa chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung liên  
quan đến đề tài.  
5.2. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu thứ cấp: các Văn  
kiện, Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định, Quyết định của Đảng, Nhà nước, của  
tỉnh Bình Định và huyện Hoài Nhơn;  
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, phương pháp dự báo.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn  
6.1. Ý nghĩa lý luận  
- Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn vềchính sách phát triển kinh tế biển.  
- Nghiên cứu thực tiễn của việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế  
biển ở huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.  
6.2. Ý nghĩa thực tiễn  
- Đánh giá kết quả, những vấn đề còn tồn tại và chỉ ra nguyên nhân trong  
triển khai thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển của Hoài Nhơn trong  
thời gian qua.  
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm thực hiện hiệu quả chính sách  
phát triển kinh tế biển của huyện Hoài Nhơn trong thời gian tới.  
11  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn  
gồm ba chương:  
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển kinh tế  
biển.  
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển tại  
huyện Hoài Nhơn  
Chương 3: Định hướng và giải pháp thực hiện hiệu quả chính sách phát  
triển kinh tế biển ở huyện Hoài Nhơn.  
12  
CHƯƠNG 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNVỀ CHÍNH SÁCH PHÁT  
TRIỂN KINH TẾ BIỂN  
1.1. Cơ sở lý luận  
1.1.1.Các khái niệm cơ bản  
- Khái niệm kinh tế biển: Cho đến nay, việc xác định khái niệm của kinh  
tế biển vẫn là vấn đề chưa thống nhất. Có nhiều quan niệm khác nhau về kinh  
tế biển, tùy theo hướng tiếp cận và cách nhìn riêng phụ thuộc vào giá trị đóng  
góp của các ngành kinh tế biển đối với mỗi quốc gia.  
Tại Trung Quốc, khái niệm về kinh tế biển được các nhà khoa học phát  
triển theo thời gian: Năm 1990, theo các học giả Dương Kim Thâm, Lương  
Hải Tân và Hoàng Minh Lỗ: “Kinh tế biển bao gồm ba loại ngành nghề theo  
các thời kỳ khác nhau là nghề đánh bắt hải sản, làm muối và vận tải biển là  
những nghề biển truyền thống, khai thác dầu khí trên biển, nghề nuôi trồng  
hải sản và ngành du lịch biển là nghề biển mới phát triển, nghề khai thác các  
nguồn năng lượng có trong biển, các loại tài nguyên khoáng sản ở dưới biển  
sâu và lợi dụng nước biển là những nghề biển tương lai”; Quan điểm của ba  
học giả Trung Quốc thời điểm đầu những năm 1990 đã khái quát tương đối  
đầy đủ các ngành nghề của kinh tế biển. Tuy nhiên, các học giả chưa đề cập  
đến một số ngành nghề như chế biến hải sản, dịch vụ hậu cần nghề cá, cảng  
biển. Năm 1995, Xu Zhibin cho rằng: “Nền kinh tế biển được gọi là một sản  
phẩm đầu vào và đầu ra, cung và cầu, nguồn tài nguyên biển, không gian  
biển, điều kiện môi trường biển trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến hoạt  
động kinh tế”.  
Tại Mỹ, quan điểm của các nhà khoa học về kinh tế biển phụ thuộc vào  
sự đóng góp của kinh tế biển vào nền kinh tế quốc dân. Học giả người Mỹ  
13  
Charles S. Colgan cho rằng: “Kinh tế biển là những hoạt động có nguồn gốc  
từ biển. Cụ thể gồm hoạt động liên quan đến biển như khai thác biển, hải sản  
và ngành vận tải biển”[33]. Theo Brian Roach, Jonathan Rubin và Charles  
Moris của trường Đại học Maine: “Kinh tế biển là các hoạt động kinh tế diễn  
ra trên biển hoặc ven biển bao gồm một số hoạt động như hoạt động khai thác  
hải sản và vận tải biển, những hoạt động phụ thuộc vào biển”[34]. Như vậy,  
các hoạt động liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến biển đều được coi là các  
ngành nghề thuộc kinh tế biển.  
Ở Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế biển. Theo PGS,  
TS Bùi Tất Thắng và PGS, TS Chu Đức Dũng trong các nghiên cứu của mình  
đều có chung quan điểm về nội hàm kinh tế biển như sau: “Kinh tế biển hiểu  
theo nghĩa hẹp là toàn bộ hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm:  
Kinh tế hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); Hải sản (đánh bắt và  
nuôi trồng hải sản); Khai thác dầu khí ngoài khơi; Du lịch biển; Làm muối;  
Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; Kinh tế đảo”[23]. Kinh tế biển hiểu theo  
nghĩa rộng là các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy  
không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này lại nhờ vào  
yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền  
ven biển, bao gồm: Đóng và sửa chữa tàu biển; Công nghiệp chế biến dầu khí;  
Công nghiệp chế biến thủy, hải sản; Cung cấp dịch vụ biển; Thông tin liên lạc  
(biển); Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ quản  
lý kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên môi trường biển. Do đó, kinh tế  
biển không thể tách vùng biển với vùng ven biển và ngược lại.  
Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Đầu tư phát triển các ngành kinh tế  
biển, là đầu tư khai thác dầu khí, vận tải biển, cảng biển, đóng và sửa chữa tàu  
biển, du lịch biển, nuôi trồng thuỷ sản; phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá và  
đẩy mạnh khai thác xa bờ; Gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền  
14  
biển, đảo”.  
Với nội dung xác định của Đảng ta cùng với những nghiên cứu của các  
học giả trong và ngoài nước về kinh tế biển, từ đó có thể đưa ra khái niệm  
kinh tế biển như sau: “Kinh tế biển là hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, hoặc  
có liên quan đến biển như: khai thác, chế biến các sản phẩm có liên quan đến  
biển, du lịch biển, đảo, khai thác dầu khí, vận tải biển, để phục vụ đời sống  
con người và mang lại lợi ích cho nền kinh tế và bảo vệ chủ quyền quốc  
gia”.[7]  
- Khái niệm về phát triển kinh tế biển:  
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ  
cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm công bằng xã  
hội. Phát triển kinh tế là một khái niệm rộng hơn tăng trưởng, nếu tăng trưởng  
được xem là quá trình biến đổi về lượng thì phát triển là quá trình biến đổi cả  
về lượng và chất của nền kinh tế. Đó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá  
trình hoàn thiện của cả hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Phát  
triển kinh tế bao gồm có tăng trưởng, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo  
chiều hướng tiến bộ (thường xét đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành: sự gia tăng  
tỉ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp), sự  
biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội (xóa bỏ nghèo đói, suy  
dinh dưỡng, tăng tuổi thọ bình quân, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế,  
nước sạch của người dân, đảm bảo phúc lợi xã hội, giảm thiểu bất bình đẳng  
trong xã hội…).  
Phát triển kinh tế biển là phát triển mạnh các ngành kinh tế biển gắn với  
bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân vùng  
biển, đảo. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các ngành  
khai thác, chế biến dầu khí; cảng biển, đóng và sửa chữa tàu biển, vận tải  
biển; khai thác và chế biến hải sản, các dịch vụ hậu cần nghề cá; du lịch biển,  
15  
đảo. Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất  
ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển. Xây dựng kết cấu hạ tầng  
kinh tế - xã hội phục vụ sản xuất và đời sống vùng biển, đảo. Đẩy nhanh điều  
tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển, đảo. Tăng cường nghiên cứu, ứng  
dụng khoa học, công nghệ, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc khai thác  
hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên biển. Xây dựng các cơ sở hậu cần  
nghề cá, tránh trú bão, hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ và hoạt động dài  
ngày trên biển. Tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người dân định cư  
lâu dài trên các đảo. Tăng cường công tác cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm an  
ninh, an toàn trên biển, đảo.[7]  
Từ đó, có thể rút ra khái niệm phát triển kinh tế biển: Là sự biến đổi kinh  
tế biển theo chiều hướng tích cực dựa trên sự biến đổi cả về số lượng, chất  
lượng các yếu tố cấu thành của nền kinh tế biển. Nó bao gồm sự tăng trưởng  
về mọi mặt của các ngành nghề, lĩnh vực liên quan đến kinh tế biển. Đó là  
một quá trình, bao gồm sự thay đổi về số lượng và chất lượng kinh tế - xã hội  
liên quan đến kinh tế biển tương đối ổn định và dần đi vào hiệu quả thể hiện  
qua cơ sở hạ tầng kinh tế biển, số lượng và chất lượng sản phẩm kinh tế biển,  
nguồn nhân lực biển.  
- Khái niệm chính sách phát triển kinh tế biển:  
Khái niệm chính sách:  
Từ điển Bách khoa Việt Nam, Chính sách là tập hợp các chủ trương và  
hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà  
chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những  
mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn  
hóa – xã hội – môi trường…[35]  
Theo James Anderson thì: “Chính sách là một quá trình hành động có  
mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn  
16  
đề mà họ quan tâm”.  
Như vậy có thể hiểu: “Chính sách là tập hợp các hoạt động liên quan với  
nhau, được lựa chọn và quyết định để thực hiện, nhằm đạt được những mục  
tiêu nhất định.  
Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác  
nhau: Phạm vi toàn cầu (như chính sách của Liên hiệp quốc), phạm vi một  
quốc gia (như chính sách của Trung ương), phạm vi một địa phương (như  
chính sách của tiểu bang trong nhà nước liên bang, tỉnh), phạm vi một tổ  
chức, thậm chí có thể là chính sách của một cá nhân.  
Khái niệm chính sách công:  
William Jenkins đưa ra định nghĩa: “Chính sách công là một tập hợp các  
quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà  
chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được  
các mục tiêu đó”. Định nghĩa này nhấn mạnh các mặt sau: (i) Chính sách  
công không phải là một quyết định đơn lẻ nào đó, mà là một tập hợp các  
quyết định khác nhau có liên quan với nhau trong một khoảng thời gian dài;  
(ii) Chính sách công do các nhà chính trị trong bộ máy nhà nước ban hành.  
Nói cách khác, các cơ quan nhà nước là chủ thể ban hành chính sách công;  
(iii) Chính sách công nhằm vào những mục tiêu nhất định theo mong muốn  
của nhà nước, bao gồm các giải pháp để đạt được mục tiêu đã lựa chọn.  
B. Guy Peter thì cho rằng: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động  
của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi  
công dân”. Định nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi chính  
sách công là nhà nước, đồng thời nhấn mạnh tác động của chính sách công  
đến đời sống của người dân với tư cách là một cộng đồng.  
Trong các tác giả Việt Nam, đáng chú ý là định nghĩa của PGS.TS. Lê  
Chi Mai: “Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định  
17  
hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong  
đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định”. Đồng thời tác giả Lê Chi  
Mai cũng nhấn những đặc trưng cơ bản của chính sách công như sau: Thứ  
nhất, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước; Thứ hai, các quyết định  
trong chính sách công này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng  
bao gồm cả những hành vi thực tiễn; Thứ ba, chính sách công được ban hành  
nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo  
những mục tiêu xác định; Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có  
liên quan lẫn nhau.[21]  
Như vậy có thể hiểu: “Chính sách công là chính sách do cơ quan nhà  
nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội của  
cộng đồng”. Cũng chính vì vậy mà cho đến nay ở Việt Nam chúng ta thường  
dùng khái niệm “chính sách của nhà nước” với nội hàm tương đồng với khái  
niệm “chính sách công” (public policy) gần đây mới được sử dụng.  
Dựa vào các phân tích trên, chính sách công ở Việt Nam được hiểu như  
sau: Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà  
nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải  
quyết các vấn đề kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định.[13]  
Từ khái niệm chính sách, chính sách công và những phân tích của các tác  
giả trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm cơ bản về chính sách phát triển kinh  
tế biển như sau: Chính sách phát triển kinh tế biển là tổng thể các quyết định và  
phương pháp hành động của Nhà nước nhằm tác động lên các hoạt động của  
kinh tế biểnnhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra.  
1.1.2.Chính sách phát triển kinh tế biển và các yếu tố tác động đến  
việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển  
- Mục đích, yêu cầu của chính sách phát triển kinh tế biển  
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội song song với nhiệm vụ bảo vệ  
18  
quốc phòng - an ninh. Tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương  
Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm  
2020 với mục tiêu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia mạnh về biển, làm  
giàu từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển gắn với cơ cấu phong  
phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao.[2]  
Yêu cầu đặt ra với chính sách phát triển kinh tế biển ở Việt Nam là  
phảikiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, gắn lợi ích quốc  
gia trên biển. Giải quyết những khác biệt và tranh chấp giữa các nước trên  
biển bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước  
Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các Tuyên bố về ứng xử các bên ở  
Biển Đông (DOC).  
Phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên biển cho phát triển kinh tế - xã hội.  
Mục tiêu đến năm 2020, kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53- 55%  
GDP và 60% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Hoàn thiện thể chế chính sách,  
pháp luật về biển và hải đảo; triển khai thực hiện tốt Luật tài nguyên, môi  
trưởng biển và hải đảo; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tài nguyên và bảo  
vệ môi trường biển và hải đảo.[2]  
Huy động, thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế biển. Thực hiện  
hiệu quả các chính sách, giải pháp cụ thể, phù hợp để bảo đảm sinh kế, nâng  
cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo; tạo thuận lợi cho người dân bám biển,  
phát triển kinh tế biển và làm giàu từ biển.  
Bảo vệ môi trường biển là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, thường xuyên,  
lâu dài. Tăng cường công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là vùng biển ven bờ;  
ứng phó kịp thời với các sự cố môi trường.  
Chủ động phòng tránh thiên tai, nâng cao hiệu quả công tác dự báo khí  
tượng thủy văn biển; dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát biển đổi khí hậu…  
Tăng cường hợp tác quốc tế về biển và hải đảo một cách thiết thực, hiệu  
19  
quả trong khai thác bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo,  
cứu hộ, cứu nạn trên biển, xử lý ô nhiễm môi trường biển xuyên biển giới,  
biến đổi khí hậu và nước biển dâng…  
- Vai trò thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển  
Thứ nhất, thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển là một trong những  
chính sách quan trọng của nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy kinh tế đất  
nước phát triển. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa  
X) ban hành Nghị quyết số 09/NQ-TW ngày 09/02/2007 về Chiến lược biển  
Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh  
về biển, làm giàu từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển gắn với cơ  
cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả  
cao. Mặt khác, kinh tế biển cũng góp phần giới thiệu hình ảnh đất nước, con  
người Việt Nam với bạn bè quốc tế qua hoạt động giao thương, vận tải, du  
lịch biển...[2]  
Thứ hai, phát triển kinh tế biển đóng góp vào việc cải thiện đời sống vật  
chất, tinh thần của nhân dân vùng ven biển. Trên quan điểm kinh tế, việc thực  
hiện các chính sách phát triển kinh tế biển sẽ tạo cơ hội, điều kiện cho doanh  
nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hậu cần nghề biển;  
tạo điều kiện nhân dân vùng ven biển tiếp cận với các ngành nghề kinh tế biển  
vàmở cơ hội làm việc của người dân trong vùng; từ đó, góp phần tăng thu  
nhập, cải thiện đời sống nhân dân.  
Thứ ba, phát triển kinh tế biển góp phần bảo đảm an ninh – quốc phòng,  
giữ vững chủ quyền quốc gia biển, đảo của Tổ quốc. Phát triển kinh tế biển và  
bảo vệ chủ quyền quốc gia là một trong những những chiến lược được ưu tiên  
hàng đầu của các quốc gia có biển. Ở nước ta, kết hợp phát triển kinh tế gắn  
với bảo vệ chủ quyền còn là sự tiếp nối truyền thống lịch sử dân tộc “dựng  
nước đi đôi với giữ nước”; Ðó cũng là chiến lược xuyên suốt của đất nướcta  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 81 trang yennguyen 19960 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_thuc_hien_chinh_sach_phat_trien_kinh_te_bien_tu_thu.pdf