Luận văn Loại hình nhân vật truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái nhìn so sánh

LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu  
nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học trong luận văn chưa  
từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác  
Tác giả luận văn  
Hoàng Thị Tuyến  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn là  
TS. Ngô Thị Thanh Nga - Người đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi  
điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn.  
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ Văn, đặc biệt  
là các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy khóa 26 chuyên ngành Văn học Việt Nam,  
các cán bộ khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều  
kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập.  
Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn bè. Đó chính là  
nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn.  
Thái Nguyên ngày 15 tháng 9 năm 2020  
Tác giả luận văn  
Hoàng Thị Tuyến  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
- Lý do khoa học:  
Truyện Nôm là một thể loại văn học có số lượng tác phẩm đồ sộ và nở rộ vào  
khoảng thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX. Đây là một thể loại giàu thành tựu của văn học  
Việt Nam trung đại góp phần quan trọng cho sự trưởng thành của văn học Việt Nam  
sau một quá trình dài tìm đường, tiếp nhận và sáng tạo không ngừng. Về cơ bản,  
truyện Nôm được các nhà nghiên cứu phân chia thành hai loại là truyện Nôm bác học  
và truyện Nôm bình dân. Cùng thuộc một thể loại, bên cạnh những nét tương đồng  
truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân lại có những nét khác nhau từ nội dung  
thể hiện đến tư duy nghệ thuật, trong đó loại hình nhân vật là một trong những phương  
diện thể hiện khá rõ nét tương đồng và dị biệt ấy.  
- Lí do thực tiễn:  
Truyện Nôm được dạy nhiều trong chương trình phổ thông, nhất là Truyện Kiều.  
Vì thế, việc tìm hiểu vấn đề “Loại hình nhân vật truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình  
dân dưới cái nhìn so sánh” sẽ giúp cho người viết hiểu sâu sắc hơn về một thể loại đặc  
sắc của văn học dân tộc, đặc biệt là Truyện Kiều. Qua đó sẽ giúp cho việc dạy các tác  
phẩm truyện Nôm ở trường phổ thông có chiều sâu và hiệu quả hơn.  
Với những lí do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Loại hình nhân vật truyện  
Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái nhìn so sánh” để nghiên cứu.  
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu  
Truyện Nôm là một bộ phận văn học khá độc đáo và có giá trị của nền văn học  
trung đại Việt Nam. Đây là một loại hình tự sự có khả năng phản ánh hiện thực với  
một phạm vi tương đối rộng. Vì vậy, nghiên cứu truyện Nôm là cả “một chặng đường  
lịch sử”. Bởi truyện Nôm là cả một thể loại lớn với quá trình phát triển lâu dài, việc  
nghiên cứu truyện Nôm là một vấn đề phức tạp nhưng rất được giới nghiên cứu quan  
tâm và tìm hiểu. Trải qua một thời gian dài trên dưới 200 năm, việc tìm hiểu và nghiên  
cứu truyện Nôm đã đem đến cho chúng ta nhiều cách hiểu và nhiều góc độ nhìn nhận  
khác nhau để từ đó chúng ta thấy được nhiều phương diện khác nhau của nghệ thuật  
cũng như nhân sinh.  
1
     
Các truyện Nôm bác học như Truyện Kiều, Sơ kính tân trang, Hoa tiên kí và  
các truyện Nôm bình dân như Thạch Sanh, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân -  
Cúc Hoa đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu nhưng trên phương diện “Loại hình  
nhân vật truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái nhìn so sánh" thì thực  
sự chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu. Sự nghiên cứu của giới nghiên cứu hầu hết  
chỉ tập trung vào nhiều vấn đề cụ thể về ngôn ngữ, về hình tượng thiên nhiên,…hoặc  
khái quát về nội dung và nghệ thuật ở các tác phẩm riêng lẻ, hoặc cũng có những  
chuyên luận, luận án đặt các tác phẩm cụ thể trong dòng truyện Nôm để thấy được sự  
tiếp biến kế thừa những đặc trưng của thể loại.  
Truyện Nôm bác học là những tác phẩm có tên tác giả, số lượng những truyện  
Nôm bác học khuyết danh rất ít. Đối tượng sáng tác của truyện Nôm bác học là tầng  
lớp quý tộc, những người có trình độ học vấn cao. Điều này chi phối nội dung được  
phản ánh trong tác phẩm cũng như đặc trưng về trình độ nghệ thuật. Nếu như truyện  
Nôm bác học là sản phẩm trí tuệ của những trí thức phong kiến thì truyện Nôm bình  
dân lại là những sáng tác của tầng lớp trí thức bình dân. Họ có thể là những người  
cũng từng học đạo thánh hiền nhưng không đỗ đạt làm quan, đó có lẽ là những ông đồ  
làm nghề dạy học ở xã hội phong kiến Việt Nam xưa. Trong luận văn này, tôi nghiên  
cứu tìm hiểu 6 tác phẩm tiêu biểu của truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học là:  
Truyện Kiều, Sơ kính tân trang, Hoa tiên kí và các truyện Thạch Sanh, Thoại Khanh -  
Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa. Nghiên cứu về những tác phẩm truyện Nôm trên,  
chúng ta có thể gặp một số công trình đáng chú ý như:  
Trong bài viết “Nhân vật Thuý Kiều trong đoạn kết Truyện Kiều nhìn theo quan  
điểm văn hoá giới thời trung đại” (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6/2010), tác giả Bùi  
Thị Hồng đã nghiên cứu về kết cục của nhân vật Thúy Kiều và khẳng định: “Truyện  
Kiều được cấu trúc theo mô hình ba đoạn: hội ngộ, tai biến, đoàn viên. Ai cũng biết là  
trong đoạn kết thúc đại đoàn viên, Thuý Kiều gặp lại Kim Trọng sau mười lăm năm  
lưu lạc của một thân phận kỹ nữ. Câu chuyện thoạt nhìn có cái không khí của kiểu kết  
thúc có hậu, song thực ra, cuộc đời đau khổ của nàng Kiều vẫn còn tiếp tục. Kiều một  
mực từ chối không sống như vợ chồng với Kim Trọng, dẫu cho chàng Kim tha thiết  
khẩn cầu nàng. Rút cục, vị cay đắng vẫn thấm đượm tận đáy lòng Kiều” [22, tr.52].  
Đoạn đại đoàn viên ghi lại chân thực quan niệm trinh tiết Nho giáo đã ăn sâu vào cả  
2
cách nghĩ của người phụ nữ, nó là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tấn bi  
kịch của nàng Kiều ngay trong hồi đại đoàn viên. Thuý Kiều tự nguyện gánh chịu tất  
cả khổ nạn do quan niệm trinh tiết mà nam giới đã áp đặt cho người phụ nữ với một  
niềm xác tín là người đàn ông như Kim Trọng không thể sống với một người phụ nữ  
thất tiết. Những lời xót xa của nàng Kiều đòi hỏi một sự suy nghĩ nghiêm túc về trách  
nhiệm của những người đàn ông đối với vấn đề trinh tiết của phụ nữ thay vì bình thản  
chứng kiến người phụ nữ phải gánh chịu hậu quả đến mức phải hy sinh cả hạnh phúc  
của họ. Vấn đề là tại sao chỉ có người phụ nữ phải tuân thủ tiết hạnh? Và, tại sao người  
phụ nữ lại chỉ có giá trị với điều kiện bắt buộc là phải có tiết hạnh? Dường như nhà thơ  
vĩ đại muốn đặt những câu hỏi khá bức bối này của tư tưởng nữ quyền trong phần đại  
đoàn viên của Truyện Kiều. Đó cũng là một phương diện mang giá trị lớn về nội dung  
chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du.  
Trong bài viết Về cách xây dựng nhân vật trong truyện Nôm của tác giả Bùi Thị  
Ngọc Hà đã nhận định: “Các nhân vật trong truyện Nôm bình dân, truyện Nôm bác  
học đều có sự phân tuyến đối lập về tính cách. Cách xây dựng nhân vật phân tuyến là  
sự lý giải cho quy luật nhân quả, một kiểu xây dựng nhân vật trong truyện kể dân gian.  
Các nhân vật thiện với những đức tính, phẩm chất tốt đẹp sẽ được hưởng hạnh phúc  
xứng đáng. Những nhân vật ác với những hành động xấu xa sẽ bị trừng trị thích đáng.  
Gieo nhân nào thì gặt quả ấy là vấn đề cốt lõi trong việc xây dựng hành động nhân vật  
truyện Nôm” [9, tr.55].  
Cũng trong bài viết này, tác giả cũng chỉ ra những đặc trưng bổi bật của hệ  
thống nhân vật truyện Nôm nói chung. Đó là “Thứ nhất nhân vật được xây dựng theo  
khuôn mẫu. Thứ hai, mỗi nhân vật, dù được miêu tả đạt tới bề dày tính cách thì cũng  
chỉ là tính cách nhất phiến. Toàn bộ tính cách của nhân vật được ấn định một cách  
tiên nghiệm ngay từ trong ý đồ tác giả và cố định trong suốt tác phẩm. Biến cố mà  
nhân vật trải qua chỉ là những sự kiện hầu như ngoại tại, thuần túy đối với tính cách,  
được gá hờ vào cốt truyện, làm thành những cơ hội để nhân vật phô ra những gì đã  
được tác giả chuẩn bị sẵn, từ trước khi hạ sinh ra nhân vật. Đặc điểm thứ ba, trong  
tác phẩm, nhân vật bao giờ cũng được chia ra, xếp vào hai tuyến thiện - ác, chính - tà,  
tốt - xấu. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng giữa truyện Nôm bác  
học và truyện Nôm bình dân là sự quy định chung về đặc trưng của thể loại truyện  
3
Nôm như: mô hình cấu trúc, vấn đề kết thúc có hậu, nhân vật, các môtip dân gian,  
phong cách ngôn ngữ, phương thức sáng tác và lưu truyền… Các tác giả văn học  
trung đại khi đi vào sáng tác đã tuân thủ chặt chẽ những quy định chung đó. Vì thế đã  
tạo nên tính tương đồng giữa truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân trên một số  
phương diện, trong đó có cách xây dựng nhân vật” [9, tr.56].  
Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch, trong Truyện Nôm - lịch sử hình thành và  
bản chất thể loại đã chỉ rõ: “Dù là truyện Nôm bác học (hoặc hữu danh) hay truyện  
Nôm bình dân (hoặc khuyết danh), xét cho cùng, chúng cũng vẫn nằm trong khuôn  
hình của thể loại truyện Nôm, vẫn có chung một số thuộc tính nhất định của thể loại  
này. Do đó, giữa chúng vẫn không thể không tồn tại một vùng giáp ranh tương đồng  
giữa hai vòng tròn phân loại” [17, tr.70].  
Về truyện Nôm Tống Trân - Cúc Hoa, tác giả Đặng Thanh Lê trong bài viết  
“Nhân vật phụ nữ qua một số truyện Nôm” đăng trên Tạp chí Văn học, số 2/1968 cũng  
đã tìm hiểu và nghiên cứu về phương diện nguồn gốc, bản chất, nghệ thuật và nhân vật  
nhưng chưa có được cái nhìn khái quát.  
Trong luận văn thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam Thi pháp xây dựng nhân  
vật phản diện trong một số truyện nôm bình dân, tác giả Triệu Thị Mỹ đã phân tích về  
thi pháp xây dựng nhân vật phản diện trong một số truyện Nôm bình dân, đem đến cho  
người đọc những hiểu biết quý giá về nhân vật phản diện trong một số truyện Nôm  
bình dân.  
Như vậy có thể nói, truyện Nôm là tài sản lớn, là thành tựu xuất sắc của văn  
học dân tộc. Chính vì thế thể loại này đã thu hút được sự quan tâm của các nhà  
nghiên cứu với nhiều bài viết và chuyên luận giá trị. Tuy nhiên, đặt loại hình nhân  
vật trong truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái nhìn so sánh để  
nghiên cứu thì chưa có một công trình nào đề cập đến. Vì vậy, chúng tôi chọn lựa  
loại hình nhân vật trong truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái nhìn  
so sánh làm đề tài nghiên cứu của luận văn này.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
Mục đích nghiên cứu của chúng tôi khi thực hiện luận văn này là nhằm làm rõ  
những điểm tương đồng, khác biệt về phương diện nhân vật của truyện Nôm bác học  
và truyện Nôm bình dân. Qua đó khẳng định sự phong phú đa dạng của thể loại truyện  
4
 
Nôm nói chung và một phương diện cụ thể của truyện Nôm nói riêng - đó là loại hình  
nhân vật. Từ đó góp phần giúp cho các giáo viên dạy tốt hơn về các tác phẩm thuộc  
thể loại truyện Nôm trong chương trình phổ thông.  
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm:  
- Vấn đề về truyện Nôm: Tìm hiểu chung về những vấn đề chung có liên quan  
tới đề tài như một số vấn đề truyện Nôm, loại hình nhân vật,vài nét khái quát về nội  
dung các truyện Nôm tiêu biểu.  
- Khái quát các tác phẩm truyện Nôm trong phạm vi nghiên cứu.  
- Tìm hiểu, phân tích những điểm tương đồng và dị biệt về loại hình nhân vật  
trong ba truyện Nôm bác học gồm Truyện Kiều của Nguyễn Du, Sơ kính tân trang của  
Phạm Thái, Hoa tiên kí của Nguyễn Huy Tự và ba truyện Nôm bình dân gồm ba tác  
phẩm: Thạch Sanh, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái  
nhìn so sánh.  
- Phạm vi nghiên cứu:  
+ Phạm vi vấn đề nghiên cứu: loại hình nhân vật.  
+ Phạm vi tư liệu nghiên cứu: Số lượng truyện Nôm rất lớn, trong luận văn này,  
chúng tôi lựa chọn sáu tác phẩm tiêu biểu, trong đó truyện Nôm bác học gồm: Truyện Kiều  
của Nguyễn Du, Sơ kính tân trang của Phạm Thái, Hoa tiên kí của Nguyễn Huy Tự; truyện  
Nôm bình dân gồm: Thạch Sanh, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
Ngoài việc vận dụng lý luận về phương pháp nghiên cứu, đề tài này còn sử  
dụng các phương pháp và các thao tác cụ thể như sau:  
- Phương pháp thống kê phân loại:  
+ Thống kê các nhân vật nhằm cung cấp những số liệu chính xác, tạo cơ sở tin  
cậy cho những kết luận của luận văn.  
+ Phân loại nhân vật: Nhân vật chính diện, nhân vật phản diện và nhân vật  
trung gian.  
- Phương pháp liên ngành: Chịu ảnh hưởng của nhiều ngành khác. Đó là  
phương pháp nghiên cứu lịch sử - văn hóa học để xác định mối tương quan giữa hình  
5
   
tượng nhân vật trong tác phẩm và sự liên hệ với hiện thực đời sống, bối cảnh văn hóa -  
xã hội đương thời.  
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Phân tích nhân vật trong tác phẩm  
truyện Nôm để thấy được sự giống và khác nhau giữa loại hình nhân vật trong truyện  
Nôm bác học và truyện Nôm bình dân.  
- Phương pháp so sánh: để chỉ ra sự tương đồng và sự khác biệt của nhân vật  
trong truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân.  
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng đan xen, phối hợp hài hòa các  
phương pháp trên để làm rõ nội dung vấn đề nghiên cứu.  
6. Đóng góp mới của luận văn  
Từ việc nghiên cứu truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái nhìn  
so sánh thông qua các tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, Sơ kính tân trang của  
Phạm Thái, Hoa tiên kí của Nguyễn Huy Tự; truyện Nôm bình dân gồm: Thạch Sanh,  
Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa, luận văn là nghiên cứu khá đầy đủ  
về vấn đề nhân vật, phân tích những điểm tương đồng và dị biệt về loại hình nhân vật  
giữa truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân.  
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần xây dựng đánh giá về truyện  
Nôm. Những đánh giá về tác giả, tác phẩm thuộc tiểu loại truyện Nôm cũng từ đó góp  
thêm một tiếng nói vào diễn trình nghiên cứu truyện Nôm vốn đã, đang và vẫn có sức  
hấp dẫn đối với những người quan tâm đến di sản văn học của ông cha.  
Ngoài ra, những vấn đề khoa học được nghiên cứu và trình bày trong luận văn  
này là tư liệu tham khảo có ý nghĩa thiết thực cho quá trình nghiên cứu, học tập, giảng  
dạy trong nhà trường các cấp.  
7. Cấu trúc của luận văn  
Luận văn ngoài Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, Nội dung gồm ba chương:  
Chương 1: Những vấn đề chung có liên quan đến đề tài.  
Chương 2: Nhân vật truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân - Những  
điểm tương đồng.  
Chương 3: Nhân vật trong truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân -  
Những điểm dị biệt.  
6
   
NỘI DUNG  
Chương 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI  
1.1. Khái quát một số vấn đề về truyện Nôm  
Truyện Nôm là thể loại thuộc loại hình tự sự, là thể loại tiêu biểu của văn học  
trung đại Việt Nam. Những tác phẩm truyện Nôm xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVI  
đến thế kỷ XIX đều mang nội dung tư tưởng tiến bộ với hình thức nghệ thuật mang  
tính dân tộc như chữ Nôm, thể thơ lục bát. Truyện Nôm thể hiện sâu sắc truyền thống  
nhân đạo của người dân Việt Nam và là thể loại có vị trí quan trọng trong nền văn học  
dân tộc nói chung và văn học trung đại nói riêng.  
1.1.1. Khái niệm  
Truyện Nôm là một hiện tượng độc đáo và phức tạp. Trong giới nghiên cứu vẫn  
tồn tại ý kiến khác nhau về thuật ngữ định danh thể loại. Một số định danh được đưa ra đó  
là truyện Nôm, truyện Nôm, truyện dài, truyện ngâm, truyện quốc âm, truyện diễn ca, tiểu  
thuyết diễn ca,… trong đó gọi truyện Nôm, truyện Nôm là phổ biến, thông dụng.  
Theo Dương Quảng Hàm, truyện Nôm “là tiểu thuyết viết bằng văn vần”, sử  
dụng thể “lục bát”, “biến thể lục bát” [11, tr.202]. Xét thấy “tác phẩm phản ánh cuộc  
sống bằng phương thức tự sự”, Đặng Thanh Lê xếp thể loại này vào “hệ thống tự sự -  
tiểu thuyết”, “thể loại tiểu thuyết này sử dụng ngôn ngữ văn tự dân tộc: chữ Nôm và  
với tư cách tác phẩm tự sự bằng văn vần, đại bộ phận các tác phẩm đều sử dụng một  
thể loại thơ dân tộc - thể lục bát” [26, tr.55]. Còn Lê Trí Viễn và một số tác giả khác  
lại định nghĩa truyện Nôm “là những sáng tác văn học hầu hết có tính chất trung thiên  
tiểu thuyết, và viết bằng thể thơ lục bát, có khi bằng thất ngôn bát cú” [64, tr.227].  
Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch lại quan niệm: “Truyện Nôm cũng còn có thể  
được gọi là truyện thơ. Gọi là truyện Nôm chẳng qua là một cách gọi theo tập truyền,  
và là gọi theo hình thức ghi chép đặc thù của thể loại - đó là ghi chép bằng chữ Nôm.  
Còn gọi là truyện thơ là gọi theo bản chất thể loại - một loại hình tự sự” [17, tr.263].  
Nguyễn Hồng Quang đưa ra cách hiểu “đây là một loại văn học viết theo văn  
vần, có cốt truyện (tức là một loại tiểu thuyết văn vần)... Truyện Nôm sử dụng thể thơ  
lục bát là chủ yếu, song cũng có một số ít tác phẩm dùng thể Đường luật” [53, tr.23].  
7
       
Nhóm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam viết: “Truyện Nôm hoàn toàn  
dùng các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát” [21, tr.632].  
Trong Từ điển Văn học Việt Nam, truyện Nôm được định nghĩa là: “Một thể  
loại sáng tác tiếng Việt (chữ Nôm) thời trung đại, phát triển mạnh từ nửa sau thế kỷ  
XVIII và suốt thế kỷ XIX... Mỗi tác phẩm ở thể loại trước là một liên hoàn gồm một  
loạt bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt (thơ Đường luật)… Các tác phẩm thuộc  
loại sau hầu như hoàn toàn dùng thơ lục bát, chỉ đôi khi mới xen một vài đoạn ngắn  
các thể khác (như nói lối, thơ Đường luật, từ khúc)” [1, tr.491].  
Ngoài ra trong Từ điển thuật ngữ văn học, truyện Nôm được quan niệm là “thể  
loại tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế  
kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do viết bằng tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là  
truyện Nôm. Truyện Nôm có tác phẩm viết bằng thể thơ Đường luật… nhưng phổ biến  
nhất là viết bằng thể thơ lục bát” [12, tr.315].  
Như vậy, dù viết bằng những câu chữ khác nhau, nhưng tựu trung, những định  
nghĩa trên đã thể hiện được bản chất thể loại truyện Nôm và thống nhất ở mốt số điểm,  
dó là: truyện Nôm thuộc loại hình tự sự, được viết bằng chữ dân tộc (chữ Nôm) theo  
hình thức văn vần, theo thể lục bát (đôi khi xen đoạn thuộc thể thơ Đường luật, từ  
khúc…), thể Đường luật (thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt) nhưng chủ yếu là thể lục bát  
dân tộc. Ra đời và tồn tại với phương thức đầu tiên là truyện Nôm truyền khẩu, sau  
này các nhà nho bình dân và bác học dựa trên cơ sở cốt truyện đã có để tái tạo lại, vì  
thế truyện Nôm viết xuất hiện và phát triển. Giá trị của thể loại được khẳng định qua  
sức mạnh trường tồn với sự hâm mộ của quần chúng nhân dân nhiều thế hệ, kéo dài  
đến ngày nay.  
1.1.2. Nguồn gốc  
Về lịch sử, xã hội  
Các nhà nghiên cứu đã xác định truyện Nôm ra đời vào giai đoạn XVI - XVII  
và phát triển rực rỡ vào thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX. Đây là thời kì khủng hoảng  
trầm trọng, đi đến suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam. Đó là vào khoảng đầu thế  
kỉ XVI, nền chính trị của đất nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Vua chúa ăn chơi  
sa đọa, nội bộ lục đục, tranh giành quyền lực. Từ giữa thế kỉ XVII - đến hết thế kỉ  
XVIII, đất nước hai lần rơi vào cảnh chia cắt. Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân  
8
 
nổi lên, giường mối xã hội bị đe dọa nghiêm trọng. Hoàn cảnh chính trị đó đã góp  
phần quan trọng vào việc thay đổi hình thái tư tưởng của thời đại. Nó không chỉ làm  
suy yếu và sụp đổ hệ tư tưởng phong kiến mà còn nâng đỡ cho sự ra đời, phát triển của  
tinh thần dân chủ. Quần chúng nhân dân và một bộ phận nho sĩ tiến bộ đã nhận thấy  
được sự thối nát của xã hội, ý thức được quyền sống và sức mạnh của nhân dân. Đây  
chính là nguồn mạch tinh thần nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo và tư tưởng nhân văn  
trong truyện Nôm. Trong thời đại đầy biến động ấy những cuộc đấu tranh trong nội bộ  
giai cấp phong kiến, những cuộc đấu tranh giữa nông dân với giai cấp phong kiến  
thống trị diễn ra liên miên, không dứt là minh chứng cho sự đảo lộn trật tự cũ trong xã  
hội phong kiến.  
Kinh tế công thương nghiệp nước ta giai đoạn này phát triển cũng là lý do thúc  
đẩy sự xuất hiện của truyện Nôm. Giai đoạn từ thế kỉ XVI - thế kỉ XVIII, công thương  
nghiệp phát triển rộng khắp. Trong thời đại có nhiều biến động về chính trị - xã hội,  
những xung đột nội bộ không thể giải quyết, kinh tế hàng hóa phát triển kéo theo đó là  
vai trò của đồng tiền, lối sống thị dân đã tác động vào sự băng hoại ý thức hệ của giai  
cấp thống trị. Trong truyện Nôm có những chuyện như: vợ gian thông với đình trưởng  
để hắn thừa cơ cướp tiền giành dụm của chồng sao bao nhiêu năm đi làm ăn xa (Tống  
Trân - Cúc Hoa) chính là biểu hiện của của sự suy thoái đạo đức trong một xã hội vì  
đồng tiền.  
Đồng thời sự gia tăng của lối sống thị dân lại càng tác động mạnh mẽ vào sự  
băng hoại của ý thức hệ phong kiến. Và vì thế, những tư tưởng dân chủ, tiến bộ như  
tinh thần đấu tranh chống lại những lễ giáo phong kiến nghiệt ngã, cùng với tinh thần  
đấu tranh đòi tự do hôn nhân, đồi quyền sống cho người phụ nữ… được biểu hiện  
trong truyện Nôm cũng chính là bắt nguồn từ nền tảng kinh tế - xã hội của thời đại lịch  
sử này.  
Về văn hóa, nghệ thuật  
Sự ra đời của truyện Nôm gắn liền với các tiền đề văn hoá, nghệ thuật. Các loại  
hình dân gian phát triển mạnh mẽ nhất như nghệ thuật sân khấu cổ truyền, phù điêu  
dân gian, văn học dân gian được đề cao. Nhìn chung những nét sinh hoạt đời thường  
trần tục, bình dân đầy tính hiện thực được đưa vào các loại hình nghệ thuật như một tất  
yếu lịch sử. Trước đây, các nhà trí thức phong kiến cho rằng văn học dân gian chỉ là  
9
tài sản tinh thần của hạng thứ dân. Đến thời kỳ này, do ảnh hưởng tư tưởng dân chủ,  
nhiều nghệ sĩ tìm đến phương thức biểu đạt của loại hình này mà cụ thể là thể thơ lục  
bát và thể loại truyện cổ tích. Tất nhiên, trước khi dùng lục bát, truyện Nôm đã thể  
nghiệm ở thơ Đường luật trong vài ba tác phẩm nhưng không mấy thành công. Do  
không bị gò bó chặt chẽ ở phương diện niêm luật nên lục bát đã trở nên phù hợp trong  
việc đảm nhiệm vai trò kéo dài văn bản, đáp ứng nhu cầu tự sự, gần gũi với tư duy số  
đông chúng dân đương thời. Lục bát là thể thơ mà cha ông trong quá khứ đã chuẩn bị  
trước để ươm trồng truyện Nôm.  
Về mặt cốt truyện, liên quan chặt chẽ tới luồng gió dân chủ, thể loại tự sự dân  
gian có sẵn - truyện cổ tích trở thành nguồn cội của truyện Nôm. Cốt truyện cổ tích  
được bác học hóa, có chỗ đứng riêng, sinh mệnh mới trong dòng chảy văn học viết.  
Qua đó, có thể thấy, văn học trung đại Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với văn học  
dân gian. Truyện Nôm không đơn thuần là kết quả nội sinh của văn hóa tộc người  
Kinh ở Việt Nam mà nó còn được ra đời bởi sự giao lưu văn hóa. Việt Nam nằm trong  
vùng văn hóa khu vực phương Đông, có mối quan hệ với “vài ba nền văn học già” như  
Ấn Độ, Hi - La, đặc biệt với Trung Hoa. Vì vậy, văn học nước nhà ít nhiều ảnh hưởng  
từ những quốc gia này. Sự giao lưu văn hóa diễn ra qua con đường chính trị, đường  
ngoại thương, qua con đường đi sứ hoặc di dân khẩn thực… Bên cạnh văn liệu, văn  
học Việt Nam trung đại còn ảnh hưởng không nhỏ từ các học thuyết tôn giáo như Nho  
giáo, Phật giáo, Đạo giáo. “Cùng với văn học Trung Hoa, người Việt còn tiếp thu tinh  
hoa từ nền văn học Ấn Độ, đặc biệt là hệ tư tưởng Phật giáo, các loại hình văn học  
Phật giáo. Ngoài ra, chúng ta còn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp từ nền văn hiến  
các dân tộc lân cận như Champa, Lào, Campuchia, Thái Lan,…” [62, tr.35].  
Sự hình thành và phát triển của thể loại truyện Nôm không thể tách rời quá trình  
phát triển của văn học chữ Nôm và văn xuôi, văn vần nói riêng cũng như quá trình  
hình thành và phát triển của loại hình tự sự trong văn học Việt Nam nói chung. Truyện  
Nôm còn được hình thành từ quan điểm sáng tác của người nghệ sỹ. Từ đầu thế kỉ  
XVI đến thế kỉ XVIII, hiện thực xã hội thay đổi, ý thức hệ phong kiến suy tàn, phong  
trào đấu tranh của nông dân là cơ sở cho sự nảy sinh, khơi mào cho tinh thần dân chủ.  
Sự chuyển biến trong khuynh hướng tư tưởng xã hội, tư tưởng nhân văn của thời đại  
khúc xạ tới tư duy của người trí thức tiến bộ, từ đó, nhà văn có sự thay đổi quan niệm  
sáng tác, cách đánh giá con người và xã hội…  
10  
Truyện Nôm hình thành và phát triển, kết thúc sinh mệnh qua bốn giai đoạn  
sau: Cuối thế kỉ XV - đầu thế kỉ XVI, thế kỉ XVII, thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ  
XIX, cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.  
1.1.3. Phân loại  
Nghiên cứu truyện Nôm cùng với việc xác định bản chất của thể loại là một vấn  
đề phức tạp, không dễ đạt được sự thống nhất trong quan niệm của các nhà nghiên  
cứu. Cũng từ đó mà việc phân loại truyện Nôm trở nên hết sức khó khăn. Các nhà  
nghiên cứu đã dựa vào những tiêu chí nhất định để phân loại, và trong một chừng mực  
nào đó đều có điểm thuyết phục. Qua khảo cứu, chúng tôi nhận thấy việc phân loại  
truyện Nôm hiện nay tựu chung lại theo 4 hướng như sau:  
Thứ nhất: Dựa vào mối quan hệ với tác giả, có thể chia truyện Nôm thành hai  
loại là truyện Nôm hữu danh và truyện Nôm khuyết danh. Chẳng hạn: Thạch Sanh,  
Thoại Khanh - Châu Tuấn,… thuộc loại truyện Nôm khuyết danh; truyện Hoa tiên của  
Nguyễn Huy Tự, Truyện Kiều của Nguyễn Du,… thuộc loại truyện Nôm hữu danh.  
Tiêu biểu cho cách phân chia này là nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên. Thực ra lối  
phân chia này thuần túy chỉ mang tính chất hình thức, việc phân loại chưa thật sự  
mang tính khoa học.  
Thứ hai: Dựa vào nguồn gốc và thể tài, có 3 loại truyện Nôm:  
Truyện có nguồn gốc cổ tích, thần thoại (Tấm Cám, Tống Trân - Cúc Hoa…).  
Truyện có nguồn gốc từ kho tàng tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc (Song Tinh,  
Hoa tiên, Nhị Độ Mai, Truyện Kiều…).  
Truyện bắt nguồn từ thực tại đời sống xã hội Việt Nam hay sáng tạo trên sự hư  
cấu cảnh ngộ cuộc đời của chính tác giả (Sơ kính tân trang, Mai Đình mộng ký…).  
Mặc dù ý kiến của tác giả phần nào mang tính thuyết phục, nhưng về cơ bản cách phân  
loại ấy chưa giải quyết thật triệt để vấn đề đặc trưng thể loại của truyện Nôm.  
Thứ ba: Dựa vào nội dung và thể tài, có thể chia truyện Nôm thành năm loại:  
Loại truyện có tính chất lễ nghi, tôn giáo (Quan Âm Thị Kính, Sự tích Đức  
Chúa Ba…).  
Loại truyện lãng mạn hay còn gọi là truyện tài tử giai nhân (Hoa tiên, Phan  
Trần, Sơ kính tân trang…).  
Loại truyện thế sự có chủ đề hôn nhân và hạnh phúc gia đình, đấu tranh xã hội  
(Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa…).  
11  
 
Loại truyện về các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử (Ông Ninh cổ truyện, Chúa  
Thao cổ truyện…).  
Cuối cùng là loại truyện luân lí đạo đức (Trinh thử, Lưu Bình - Dương Lễ…).  
Tuy nhiên như chính tác giả luận án nhận định, “mỗi loại truyện này vẫn bao  
hàm trong chúng những yếu tố, tính chất của loại khác”, vì vậy mà việc phân loại  
“vẫn còn những điều cần bàn bạc thêm [43, tr.54].  
Thứ tư: Dựa vào nội dung và hình thức sáng tác, truyện Nôm được chia thành  
hai loại là truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học. Đây là ý kiến của nhiều nhà  
nghiên cứu như Nguyễn Lộc, Kiều Thu Hoạch, Trần Đình Sử…  
Mỗi cách phân loại truyện Nôm như đã thống kê trên đều có những ưu điểm và  
tồn tại nhất định, chỉ mang tính tương đối, không có cách phân loại nào là tuyệt đối.  
Đồng thời, ranh giới giữa hai loại truyện Nôm bình dân và bác học không phải lúc nào  
cũng rạch ròi, dứt khoát bởi các tiêu chí phân loại vẫn còn có độ co dãn nhất định. Song  
rõ ràng cách phân loại này đã cho thấy tính ưu việt của nó trong việc nêu bật nét khu  
biệt cũng như tiến trình phát triển của thể loại Truyện Nôm. Có lẽ vì vậy mà cách phân  
chia truyện Nôm thành hai loại truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học trở nên có  
sức thuyết phục hơn cả, được nhiều nhà nghiên cứu và học giả ủng hộ. Thực hiện đề tài,  
chúng tôi cũng xin được kế thừa việc phân loại truyện Nôm theo hướng này.  
Truyện Nôm bình dân hầu hết không có tên tác giả. Song có thể phỏng đoán tác  
giả của nó là những nho sĩ bình dân bởi căn cứ vào trình độ học vấn, trình độ tu dưỡng  
nghệ thuật, căn cứ vào cách nhìn nhận các vấn đề nhân sinh và xã hội được thể hiện  
trong tác phẩm. Cốt truyện trong các truyện Nôm bình dân thường dựa theo những câu  
chuyện cổ dân gian Việt Nam. Truyện Nôm bình dân sáng tác để kể là chính, được lưu  
truyền trong dân gian trước khi được in ra thành văn bản. Chính vì vậy, trong truyện  
Nôm bình dân, cách sử dụng ngôn ngữ, cách diễn đạt rất bình dị, dễ hiểu, gần với lời  
ăn tiếng nói của nhân dân lao động, thể hiện tâm tư, tình cảm, quan niệm, và cả những  
ước mơ, khát vọng của nhân dân. Truyện Nôm bình dân rất gần với truyện dân gian  
nhưng không phải là truyện dân gian. Về một mặt nào đó, có thể nói, truyện Nôm bình  
dân là chiếc cầu nối liền giữa văn học dân gian với truyện Nôm bác học. Những truyện  
Nôm bình dân được phổ biến rộng rãi trong dân gian là: Thạch Sanh, Tống Trân - Cúc  
Hoa, Lý Công, Tấm Cám, Thoại Khanh - Châu Tuấn,…  
12  
Truyện Nôm bác học phần lớn là có tên tác giả, chỉ có một số ít tác phẩm là  
khuyết danh. Tác giả của truyện Nôm bác học là những người thuộc giai cấp phong  
kiến quý tộc, trình độ học vấn uyên bác, có quá trình rèn luyện và tu dưỡng nghệ thuật.  
Khác với truyện Nôm bình dân, cốt truyện trong những truyện Nôm bác học chủ yếu  
mượn từ văn học cổ Trung Quốc, chỉ một số rất ít là được hư cấu.  
Truyện Nôm bác học được sáng tác theo phương thức của văn học thành văn,  
chủ yếu là để đọc nên các tác giả khá cầu kì, tinh tế trong cách diễn đạt, sử dụng nhiều  
điển tích, điển cố, ngôn ngữ trau chuốt, giàu hình ảnh, đạt đến trình độ nghệ thuật cao.  
Các tác phẩm truyện Nôm bác học tiêu biểu có thể kể đến là Hoa tiên kí của Nguyễn  
Huy Tự, Sơ kính tân trang của Phạm Thái, kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du,...  
Qua sự phân loại như trên, ta có thể khẳng định, thể loại truyện Nôm đã thể  
hiện được những đặc trưng riêng và để lại dấu ấn đặc biệt trong nền văn học trung đại  
Việt Nam. Những tác phẩm truyện Nôm thời trung đại đã góp phần quan trọng tạo nên  
sức sống, giá trị, bản sắc của văn học dân tộc Việt Nam trong mọi thời kì.  
1.2. Nhân vật và phân loại nhân vật trong tác phẩm văn học  
1.2.1. Nhân vật  
Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi đó chính là phương tiện cơ bản để nhà  
văn khái quát hiện thực một cách hình tượng. Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện  
nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, một loại người, một vấn đề nào đó của  
hiện thực. Vì thế, nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của  
đời sống trong một thời kì lịch sử nhất định.  
Thuật ngữ nhân vật xuất hiện từ rất sớm (tiếng Hy Lạp: persona, tiếng Anh:  
personage, tiếng Nga: personaj). Theo tiếng Hy Lạp cổ, persona lúc đầu có nghĩa là  
"chiếc mặt nạ" - một dụng cụ biểu diễn của diễn viên trên sân khấu. Về sau, từ này  
được dùng phổ biến hơn và trở thành thuật ngữ chỉ nhân vật văn học.  
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê thì nhân vật được hiểu theo hai nghĩa:  
Thứ nhất nhân vật là đối tượng (thường là con người) được miêu tả thể hiện trong tác  
phẩm văn học. Thứ hai, đó là người có vị trí nhất định trong xã hội. Tức thuật ngữ  
nhân vật được dùng phổ biến ở nhiều mặt cả trong đời sống xã hội, đời sống nghệ  
thuật lẫn trong đời sống sinh hoạt.  
13  
   
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán chủ biên) nhân vật văn học là  
con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Đó chính là nơi “tác giả  
gửi gắm thông điệp và độc giả tiếp nhận,“giải mã” những vấn đề hiện thực cốt  
yếu đặt ra trong tác phẩm" [12, tr.235], nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật  
đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống.  
Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người.  
Nhân vật văn học còn thể hiện quan điểm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà  
văn về con người. Vì thế, nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm.  
Theo cuốn Lí luận văn học (tập 2) (Trần Đình Sử chủ biên), nhân vật văn  
học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm  
văn học - cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện  
riêng của nghệ thuật ngôn từ [57, tr.114]. Nhân vật văn học luôn hiện hữu trong  
các tác phẩm văn học. Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, bà Hiền, chị  
Bơ... hay những nhân vật không tên như chị vợ của Tràng trong Vợ nhặt của  
Kim Lân, thằng bán tơ trong Truyện Kiều, nhân vật bà cô trong Nếp nhà của  
Nguyễn Khải... Nhân vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau  
nhất. Đó có thể là những con người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội  
tâm, có tính cách, có tiểu sử như một khách thể thường thấy trong tác phẩm tự  
sự, kịch. Đó có thể là những người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại có tiếng  
nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi  
niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình.  
Nhân vật do đó không chỉ là hình thức cơ bản thể hiện quan niệm nghệ  
thuật về con người mà còn là hình thức cơ bản để khái quát những qui luật của  
đời sống và là nơi tập trung mọi giá trị - tư tưởng của nghệ thuật. Qua nhân vật,  
người đọc có thể hiểu được tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm và cá tính sáng tạo  
của nhà văn. Nhân vật là đứa con tinh thần, là sản phẩm, là vốn sống trực tiếp  
của nhà văn, là nơi thể hiện rõ nhất quan điểm nghệ thuật cũng như quan niệm  
của nhà văn về cuộc đời và con người.  
Pautopxki đã nói rằng những nhân vật và những tính cách sinh động chính là  
tấm huân chương cao quí của mỗi nhà văn. Thực vậy, nhân vật giữ một vai trò hết  
14  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 114 trang yennguyen 15921 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Loại hình nhân vật truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái nhìn so sánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_loai_hinh_nhan_vat_truyen_nom_bac_hoc_va_truyen_nom.pdf