Tóm tắt Luận án Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing tại khu vực nội thành Hà Nội

1
CHƯƠNG 1  
MỞ ĐẦU  
*****  
1.1 Tính cấp thiết của đề tài  
Ra đời ở Mỹ vào năm 2004 và lần đầu tiên được triển khai ở Việt Nam vào năm  
2006, Mobile Marketing hay Marketing qua điện thoại di động đã và đang tạo được nhiều  
ấn tượng đối với thị trường quảng cáo Việt Nam. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, người  
sử dụng điện thoại di động - đối tượng của hoạt động Mobile Marketing hoàn toàn bị  
động, thiếu thông tin, bị làm phiền và hoang mang trước những tin nhắn “rác” hay những  
tin nhắn giả quảng cáo để lừa đảo. Do đó, đã có những phân tích nhận định cho rằng:  
Mobile Marketing và quảng cáo qua tin nhắn không có tương lai ở thị trường Việt Nam  
(Mạng Quảng Bá 2011) hay Quảng cáo qua điện thoại di động – Vẫn chỉ là tiềm năng  
(Intermark, 2010). Tuy nhiên, Mobile Marketing đang là một trong những kênh Marketing  
mới đầy hấp dẫn với các doanh nghiệp kinh doanh và ngành dịch vụ quảng cáo.  
Cũng giống như các kênh Marketing truyền thống khác, hoạt động Mobile  
Marketing chỉ có thể phát triển được với các điều kiện mang tính hỗ trợ sau: (1) người tiêu  
dùng có thái độ và hành vi tích cực đối với nó và (2) doanh nghiệp, các công ty Marketing  
có kế hoạch và chiến lược triển khai phù hợp, (3) các cơ quan quản lý nhà nước tạo hành  
lang pháp lý thuận lợi cho nó phát triển. Rõ ràng, về cả lý thuyết và thực tiễn rất cần có  
những nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng đối với Mobile Marketing để có những  
giải pháp phù hợp nhằm phát triển hoạt động Mobile Marketing tại Việt Nam. Vì vậy, tác  
giả quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi người  
tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing tại khu vực nội thành Hà Nội” làm luận  
án tiến sĩ của mình.  
1.2 Mục đích, nhiệm vụ của nghiên cứu  
1.2.1 Mục đích nghiên cứu  
Luận án tập trung vào các mục đích chính, cụ thể là:  
- Tìm hiểu và hệ thống hóa những lý thuyết cơ bản về Mobile Marketing  
- Tổng kết, so sánh, đánh giá, phân tích các mô hình lý thuyết có trước về  
hành vi người tiêu dùng và các nhân tố ảnh hưởng tới chúng, từ đó lựa chọn  
mô hình lý thuyết nền tảng phù hợp nhất cho nghiên cứu;  
- Xây dựng mô hình nghiên cứu hành vi và các nhân tố ảnh hưởng đến hành  
vi của người tiêu dùng ở khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động  
Mobile Marketing;  
2
- Đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến hành vi  
người tiêu dùng nội thành Hà Nội đối với Mobile Marketing;  
- Đưa ra các đề xuất, kiến nghị đối với doanh nghiệp sử dụng kênh Mobile  
Marketing, các công ty cung cấp dịch vụ Mobile Marketing, các công ty  
công nghệ di động, nhà mạng và các cơ quan quản lý nhà nước.  
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu  
Để thực hiện được các mục đích chính được xác định ở trên, luận án có những  
nhiệm vụ cụ thể sau:  
- Tổng kết và hệ thống hóa những khái niệm, định nghĩa, quan điểm, lý thuyết  
về Mobile Marketingđã được phát triển trên thế giới.  
- Giới thiệu, đánh giá các mô hình lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng  
nói chung và hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động Marketing điện tử  
và Mobile Marketing nói riêng.  
- Xác định những hành vi chủ yếu của người tiêu dùng Việt Nam đối với hoạt  
động Mobile Marketing.  
- Xây dựng mô hình lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi của người  
tiêu dùngViệt Nam đối với hoạt động Mobile Marketing.  
- Tiến hành điều tra, khảo sát và nghiên cứu thực tế hành vi của người tiêu  
dùng tại khu vực nội thành Hà Nội để kiểm chứng mức độ ảnh hưởng của  
các nhóm nhân tố tới thái độ và hành vi của họ đối với hoạt động Mobile  
Marketing.  
- Đề xuất một số giải pháp cho các doanh nghiệp, công ty cung cấp dịch vụ  
Mobile Marketing để khai thác, sử dụng hiệu quả kênh Marketing này.  
- Đóng góp ý kiến cho các cơ quan quản lý nhà nước, nhà mạng viễn thông để  
một mặt tăng cường công tác quản lý, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho  
người tiêu dùng, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hoạt  
động Mobile Marketing.  
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
1.3.1 Đối tượng  
Căn cứ trên mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận án xác định đối tượng nghiên  
cứu của luận án bao gồm ba đối tượng cụ thể là:(1) Hoạt động Mobile Marketing tại khu  
vực nội thành Hà Nội, (2) Hành vi của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với  
hoạt động Mobile Marketing và (3) Các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của  
người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing.  
3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu  
- Về mặt nội dung: Luận án xác định phạm vi nghiên cứu tập trung vào các vấn đề  
liên quan đến hành vi của người tiêu dùng cá nhân đối với hoạt động Mobile  
Marketing như: thái độ, hành vi và các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ, hành vi của  
họ. Tuy nhiên, trong các dịch vụ của Mobile Marketing, người tiêu dùng Việt Nam  
tiếp xúc chủ yếu với hoạt động quảng cáo qua tin nhắn, vì vậy nội dung khảo sát sẽ  
tập trung vào những câu hỏi đối với hoạt động quảng cáo qua tin nhắn và coi đây là  
đại diện cho quan điểm của họ đối với Mobile Marketing nói chung.  
- Về mặt thời gian: Toàn bộ nghiên cứu được thực hiện trong 4 năm từ tháng 10  
năm từ 2007 đến tháng 10 năm 2011. Tuy nhiên, hoạt động điều tra xã hội học đối  
với người tiêu dùng được thực hiện trong vòng 2 tháng từ tháng 4/2011 đến tháng  
5/2011. Điều này nhằm đảm bảo tính thời sự cho kết quả nghiên cứu.  
1.4 Tình hình nghiên cứu  
Trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu thực hiện hoạt động nghiên cứu về lĩnh  
vực Mobile Marketing, tiêu biểu là một số nghiên cứu sau: (1) Nghiên cứu của Tsang và  
đồng nghiệp, thực hiện năm 2004 về thái độ và hành vi của người tiêu dùng đối với quảng  
cáo qua điện thoại di động, (2) nghiên cứu của Dickinger và Haghirian (2004) về nghiên  
cứu mô hình lý thuyết của quảng cáo qua tin nhắn SMS, (3) nghiên cứu của Leppäniemi  
(2006) đối với việc ứng dụng và triển khai Mobile Marketing, (4) nghiên cứu của Iddris  
(2006) về việc sử dụng Mobile Marketing trong hoạt động Marketing B2C, (5) nghiên cứu  
của Suher (2009) về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quảng cáo qua tin nhắn SMS  
tại Thổ Nhĩ Kì, (6) nghiên cứu của AlEnezi (2010) về các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi,  
phản ứng của người tiêu dùng Kuwait đối với Mobile Marketing…  
Ở Việt Nam, tác giả chưa tìm thấy bất kì một nghiên cứu lý thuyết và thực tế nào  
trùng với nội dung nghiên cứu của luận án.  
1.5 Phương pháp và câu hỏi nghiên cứu  
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu  
Nội dung chi tiết của phần này sẽ được cụ thể hóa trong chương 3: Phương pháp  
nghiên cứu  
1.5.2 Câu hỏi nghiên cứu  
Luận án có 5 câu hỏi nghiên cứu chính là:  
- Bản chất, nội dung và điều kiện phát triển của kênh Mobile Marketing?  
- Thực trạng hoạt động Mobile Marketing tại khu vực nội thành Hà Nội như  
thế nào?  
4
- Người tiêu dùng ở khu vực nội thành Hà Nội có những hành vi gì đối với  
Mobile Marketing?  
- Có những nhân tố nào ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của người tiêu dùng  
tại khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing và mức  
độ tác động của từng nhân tố?  
- Có sự khác biệt nào về hành vi đối với hoạt động Mobile Marketing giữa các  
nhóm người tiêu dùng khác nhau?  
1.6 Những đóng góp mới của luận án  
Kết quả nghiên cứu của luận án có một số đóng góp mới, quan trọng sau:  
- Xác định những hành vi chủ yếu của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà  
Nội đối với hoạt động Mobile Marketing gồm hai nhóm: Nhóm hành vi  
được thực hiện ngay khi người tiêu dùng nhận được tin nhắn và nhóm hành  
vi thực hiện sau khi người tiêu dùng mở tin nhắn quảng cáo.  
- Bổ sung nhân tố kinh nghiệm vào nhóm các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến  
hành vi người tiêu dùng đối với Mobile Marketing.  
- Xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ, hành vi của người  
tiêu dùng đối với Mobile Marketing.  
- Sử dụng kết quả điều tra thực tế tại khu vực nội thành Hà Nội để phân tích,  
đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến hành vi người tiêu dùng  
đối với Mobile Marketing:  
- Đưa ra một số đề xuất, kiến nghị cho các đơn vị tham gia vào quá trình cung  
cấp dịch vụ Mobile Marketing.  
1.7 Kết cấu của luận án  
Luận án gồm 5 chương:  
- Chương 1: Mở đầu  
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết  
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu  
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu  
- Chương 5: Đề xuất, kiến nghị  
5
CHƯƠNG 2  
CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
*****  
I. LÝ THUYẾT VỀ MOBILE MARKETING  
2.1 Thống nhất quan điểm sử dụng thuật ngữ Mobile Marketing  
Có 3 điểm cần thống nhất trong cách sử dụng thuật ngữ Mobile Marketing là:  
- Ý nghĩa của những từ ngữ cấu thành lên thuật ngữ Mobile Marketing  
- Phân biệt thuật ngữ Mobile Marketing với thuật ngữ Wireless Marketing.  
- Lựa chọn một trong hai thuật ngữ Mobile Marketing và Mobile Advertising  
2.2 Khái niệm Mobile Marketing  
Theo MMA Global (Hiệp hội Mobile Marketing toàn cầu):  
“Mobile Marketing là việc sử dụng điện thoại di động như một kênh thông  
tin, truyền thông, giải trí kết nối giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng.  
Mobile Marketing là một kênh Marketing có tính chất tự động, trực tiếp,  
tương tác, hướng đối tượng và bất kỳ lúc nào, bất kỳ đâu”  
Dickinger và Haghirian (2004) cho rằng:  
“Mobile Marketing là việc sử dụng phương tiện truyền thông tương tác  
không dây để cung cấp cho khách hàng những thông tin đã được cá nhân  
hóa với mục tiêu xúc tiến hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ và mang lại giá  
trị cho các cổ đông.”  
Tổng kết lại, khái niệm Mobile Marketing bao gồm ba nội dung chính:  
- Mobile Marketing là việc đơn vị tổ chức chiến dịch Marketing sử dụng điện  
thoại di động làm công cụ thực hiện các chương trình Marketing.  
- Mobile Marketing là cầu nối giữa đơn vị Marketing và người tiêu dùng. Thông  
qua đó doanh nghiệp và người tiêu dùng có thể tương tác với nhau.  
- Mobile Marketing là công cụ được cá nhân hóa giúp doanh nghiệp tiếp cận  
người tiêu dùng bất ở kỳ đâu và vào bất kỳ thời gian nào .  
2.3 Đặc trưng của Mobile Marketing  
Mobile Marketing có bốn đặc điểm cơ bản là: (1) mọi lúc mọi nơi, (2) hướng đối  
tượng, (3) hỗ trợ khả năng tương tác hai chiều và kết nối thời gian thực và (4) kênh  
Marketing được cá nhân hóa cao. Leppaniemi (2008) bổ sung: (5) Mobile Marketing  
không phải là thư rác.  
6
2.4 Quy trình triển khai hoạt động Mobile Marketing  
Theo Mobile Marketing Watch (2007), quy trình triển khai hoạt động Mobile  
Marketing bao gồm 3 bước.  
1
Đơn vị thực hiện chương  
trình Mobile Marketing  
Người tiêu dùng  
2
3
Cơ sở dữ liệu khách hàng và  
Mobile Marketing Server  
Người tiêu dùng  
Hình 2.1: Quy trình triển khai hoạt động Mobile Marketing  
(Nguồn: Mobile Marketing Watch, 2007)  
2.4.1 Bước 1: Chuẩn bị chiến dịch  
Bước này bao gồm 4 nội dung chính, cụ thể như sau:  
2.4.1.1 Xác định ý tưởng chủ đạo  
Doanh nghiệp xây dựng định hướng chung cho toàn bộ chiến dịch: (1) xác định  
nhóm khách hàng mục tiêu, (2) nội dung thông điệp cần chuyển tải , (3) kế hoạch tích hợp  
chiến dịch Mobile Marketing vào tổng hòa Marketing Mix của doanh nghiệp.  
2.4.1.2 Lựa chọn từ khóa nhắn tin  
Từ khóa nhắn tin (keyword) giúp người tiêu dùng nhận biết, ghi nhớ chương trình  
Mobile Marketing và tăng khả năng nhận dạng thương hiệu của doanh nghiệp.  
2.4.1.3 Lựa chọn và thuê đầu số tổng đài nhắn tin  
Đầu số được lựa chọn sẽ là đầu số nhận tin nhắn đăng ký tham gia của khách hàng  
và cũng là đầu số thực hiện Mobile Marketing của chương trình.  
2.4.1.4 Xây dựng kịch bản Mobile Marketing  
Mobile Marketing có năm nhóm kịch bản chính, đó là: (1) quảng cáo trên điện  
thoại di động, (2) phiếu khuyến mại trên điện thoại di động, (3) quản lý quan hệ khách  
7
hàng qua điện thoại di động, (4) điều tra thị trường qua điện thoại di động và (5) nhắn tin  
trúng thưởng.  
2.4.1.5 Quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng  
Chương trình quảng bá cần làm rõ bốn nội dung chính bao gồm: (1) nội dung cơ  
bản của hoạt động Mobile Marketing mà doanh nghiệp đang định thực hiện là gì? (2)  
người tiêu dùng phải nhắn tin đến đầu số nào để đăng ký tham gia chương trình? (3) từ  
khóa của chương trình là gì? và (4) người tiêu dùng được hưởng lợi ích gì khi tham gia  
chương trình?.  
2.4.2 Bước 2: Triển khai chiến dịch  
2.4.2.1 Xây dựng cơ sở dữ liệu cho chương trình Mobile Marketing  
Trước khi thực hiện bất kì hoạt động Mobile Marketing, doanh nghiệp cần tiến hành  
xây dựng cơ sở dữ liệu riêng cho chương trình. Cơ sở dữ liệu phải có những nội dung cơ  
bản như: số điện thoại, tuổi, giới tính, khu vực sinh sống và đăng ký của người tiêu dùng.  
2.4.2.2 Thực hiện kịch bản Marketing:  
Dựa trên kịch bản được hệ thống hóa, lập trình và cài đặt sẵn trong hệ thống máy  
chủ Mobile Marketing, doanh nghiệp thực hiện kịch bản Mobile Marketing.  
2.4.3 Bước 3: Báo cáo, thống kê, điều chỉnh chương trình Mobile Marketing  
Hoạt động báo cáo, thống kê của kênh Mobile Marketing diễn ra đồng thời với thời  
gian diễn ra chương trình. Mẫu báo cáo được thiết kế và xây dựng dưới dạng một ứng  
dụng trên web, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp có thể truy cập và kiểm soát  
chương trình của mình ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào.  
2.5 Công nghệ của Mobile Marketing  
Có 3 công nghệ chính đang được sử dụng để thực hiện các chương trình Mobile  
Marketing là: công nghệ tin nhắn ngắn), công nghệ tin nhắn đa phương tiện và Mobiweb.  
2.5.1 Công nghệ SMS  
Tin nhắn ngắn (SMS) là công nghệ cơ bản nhất được sử dụng cho hoạt động  
Mobile Marketing. Nó cho phép người dùng điện thoại gửi và nhận những ký tự hoặc  
chuỗi ký tự. Các chương trình SMS Marketing hiện đang chiếm khoảng 80% tổng doanh  
thu của toàn ngành Mobile Marketing.  
2.5.2 Công nghệ MMS  
Tin nhắn đa phương tiện (MMS) cho phép gửi và nhận những tin nhắn có đính kèm  
đoạn nhạc, hình ảnh, video. Sử dụng tin nhắn MMS giúp cho người nhận tin có thể dễ  
dàng nắm bắt được nội dung của thông điệp Marketing hơn là việc tưởng tượng ra nó.  
2.5.3 Công nghệ Mobiweb  
8
Mobiweb là website được xây dựng dành riêng cho các thiết bị di động. Ở một số  
vị trí trên trang như phần đầu trang, giữa và chân trang của Mobiweb cũng có các vị trí  
dành cho banner quảng cáo. Đây là công nghệ tương lai của Mobile Marketing.  
2.6 Chuỗi cung cấp dịch vụ Mobile Marketing  
Có 5 đối tượng tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ Mobile Marketing, đó là  
(1) Doanh nghiệp, (2) Công ty cung cấp dịch vụ Mobile Marketing, (3) Công ty tích hợp  
công nghệ , (4) Nhà mạng điện thoại di động, (5) Người tiêu dùng.  
2.6.1 Doanh nghiệp – Nhãn hàng  
Doanh nghiệp, nhãn hàng (Companies, Brands) là đối tượng đầu tiêu và cũng là  
điểm xuất phát của chuỗi cung cấp dịch vụ Mobile Marketing. Họ sẽ đóng vai trò quản lý,  
giám sát, điều chỉnh và tạo đầu mối hợp tác giữa các đơn vị tham gia vào chiến dịch này.  
2.6.2 Công ty cung cấp dịch vụ Marketing  
Doanh nghiệp thường thuê các công ty cung cấp dịch vụ Marketing (Marketing  
agencies) để xây dựng kịch bản và triển khai chiến dịch Mobile Marketing, bao gồm: công  
ty cung cấp các dịch vụ Marketing truyền thống và công ty cung cấp dịch vụ Mobile  
Marketing chuyên nghiệp.  
2.6.2.1 Công ty cung cấp các dịch vụ Marketing truyền thống  
Đây là những công ty đang hoạt động trong lĩnh vực Marketing và truyền thông.  
2.6.2.2 Công ty cung cấp dịch vụ Mobile Marketing chuyên nghiệp  
Công ty cung cấp dịch vụ Mobile Marketing chuyên nghiệp chỉ hoạt động chuyên  
biệt trong lĩnh vực Mobile Marketing.  
2.6.3 Công ty tích hợp công nghệ di động  
Công ty tích hợp công nghệ viễn thông di động (Mobile Technology Integrator)  
đóng vai trò bản lề trong quá trình triển khai chiến dịch Mobile Marketing. Những đơn vị  
này sẽ đảm nhiệm việc lập trình kịch bản Mobile Marketing đã được xây dựng.  
2.6.4 Nhà mạng viễn thông di động  
Hiện nay toàn thế giới có hơn 750 nhà mạng viễn thông di động và toàn bộ đều có  
thể cung cấp dịch vụ SMS – công nghệ chính của Mobile Marketing.  
2.6.5 Người tiêu dùng  
2.7 Luật và qui định đối với Mobile Marketing  
Thực tế tại Việt Nam, hoạt động này đang được điều chỉnh bởi 3 hệ thống văn bản  
pháp luật là: (1) Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, (2) Pháp lệnh Quảng cáo và (3)  
Nghị định chống thư rác. Trong đó, nghị định 90/2008/NĐ-CP hay còn được gọi phổ  
thông là Nghị định “Chống thư rác” là văn bản thiết thực nhất, sát sườn nhất.  
9
Năm 2004, hiệp hội Mobile Marketing toàn cầu đã ban hành bộ tài liệu có tên:  
Code of Conduct Document for Mobile Marketing. Bộ tài liệu này đưa ra những tiêu  
chuẩn và định hướng chungcho hoạt động Mobile Marketing, nội dung được thể hiện  
bằng nguyên lý 5C (Choice (tự do chọn lựa), Control (kiểm soát), Constraint (giới hạn),  
Consideration (tôn trọng) và Confidentiality (bảo mật))  
II. LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI HOẠT  
ĐỘNG MOBILE MARKETING  
2.8 Xác định hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing  
Hành vi của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing bao gồm chín (9)  
hành động riêng lẻ và được chia thành hai nhóm chính, cụ thể là:  
-
Nhóm những hành vi xuất hiện ngay tại thời điểm người tiêu dùng nhận được tin  
nhắn Mobile Marketing, bao gồm:(1) Mở tin nhắn, (2) Không quan tâm, (3) Xóa  
Nhóm hành vi xuất hiện sau khi người tiêu dùng đã mở tin nhắn Mobile Marketing  
bao gồm: (4) Lưu lại, (5) Đọc kỹ và tìm kiếm thông tin cần thiết, (6) Sử dụng thông  
tin của Mobile Marketing làm cơ sở lựa chọn hàng hóa, (7) gửi chuyển tiếp  
(forward) thông tin Mobile Marketing cho bạn bè, người thân, (8) Nhắn tin tham  
gia các chương trình Mobile Marketing và (9) Nhắn tin từ chối nhận thông tin  
Mobile Marketing  
-
Ở một góc độ khác hành vi của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile  
Marketing được chia thành thành (1) nhóm hành vi tích cực và (2) nhóm hành vi tiêu cực.  
2.9 Các nhân tố tác động tới hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile  
Marketing.  
2.9.1 Các mô hình lý thuyết nền tảng  
2.9.1.1 Thuyết hành động hợp lý  
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) được Fishbein -  
Ajzen giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1967 và được hiệu chỉnh vào năm 1975 và 1987.  
Niềm tin đối với thuộc  
tính của sản phẩm  
Thái độ hướng tới  
hành vi  
Dự định  
hành vi  
Hành vi  
thực sự  
Niềm tin của nhóm tham  
khảo  
Nhân tố chủ quan  
Hình 2.2: Thuyết hành động hợp lý TRA  
Nguồn: (Nguồn: Ajzen, 1991)  
10  
2.9.1.2 Mô hình chấp nhận công nghệ  
Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) được  
Davis và các cộng sự phát triển và giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1986. Mô hình TAM  
được hiệu chỉnh, bổ sung thêm 2 lần vào các năm 1989 và 1993.  
Cảm nhận về tính  
hữu dụng  
Các biến môi  
Hành  
động  
Thái độ  
Dự định  
trường  
Cảm nhận về việc  
dễ sử dụng  
Hình 2.3: Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM1)  
(Nguồn: Davis 1989)  
2.9.1.3 Mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới thái độ của người tiêu dùng đối với hoạt  
động quảng cáo trên website (Online Advertising)  
Brackett và Carr (2001) xác định thái độ của người tiêu dùng đối với các chương  
trình quảng cáo trên website chịu ảnh hưởng của bốn nhân tố là: (1) Tính giải trí của  
chương trình quảng cáo, (2) Thông tin và giá trị của thông tin mà chương trình quảng cáo  
chuyển tải, (3) Sự phiền nhiễu mà chương trình quảng cáo gây ra cho người sử dụng  
website và (4) Niềm tin của người tiêu dùng đối với thương hiệu và chương trình được  
quảng cáo.  
Tính giải trí  
Thông tin  
Giá trị của chương  
trình quảng cáo  
Thái độ đối với chương  
trình quảng cáo  
Sự phiền nhiễu  
Niềm tin  
Đặc điểm nhân khẩu học  
Hình 2.4: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới thái độ của người tiêu dùng trong hoạt động  
quảng cáo trên website  
(Nguồn: Brackett và Carr, 2001)  
2.9.1.4 Mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động  
quảng cáo qua điện thoại di động (Mobile Advertising).  
Nghiên cứu của Tsang và cộng sự (2004) không phải là một công trình nghiên cứu  
đồ sộ nhưng nó lại có một ý nghĩa rất to lớn với các nghiên cứu sau này trong lĩnh vực  
Mobile Marketing.  
11  
Tính giải trí  
Sự cho phép  
Thái độ  
Tính thông tin  
Hành vi  
Sự phiền nhiễu  
Sự tin tưởng  
Giá trị khuyến mại  
Hình 2.5: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi người tiêu dùng trong hoạt động quảng  
cáo qua điện thoại di động (Mobile Advertising)  
(Nguồn: Tsang, 2004)  
Tsang (2004) căn cứ vào sự đặc thù của hoạt động Mobile Marketing bổ sung hai  
nhân tố vào nhóm các nhân tố tác động tới thái độ của người tiêu dùng đối với hoạt động  
Mobile Marketing là: Sự cho phép và Giá trị khuyến mại.  
2.9.2 Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu dùng đối với hoạt  
động Mobile Marketing  
Trong mô hình của Tsang (2004), nhân tố chính và cũng là duy nhất tác động tới hành  
vi của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing, tuy nhiên sau khi tiến hành trao  
đổi, phỏng vấn và tham khảo ý kiến của các chuyên gia, kinh nghiệm của người tiêu dùng  
cũng có tác động tới thái độ đối với các chương trình Mobile Marketing cũng là một nhân tố  
tác động tới hành vi của họ. Vì vậy, nhân tố kinh nghiệm được bổ sung vào nhóm các nhân  
tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing.  
2.9.2.1 Kinh nghiệm của người tiêu dùng đối với Mobile Marketing  
Nghiên cứu của Zanot (1984) xác định hành vi, phản ứng của người tiêu dùng đối  
với các chương trình quảng cáo, Marketing ảnh hưởng bởi kinh nghiệm mà có có với các  
chương trình đó. Vì vậy, nhân tố kinh nghiệm được xem xét như một trong các nhân tố  
ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing  
2.9.2.2 Thái độ của người tiêu dùng đối với Mobile Marketing  
Thái độ là phản ứng tâm lý của con người trước một sự vật, hiện tượng nào đó diễn  
ra xung quanh họ. Thái độ được hình thành dưới sự tác động của rất nhiều yếu tố bao gồm  
các yếu tố thuộc môi trường khách quan cũng như các yếu tố thuộc về chủ quan. Nghiên  
cứu của Xu (2006) tại Trung Quốc, Bose (2010) tại Bangladesh cũng đã xác định thái độ  
có ảnh hưởng mang tính quyết định đến hành vi của người tiêu dùng.  
2.9.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng đối với hoạt động  
Mobile Marketing  
Kết quả của các công trình nghiên cứu có trước khẳng định có 6 nhân tố tác động tới  
thái độ của người tiêu dùng là: (1) Tính thông tin, (2) Tính giải trí, (3) Sự tin cậy, (4) Sự  
phiền nhiễu, (5) Sự cho phép và (6) Giá trị khuyến mại. Tuy nhiên, dựa vào đặc tính của  
Mobile Marketing, tác giả bổ sung nhân tố (7) Sự cá nhân hóa vào nhóm các nhân tố ảnh  
hưởng đến thái độ của người tiêu dùng.  
12  
2.9.4 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu  
2.9.4.1 Mô hình nghiên cứu  
Mô hình của Tsang (2004) được sử dụng làm cấu trúc lõi của mô hình nghiên cứu  
đề xuất của luận án.  
Tính thông tin  
Sự cho phép  
Tính giải trí  
Sự tin cậy  
Hành vi  
Thái độ  
Sự phiền nhiễu  
Sự cá nhân hóa  
Kinh nghiệm  
Quà tặng khuyến  
mại  
Các biến nhân khẩu học  
Hình 2.6: Mô hình các nhân tố tác động tới hành vi người tiêu dùng khu vực nội thành Hà  
Nội đối với hoạt động Mobile Marketing.  
2.9.4.2 Giả thuyết nghiên cứu.  
o H1: Tính thông tin của các chương trình Mobile Marketing ảnh hưởng tới thái độ  
của người tiêu dùng Việt Nam đối với hoạt động Mobile Marketing.  
o H2: Tính giải trí của các chương trình Mobile Marketing ảnh hưởng tới thái độ  
của người tiêu dùng Việt Nam đối với hoạt động Mobile Marketing.  
o H3: Sự tin cậy đối với các chương trình Mobile Marketing ảnh hưởng tới thái độ  
của người tiêu dùng Việt Nam đối với hoạt động Mobile Marketing  
o H4: Sự phiền nhiễu của các chương trình Mobile Marketing ảnh hưởng tới thái  
độ của người tiêu dùng Việt Nam đối với hoạt động Mobile Marketing.  
o H5: Sự cá nhân hóa của các chương trình Mobile Marketing ảnh hưởng tới thái  
độ của người tiêu dùng Việt Nam đối với hoạt động Mobile Marketing.  
o H6: Quà tặng khuyến mại kèm theo các hoạt động Mobile Marketing ảnh hưởng  
tới thái độ của người tiêu dùng Việt Nam đối với hoạt động Mobile Marketing.  
o H7: Sự cho phép của người tiêu dùng ảnh hưởng tới thái độ của họ đối với hoạt  
động Mobile Marketing.  
o H8: Kinh nghiệm của người tiêu dùng đối với các hoạt động Mobile Marketing  
ảnh hưởng tới hành vi của họ đối với hoạt động Mobile Marketing.  
o H9: Thái độ của người tiêu dùng đối với các hoạt động Mobile Marketing ảnh  
hưởng tới hành vi của họ đối với hoạt động Mobile Marketing.  
13  
CHƯƠNG 3  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
*****  
3.1 Thiết kế nghiên cứu  
Nghiên cứu được thực hiện thông qua ba giai đoạn chính:  
- Giai đoạn 1: Nghiên cứu sơ bộ (Initial research) được thực hiện thông qua  
phương pháp định tính nhằm mục tiêu khám phá, điều chỉnh, bổ sung các biến  
quan sát dành để đo lường các khái niệm, nội dung nghiên cứu. (từ tháng  
11/2009 đến tháng 11/2010).  
- Giai đoạn 2: Nghiên cứu thử nghiệm (Pilot test) thử nghiệm nội dung bảng hỏi,  
cách chọn và quy mô mẫu với 50 phần tử mẫu. (tháng 12/2010).  
- Giai đoạn 3: Nghiên cứu chính thức (Main test). Sử dụng bảng hỏi chính thức  
với quy mô mẫu là 1100 phần tử mẫu. Thông tin sau khi được thu thập sẽ được  
phân tích bằng phương pháp phân tích bằng SPSS. Thời gian: từ tháng 4 đến  
tháng 5/2011.  
3.2 Quy trình thực hiện nghiên cứu  
Cơ sở lý thuyết  
Xây dựng khung lý thuyết  
Xây dựng bảng hỏi thử  
Tham khảo chuyên gia  
Phát triển thang đo chính  
thức  
Điều tra thử  
Xây dựng bảng hỏi chính thức  
Kiểmđịnh Cronchbach Anpha  
Đề xuất  
Nghiên cứu định lượng  
Phân tích nhân tố  
Phân tích hồi quy  
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu  
3.3 Thiết kế bảng hỏi  
Bảng hỏi có tên: “Bảng câu hỏi điều tra hành vi của người tiêu dùng khu vực nội  
thành Hà Nội đối với hoạt động quảng cáo qua tin nhắn” bao gồm bốn mươi tư câu hỏi  
14  
chia thành năm phần: (1) Phần thứ nhất có nội dung tập trung vào đánh giá tổng quan tình  
hìnhsử dụng điện thoại di động tại khu vực nội thành Hà Nội; (2) Phần thứ hai có nội dung  
tìm hiểu thực trạng của hoạt động quảng cáo qua tin nhắn; (3) Phần thứ ba tìm hiểu quan  
điểm của người tiêu dùng về các nhân tố ảnh hưởng tới thái độ của họ đối với hoạt động  
quảng cáo qua tin nhắn; (4) Phần thứ tư xác định hành vi và các nhân tố tác động đến hành  
vi của người tiêu dùng đối với tin nhắn quảng cáo; (5) Phần thứ năm là các thông tin cá  
nhân của người trả lời bao gồm giới tính, tuổi, nghề nghiệp, thu nhập, nơi cư trú, email,  
điện thoại.  
3.5 Chọn mẫu  
3.5.1 Tổng thể đối tượng nghiên cứu  
Toàn bộ những người đang sử dụng điện thoại tại khu vực nội thành Hà Nội.  
3.5.2 Kích cỡ mẫu  
Kích cỡ của mẫu nghiên cứu là 1100 phần tử mẫu với mức sai số chọn mẫu ≤ 3%.  
3.5.3 Phương pháp chọn mẫu  
Mẫu điều tra được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện kết hợp với phương pháp  
lấy mẫu chia phần. Hoạt động chia phần mẫu điều tra được thực hiện theo tiêu chí nghề nghiệp  
của đối tượng được phỏng vấn bao gồm 5 nhóm chính là (1) Học sinh/sinh viên, (2) Nhân viên  
văn phòng/Công chức nhà nước, (3) Kinh doanh tự do, (4) Về hưu, nội trợ và (5) Khác.  
Căn cứ vào tỉ lệ chia phần theo tiêu chí nghề nghiệp theo thống kê của AcNielsen, 1100  
phần tử mẫuđiều tra được chia thànhcác nhóm có tỉlệ, số lượng tương ứng:  
Bảng 3.1: Phân bổ số lượng phần tử mẫu điều tratheo các nhóm nghề nghiệp  
Nghề nghiệp  
Học sinh/Sinh viên  
Nhân viên văn phòng/công chức  
Kinh doanh tự do  
Về hưu, nội trợ  
Tỉ lệ  
33%  
41%  
18%  
8%  
Số lượng phần tử mẫu điều tra  
363  
451  
198  
88  
9%  
99  
Khác  
100%  
1100  
Tổng số  
3.6 Phương pháp thu thập dữ liệu  
3.6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp  
Do đây là lĩnh vực nghiên cứu mới ở Việt Nam nên phần lớn dữ liệu thứ cấp mà luận  
án sử dụng có nguồn từ những bài báo, bài nghiên cứu, luận án có nguồn từ Internet.  
3.6.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp  
Dữ liệu sơ cấp của nghiên cứu được thu thập phương pháp nghiên cứu định lượng  
bằng bảng câu hỏi được cấu trúc sẵn để điều tra trên diện rộng đối với người tiêu dùng.  
3.7 Xử lý dữ liệu  
Tác giả sử dụng phần mềm phân tích, thống kê SPSS 19.0 để phân tích dữ liệu.  
thông qua năm bước là: (1) Làm sạch và nhập dữ liệu vào cơ sở dữ liệu; (2) Kiểm định độ  
tin cậy của thang đo; (3) Phân tích nhân tố EFA (Exploratory Factor Analysis); (4) Phân  
15  
tích hồi quy mức độ ảnh hưởng của các nhân tố; (5) Kiểm định mối liên hệ giữa các biến  
nhân khẩu học với các biến thể hiện hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile  
Marketing.  
16  
CHƯƠNG 4  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
*****  
4.1Mô tả kết quả nghiên cứu  
Sau thời gian hai tháng, nghiên cứu thu được 835 phiếu hoàn chỉnh, phù hợp để tiến  
hành thống kê, phân tích.  
4.1.1 Cơ cấu mẫu của kết quả điều tra  
Cấu trúc của mẫu điều tra được chia và thống kê theo các tiêu chí như giới tính, độ  
tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn và thu nhập cá nhân. (bảng thống kê chi tiết tại phụ lục 3)  
- Cơ cấu mẫu theo giới tính: 49,8% người trả lời là Nam tương đương với 416 người  
và 50,2% là nữ với 419 người. Kết quả điều tracủa nghiên cứu hoàn toàn phù hợp  
với tỉ lệ giới tính trong cấu trúc dân số Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng  
(Nam/ Nữ: 49/51).  
- Cơ cấu mẫu theo độ tuổi: 36,6% những người tham gia trả lời có độ tuổi <23  
tuổi tương đương 306 người. Những người từ 23-34 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất:  
44,8% tương đương 374 người, những người trong độ tuổi từ 35-45 và>45 lần  
lượt là 70 và 85 người tương đương với 8.4% và 10.2%.  
- Cơ cấu mẫu theo trình độ học vấn: 541 người trả lời có trình độ Đại học chiếm  
tỉ lệ cao nhất ~ 75%, 102 người có trình độ Trung học ~ 13,1% và 93 người có  
trình độ trên đại học ~ 11,9%.  
- Cơ cấu mẫu theo nghề nghiệp: nhân viên văn phòng và công chức nhà nước là  
nhóm có tỉ lệ tham gia trả lời cao nhất với 39,4%, tiếp theo là học sinh/ sinh viên  
với 36,6%. Những người kinh doanh tự do chiếm 12%, nghỉ hưu nội trợ là 7,8%  
và nhóm nghề nghiệp khác chiếm 4,2%. Điều này thể hiện tính chính xác của  
dữ liệu điều tra. Bên cạnh đó, kết quả điều tra phân bổ theo tiêu chí nghề nghiệp  
có tỉ lệ gần như tương đồng với tỉ lệ chia phần mẫu điều tra ở chương 3. Vì vậy,  
có thể kết luận là dữ liệu điều tra được là phù hợp để sử dụng cho các hoạt động  
phân tích.  
- Cơ cấu mẫu theo thu nhập cá nhân: nhóm có thu nhập từ 3 đến 5 triệu có tỉ lệ  
cao nhất với 39% tổng số người tham gia trả lời. Điều này phù hợp với cấu trúc  
thu nhập của người dân Hà Nội và tương ứng với thu nhập trung bình của nhóm  
17  
công nhân viên chức và nhân viên văn phòng. Những người chưa có thu nhập  
chiếm 23%, thu nhập dưới 3 triệu đồng chiếm 13% và thu nhập trên 5 triệu  
chiếm 25%.  
4.1.2 Tình hình sử dụng điện thoại di động  
- Thời gian sử dụng điện thoại di động: hầu hết những người được hỏi có thời  
gian sử dụng điện thoại trên 1 năm: 68,4% sử dụng điện thoại di động từ 4 đến  
10 năm, 23,2% sử dụng từ 1 đến 3 năm, 7,8% sử dụng trên 10 năm. Những  
người sử dụng điện thoại di động dưới 1 năm chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ ~  
0,6%.  
- Mạng điện thoại di động sử dụng: 31% số người được hỏi cho biết họ đang  
dùng mạng của công ty Vietel, 29% dùng mạng của công ty Mobifone, 27%  
dùng mạng của công ty Vinaphone và 13% dùng mạng của các nhà cung cấp  
khác như E-VN telecom, S-fone, Beeline, Vietnammobile.  
- Loại thuê bao: tỉ lệ người dùng thuê bao trả trước chiếm 70,8% trong khi số  
người dùng thuê bao trả sau chiếm 19,2%. Những người đang đồng thời sử  
dụng cả hai loại thuê bao trên chiếm khoảng 10%.  
- Mức chi tiêu bình quân: phần lớn những người trả lời phỏng vấn có mức chi  
tiêu trung bình cho dịch vụ điện thoại di động là từ 100 đến 300 nghìn đồng(406  
~ 48,6% tổng số người trả lời). Mức chi tiêu cao (>500 nghìn đồng) là mức chi  
tiêu có số lượng người thấp nhất với chỉ 8,4%, ngược lại mức chi thấp (dưới 100  
nghìn đồng) chiếm tỉ lệ cao thứ 2 trong số các nhóm người được hỏi với 25,4%.  
- Số lượng tin nhắn gửi đi trong ngày: 31% ~ một phần ba số người trả lời cho  
biết họ gửi hơn 10 tin nhắn/ngày SMS một ngày. Những người có số lượng  
nhắn tin SMS trung bình (từ 3 đến 10 tin/ngày) chiếm 51,1% và nhóm có số  
lượng nhắn tin thấp (dưới 3 tin/ngày) chiếm 17%.  
- Số lượng tin nhắn nhận được trong ngày: những người có mức nhận tin trung  
bình (từ 3-10 tin/ngày) chiếm tỉ lệ cao nhất ~ 55%, theo sau là nhóm những  
người nhận số lượng tin nhắn cao (trên 10 tin/ngày) ~ 24% và nhóm có số lượng  
tin nhắn nhận được hàng ngày thấp (dưới 3 tin/ngày) vẫn ở vị trí cuối cùng với  
21%.  
4.1.3 Thực trạng hoạt động nhắn tin quảng cáo và Mobile Marketing  
Trong 3 tháng kể từ thời điểm điều tra trở về trước có 94% số người trả lời tương  
ứng với 785 người cho biết họ có nhận được tin nhắn quảng cáo, trong khi đó chỉ có một tỉ  
18  
lệ rất nhỏ là 6% (50 người) không nhận được tin nhắn quảng cáo. Điều này chứng tỏ,  
người tiêu dùng ở khu vực nội thành Hà Nội đã rất quen thuộc với tin nhắn quảng cáo.  
Hầu hết những người tham gia trả lời cho biết họ đã từng nhận được tin nhắn quảng  
cáo, nhưng chỉ có 24% trong số họ đã từng thực hiện hành động đăng ký nhận tin nhắn  
quảng cáo,76% còn lại không đăng ký nhận tin nhắn quảng cáo nhưng hàng ngày vẫn  
nhận được tin nhắn quảng cáo. Điều này là dấu hiệu đầu tiên chỉ ra những yếu kém và tồn  
tại của việc quản lý lơi lỏng đối với hoạt động này ở Việt Nam.  
Tuy nhiên, chỉ có 13% tổng số người được hỏi cho biết họ muốn tiếp tục được nhận  
tin nhắn quảng cáo. Lý do có thể là: (1) hoạt động quảng cáo qua tin nhắn thường gây  
phiền nhiễu và không mang lại giá trị cho người tiêu dùng, (2) nội dung của tin nhắn  
quảng cáo không phù hợp với nhu cầu, sự quan tâm của người tiêu dùng.  
Toàn bộ những người được hỏi đều nhận được tin nhắn quảng cáo do các nhà mạng  
di động gửi. Trong đó, 85% ~ 709 người nhận được tin nhắn của các đơn vị kinh doanh và  
22% ~ 189 người nhận được tin nhắn từ các đơn vị khác.  
Nhóm tin nhắn có nội dung thuộc lĩnh vực điện tử viễn thông có số lượng người lựa  
chọn cao nhất với 100%. Đứng vị trí thứ 2 là những tin nhắn có nội dung giải trí và tiếp theo là  
tin nhắn có nội dung về thời trang, làm đẹp. Những lĩnh vực khác có số lượng người lựa  
4.1.4 Hành vi của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động  
Mobile Marketing  
Trong tổng số 835 người tham gia trả lời, có 44% (~365 người) bỏ qua và không  
quan tâm đến tin nhắn quảng cáo và 21% (~179 người) lựa chọn phương án xóa ngay tin  
nhắn quảng cáo, 35% (~291 người) còn lại sẽ mở tin nhắn quảng cáo ra đọc.  
Trong số 291 người mở tin nhắn, hầu hết sẽ thực hiện những hành vi mang tính tích  
cực như đọc để tìm kiếm thông tin, lưu lại,gửi chuyển tiếp cho bạn bè, người thân hay  
tham gia các chương trình được quảng cáo. Tuy nhiên vẫn có đến 10% trong số đó sẽ  
thông báo tin nhắn rác cho nhà mạng hoặc gọi điện, nhắn tin từ chối nhận tin nhắn quảng  
cáo. Tỉ lệ này tuy không nhiều nhưng kết hợp với số lượng những người có hành vi không  
tích cực ngay khi nhận được tin nhắn quảng cáo như xóa hoặc không quan tâm, ta có thể  
kết luận tạm thời: “Người tiêu dùng Việt Nam mà đại diện là người tiêu dùng ở khu vực  
nội thành Hà Nội có xu hướng thực hiện những hành vi không tích cực đối với hoạt động  
Mobile Marketing”  
4.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của người tiêu dùng khu vực  
nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing.  
4.2.1 Kiểm định hệ số tin cậy của thang đo (chỉ số Cronbach Anpha)  
19  
Sau khi tiến hành thủ tục kiểm định Cronbach Anpha, nghiên cứu đề xuất loại bỏ 5  
biến là INFO3, ENT1,PER3 trong phần các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ và hai biến  
quan sát là ATT5 và EX4 trong phần các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu  
dùng. Kết quả thu được chín thang đo có độ tin cậy cao tương ứng với 25 biến quan sát.  
Bảng 4.1: Tổng hợp hệ số Cronbach Anpha của các thang đo  
STT  
1
Tên thành phần  
Tính thông tin  
Số lượng biến  
Cronbach Anpha  
0,884  
3
2
2
Tính giải trí  
0,804  
3
Sự tin cậy  
3
0,913  
4
Sự phiền nhiễu  
3
0,936  
5
Sự cá nhân hóa  
2
0,723  
6
Quà tặng khuyến mại  
Sự cho phép  
3
0,703  
7
2
0,815  
8
Thái độ của người tiêu dùng  
Kinh nghiệm của người tiêu dùng  
Tổng  
4
0,717  
9
3
0,759  
25  
4.2.2 Phân tích nhân tố (EFA)  
4.2.2.1 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng  
Áp dụng phương pháp phân tích nhân tố và loại bỏ những biến có giá trị< 0,5, nghiên  
cứu thu được 17 biến quan sát, được trích thành 5 nhóm nhân tố với tổng phương sai trích =  
78,165% đạt yêu cầu lớn hơn 50%. Năm nhóm nhân tố trích được sau thủ tục phân tích nhân  
tố, được đặt tên lại thành: (1) Cảm nhận về giá trị thông tin, (2) Cảm nhận về giá trị giải trí,  
(3) Cảm nhận về sự tin cậy, (4) Cảm nhận về phiền nhiễu và (5) Sự cho phép.  
Kết quả đo kiểm cho thấy thang đo “Sự cá nhân hóa” trong mô hình lý thuyết được  
đề xuất ban đầu đã bị xóa bỏ và kết hợp vào thang đo “Tính thông tin” để trở thành một  
thang đo mới là “Cảm nhận về giá trị thông tin”. Thang đo “Quà tặng khuyến mại” cũng  
bị kết hợp với thang đo “Tính giải trí” để tạo nên thang đo “Cảm nhận về giá trị giải trí”  
4.5.2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng  
Cũng tương tự như phần trên, để thực hiện thủ tục phân tích nhân tố, tác giả  
tiến hành thủ tục xoay nhân tố. Sau 3 lần xoay và loại bỏ các biến có kết quả <  
0,5, kết quả thu được 5 biến quan sát có ý nghĩa từ 7 biến ban đầu tương ứng với 2  
thành phần trích được với tổng phương sai trích = 84,002% đạt yêu cầu lớn hơn  
50%. Căn cứ vào ý nghĩa của các biến quan sát ta có thể xác định hai nhân tố mới  
trích được đồng nhất với hai nhân tố đã được đề xuất là nhân tố kinh nghiệm và  
nhân tố thái độ.  
20  
4.2.2.3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu được điều chỉnh theo thực tế khảo sát  
Trong chương 2, tác giả đã đề xuất một mô hình nghiên cứu, nhưng sau khi tiến  
hành thủ tục kiểm định và phân tích dựa trên kết quả khảo sát thực tế, mô hình nghiên cứu  
được điều chỉnh lại cho phù hợp hơn.  
Cảm nhận về giá trị thông tin  
H1  
Cảm nhận về giá trị giải trí  
H2  
H6  
Sự phiền nhiễu  
Thái độ  
Hành vi  
H3  
H4  
Sự tin cậy  
H7  
H5  
Kinh nghiệm  
Sự cho phép  
Hình 4.1: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh  
Nghiên cứu sẽ bổ sung các nhóm giả thiết nghiên cứu mới:  
o H1: Cảm nhận về giá trị thông tin ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng  
Việt Nam đối với hoạt động Mobile Marketing.  
o H2: Cảm nhận về giá trị giải trí ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng  
Việt Nam đối với hoạt động Mobile Marketing.  
o H3: Sự tin cậy ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng Việt Nam đối với  
hoạt động Mobile Marketing.  
o H4: Sự phiền nhiễu ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng Việt Nam đối  
với hoạt động Mobile Marketing.  
o H5: Sự cho phép ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng Việt Nam đối với  
hoạt động Mobile Marketing.  
o H6: Thái độ của người tiêu dùng Việt Nam ảnh hưởng đến hành vi của họ đối  
với hoạt động Mobile Marketing.  
o H7: Kinh nghiệm của người tiêu dùng Việt Nam ảnh hưởng đến hành vi của họ  
đối với hoạt động Mobile Marketing.  
4.2.3 Phân tích hồi qui  
4.2.3.1 Phân tích hồi qui các nhân tố ảnh hưởng tới thái độ của người tiêu dùng đối với  
hoạt động Mobile Marketing  
Kết quả nghiên cứu khẳng định 4 trên 5 giả thiết nghiên cứu là H1, H2, H3 và H4.  
Trong đó 3 nhân tố Cảm nhận về giá trị thông tin của tin nhắn quảng cáo (INFO), Cảm  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 21760 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing tại khu vực nội thành Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_cac_nhan_to_anh_huong_den_hanh_vi_nguoi_tieu.pdf