Tóm tắt Luận văn Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người và sự vận dụng của Đảng trong việc phát huy nhân tố con người thời kỳ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1
MỞ ĐẦU  
1.Tính cấp thiết của đề tài  
Ngày nay thế giới đang diễn ra những biến đổi nhanh chóng, sâu  
sắc và phức tạp, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay đang  
phát triển như vũ bão, đặc biệt là cách mạng thông tin đang tạo ra sự  
biến đổi về chất chưa từng có trong lực lượng sản xuất, đưa nhân loại  
từng bước quá độ sang trình độ văn minh mới – văn minh trí tuệ. Các  
nước phát triển đang từ nền kinh tế công nghiệp chuyển sang nền kinh  
tế tri thức và khoa học thông tin toàn cầu. Nói cách khác trong khi các  
nước khác đã hoàn thành hai cuộc cách mạng công nghiệp và đang  
thực hiện cách mạng thông tin thì nước ta bước sang thời kỳ đẩy mạnh  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa với định hướng phát triển nhằm mục  
tiêu: “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất  
– kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù  
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất  
và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước  
mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Thực chất của những định hướng  
trên của Đảng là phát triển vì con người, vì cuộc sống ấm no hạnh  
phúc cho quần chúng nhân dân lao động.  
Đất nước đang đứng trước những vận hội lớn, đồng thời phải  
đương đầu với những khó khăn thử thách lớn rất quyết liệt để giải  
quyết mâu thuẫn giữa trình độ thấp kém của lực lượng sản xuất với  
yêu cầu rất cao của nền sản xuất hiện đại, của chủ nghĩa xã hội và  
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.  
Vì vậy vấn đề sống còn của đất nước lúc này là phải xây dựng một  
đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,  
văn minh bằng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự nghiệp  
này có thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc chúng ta  
2
có biết khai thác và phát huy nguồn lực nội sinh của dân tộc hay  
không. Hơn nữa, khi mà khoa học – kỹ thuật đã trở thành lực lượng  
sản xuất trực tiếp tạo nên năng suất lao động vượt bậc thì nhân tố con  
người càng giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất xã  
hội. Tiến trình lịch sử đã chứng minh về mặt lý luận và thực tiễn vai  
trò nhân tố con người có ý nghĩa quyết định cho xu hướng vận động  
của thế giới đương đại, là “nguồn lực của mọi nguồn lực”, là tài  
nguyên quý báu, lớn nhất của mọi quốc gia.  
Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài: “Quan điểm triết học Mác –  
Lênin về con người và sự vận dụng của Đảng trong việc phát huy  
nhân tố con người thời kỳ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.  
Mục đích và nhiệm vụ của luận văn  
Mục đích: trên cơ sở phân tích khái quát những quan điểm của  
triết học Mác - Lênin về con người, luận văn góp phần làm rõ vai trò  
của nhân tố con người, thực trạng phát huy nhân tố con người. Qua  
đó mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tới mức cao  
nhất nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại  
hóa đất nước.  
Nhiệm vụ  
- Thứ nhất, trình bày khái quát quan điểm của triết học Mác –  
Lênin về con người và vai trò của con người trong sự phát triển sản  
xuất xã hội.  
- Thứ hai, trình bày quan điểm của Đảng ta về vai trò của nhân tố  
con người, và việc phát huy nhân tố đó trong quá trình công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa ở nước ta..  
- Thứ ba, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy nhân tố  
con người thời kỳ CNH, HĐH ở nước ta.  
3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng của luận văn là quan điểm của Triết học Mác – Lênin về  
con người, sự vận dụng quan điểm đó của Đảng ta vào việc phát huy  
nguồn lực con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.  
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu con người trong thời kỳ đổi  
mới từ năm 1986 đến nay  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Trong luận văn, tác giả đã sử dụng một số phương pháp chủ yếu  
như: phương pháp lịch sử, phương pháp lịch sử Đảng, phương pháp  
logic, phân tích - tổng hợp, diễn dịch – quy nạp, so sánh đối chiếu,  
kết hợp giữa lý luận với thực tiễn…  
5. Kết cấu luận văn  
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục bao gồm  
3 chương:  
Chương 1: Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người và vai  
trò của con người trong phát triển sản xuất xã hội.  
Chương 2: Quan điểm của Đảng về nhân tố con người và việc phát  
huy nhân tố con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.  
Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp phát huy nhân tố con  
người trong thời kỳ CNH, HĐH.  
6. Tổng quan tài liệu  
Quan điểm triết học Mác - Lênin về con người và phát huy nhân  
tố con người là một chủ đề hấp dẫn, được các nhà khoa học trong và  
ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Các tác giả đã đạt được những  
thành tựu quan trọng khi nghiên cứu về chủ đề nêu trên. Với tinh  
thần học hỏi, tác giả của luận văn xin phép được kế thừa, tiếp thu  
những thành tựu của các nhà khoa học, lấy đó làm những gợi ý quan  
trọng để hoàn thành tốt bài luận văn của mình.  
4
CHƢƠNG 1. QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN  
VỀ CON NGƢỜI VÀ VAI TRÕ CỦA CON NGƢỜI TRONG  
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT XÃ HỘI  
1.1. QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON  
NGƢỜI  
1.1.1. Một số quan điểm triết học trƣớc Mác về con ngƣời  
a. Quan niệm về con người trong triết học phương Đông  
- Các trường phái triết học - tôn giáo phương Đông như Phật  
giáo, Hồi giáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan  
duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận. Trong triết học Phật giáo, con  
người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật chất và tinh thần). Đời sống  
con người trên trần thế chỉ là ảo giác, hư vô. Vì vậy, cuộc đời con  
người khi còn sống chỉ là sống gửi, là tạm bợ. Cuộc sống vĩnh cửu là  
phải hướng tới cõi Niết bàn, nơi tinh thần con người được giải thoát  
để trở thành bất diệt  
-Trong triết học phương Đông, với sự chi phối bởi thế giới quan  
duy tâm hoặc duy vật chất phác, biểu hiện trong tư tưởng Nho giáo,  
Lão giáo, quan niệm về bản chất con người cũng thể hiện một cách  
phong phú khi cho rằng: con người và tính người do Trời sinh  
b. Quan niệm về con người trong triết học phương Tây trước Mác  
- Trong triết học Hy Lạp cổ đại: Prôtago một nhà ngụy biện cho  
rằng “con người là thước đo của vũ trụ”. Quan niệm của Arixtốt về  
con người, cho rằng chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý trí, năng khiếu  
nghệ thuật là làm cho con người nổi bật lên, con người là thang bậc  
cao nhất của vũ trụ. Khi đề cao nhà nước, ông xem con người là “một  
động vật chính trị”.  
- Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm của  
Thượng đế sáng tạo ra.  
5
- Triết học thời kỳ phục hưng - cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí  
tuệ, lý tính của con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ.  
- Trong triết học cổ điển Đức, những nhà triết học nổi tiếng như  
Cantơ, Hêghen đã phát triển quan niệm về con người theo khuynh  
hướng chủ nghĩa duy tâm. Hêghen đã cho rằng, con người là hiện  
thân của “ý niệm tuyệt đối”.  
- Tư tưởng triết học của nhà duy vật Phoiơbắc đã vượt qua những  
hạn chế trong triết học Hêghen để hy vọng tìm đến bản chất con  
người một cách đích thực. Phoiơbắc khẳng định con người do sự vận  
động của thế giới vật chất tạo nên. Con người là kết quả của sự phát  
triển của thế giới tự nhiên. Con người và tự nhiên là thống nhất,  
không thể tách rời. Phoiơbắc đề cao vai trò và trí tuệ của con người  
với tính cách là những cá thể người. Đó là những con người cá biệt,  
đa dạng, phong phú, không ai giống ai. Quan điểm này dựa trên nền  
tảng duy vật, tuy nhiên, Phoiơbắc không thấy được bản chất xã hội  
trong đời sống con người, tách con người khỏi những điều kiện lịch  
sử cụ thể. Con người của Phoiơbắc là phi lịch sử, phi giai cấp và trừu  
tượng.  
1.1.2. Quan niệm triết học Mác – Lênin về bản chất con ngƣời  
a. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với  
mặt xã hội.  
- Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản  
phẩm của thế giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang  
tất cả bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là  
điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, giới tự  
nhiên là “thân thể vô cơ của con người”. Con người là một bộ phận  
của tự nhiên.  
6
- Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật  
chất. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của  
cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát  
triển ngôn ngữ tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu  
tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình  
thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.  
b. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà  
những quan hệ xã hội.  
Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên  
luận đề nổi tiếng trong Luận cương về Phoiơbắc :“Bản chất con  
người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng  
biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà  
những quan hệ xã hội”.  
Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không  
có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại,  
điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và thế giới  
động vật trước hết là ở bản chất xã hội và đấy cũng là để khắc phục  
sự thiếu sót của các nhà triết học trước Mác không thấy được bản  
chất xã hội của con người. Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái  
phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể là duy cái duy nhất.  
Do đó cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa  
dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trong  
cộng đồng xã hội  
c. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử  
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn  
tại con người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến  
hoá lâu dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là: con  
người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội.  
7
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử  
của mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể  
sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người.  
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong  
mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con  
người trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận  
động, biến đổi cũng không phải thay đổi cho phù hợp. Bản chất con  
người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ thống mở,  
tương ứng với điều kiện tồn tại của con người.  
1.2. QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ VAI TRÕ CỦA  
CON NGƢỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT XÃ HỘI  
C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra quy luật lịch sử của loài  
người, nghĩa là tìm ra cái sự thật giản đơn là trước hết con người cần  
phải ăn, uống, mặc trước khi lo đến chuyện làm chính trị, khoa học,  
nghệ thuật, tôn giáo. Nhưng muốn có cái để ăn, để mặc thì phải lao  
động, đó là phương thức sản xuất.  
Theo quan điểm của nhà sáng lập chủ nghĩa Mác trong lịch sử  
phát triển nền sản xuất vật chất của nhân loại đã xuất hiện và phát  
triển những mối quan hệ mang tính khách quan, phổ biến: để tiến  
hành sản xuất, một mặt, con người phải có quan hệ với giới tự nhiên  
để biến đổi giới tự nhiên, quan hệ này được thể hiện trong lực lượng  
sản xuất, mặt khác, con người phải có mối quan hệ với nhau để tiến  
hành sản xuất, quan hệ này được thể hiện trong quan hệ sản xuất. Lực  
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập biện chứng  
kháng thể tách rời của chỉnh thể thống nhất của nền sản xuất xã hội,  
đó là phương thức sản xuất xã hội.  
Khi phân tích về lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản, Mác  
viết:” Trong tất cả các công cụ sản xuất thì lực lượng sản xuất hùng  
8
mạnh nhất là bản thân giai cấp cách mạng”. Như vậy, Mác đã khẳng  
định con người là yếu tố có vai trò lớn nhất, quyết định trong lực  
lượng sản xuất. Cũng vấn đề đó Lênin viết: “Lực lượng sản xuất chủ  
yếu của nhân loại là giai cấp công nhân”.  
Giống như Mác, Lênin đã đặt con người vào vị trí hàng đầu, số  
một, coi con người phải là công nhân, giai cấp tiên tiến, nghĩa là đều  
nhấn mạnh đến “chất lượng” của người lao động – lực lượng sản  
xuất. Trong lực lượng sản xuất, công cụ lao động có một vai trò quan  
trọng, là thước đo sự chinh phục tự nhiên của con người.  
1.3. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƢỜI VÀ  
CON NGƢỜI TRONG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI.  
Quan niệm về con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất đa dạng  
phong phú, tùy hoàn cảnh, điều kiện mà Người đề cập. Trong bài viết  
đăng trên báo Cứu Quốc năm 1949, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan  
niệm về chữ Người: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình anh em, họ  
hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng hơn nữa là  
loài người”. Với cách hiểu này, con người có tính xã hội, là con  
người xã hội, là thành viên của một cộng động xã hội. Nói cách khác  
Hồ Chí Minh đã xem xét con người trong các quan hệ xã hội của nó.  
Trong tư tưởng của Người không có con người trừu tượng, bao giờ  
Người cũng nói đến con người cụ thể lịch sử. Do vậy, Người dùng rất  
nhiều khái niệm khác nhau để chỉ “con người” trong những mối quan  
hệ lịch sử và xã hội. Chẳng hạn trong những năm bôn ba tìm đường  
cứu nước, hoạt động trong phong trào giải phóng dân tộc, phong trào  
công nhân quốc tế, Người thường dùng các khái niệm: “người bản  
xứ”, “người lao động bản xứ”, “người da vàng”…Sau Cách Mạng  
Tháng Tám, Hồ Chí minh thường sử dụng khái niệm: “nhân dân”,  
9
“quốc dân”, “đồng bào”, “dân”, để chỉ con người Việt Nam tự do  
của một quốc gia độc lập.  
Trên quan điểm duy vật macxit, Hồ Chí minh khẳng định bản  
chất con người mang tính xã hội – lịch sử, con người vừa là sản phẩm  
vừa là chủ thể của lịch sử, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực  
của sự phát triển lịch sử xã hội.  
Khi đề cập đến vai trò của con người và những phẩm chất trí tuệ  
của con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc xây dựng  
con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Người luôn coi trọng sự  
nghiệp trồng người là một chiến lược: “ Vì lợi ích mười năm trồng  
cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.  
Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con  
người mới là một quan điểm toàn diện và sâu sắc. Chính sự nhận  
thức sâu sắc của Người về bản chất con người, về vai trò của con  
người trong sự nghiệp cách mạng cũng như trong việc xây dựng chế  
độ mới là cơ sở cho việc Người đề cao việc giáo dục, bồi dưỡng con  
người đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn, thời kỳ  
cách mạng. Tư tưởng này của Người với quan điểm của chủ nghĩa  
Mác về vai trò của nhân tố con người đã là ánh sáng soi đường cho  
Đảng ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay.  
10  
CHƢƠNG 2. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ NHÂN TỐ CON  
NGƢỜI VÀ VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƢỜI  
TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA  
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI  
HÓA VÀ NHỮNG YÊU CẦU CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA,  
HIỆN ĐẠI HÓA ĐỐI VỚI CON NGƢỜI  
2.1.1 Tính tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin chỉ rõ: thứ nhất, cơ  
sở vật chất - kỹ thuật của CNXH phải là lực lượng sản xuất ở trình độ  
cao hơn chủ nghĩa tư bản; thứ hai: chỉ dựa trên nền tảng vật chất ấy  
thì mới có thể tạo lập được thật sự đầy đủ những quan hệ sản xuất  
mới xã hội chủ nghĩa. Do đó, CNH, HĐH là một điều kiện cơ bản để  
xây dựng cơ sở kinh tế cho xã hội mới.  
Trong thời đại ngày nay CNH không chỉ đơn thuần là phát triển  
công nghiệp nặng, cũng không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ  
trọng của sản xuất công nghiệp. “Công nghiệp hóa là quá trình  
chuyển đổi căn bản, toàn diện của hoạt động sản xuất, kinh doanh,  
dịch vụ và quản lý kinh tế-xã hội từ sử dụng lao động thủ công là  
chính sang sử dụng một cách phổ biến sức laod dộng cùng với công  
nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự  
phát triển của công nghệ và sự tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo nên  
năng suất lao động xã hội cao”. Nó gồm hai nội dung cơ bản là:  
trang bị kỹ thuật-công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp và các ngành  
khác của nền kinh tế quốc dân; và tạo lập cơ cấu kinh tế mà nền tảng  
là cơ cấu công nghiệp- nông nghiệp và dịch vụ hiện đại. Như vậy,  
CNH tất yếu gắn liền với HĐH để từng bước tạo ra những giá trị vật  
chất với trình độ công nghệ cao hoàn thành cơ bản việc xây dựng cơ  
sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.  
11  
Văn minh thông tin  
Điện tử (tin học)  
Thế  
Kỷ  
CNH  
HĐH  
Văn minh công  
nghiệp  
Việt  
Nam  
Văn minh  
Hình 2.1. Việt Nam đi vào thế kỷ XXI: công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
2.1.2 Những yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối  
với con ngƣời.  
CNH, HĐH ở nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế còn diễn  
biến hết sức phức tạp, chứa đựng những yếu tố khó lường, khi các thế  
lực thù địch vẫn mưu toan thực hiện “diễn biến hòa bình”. Vì vậy, nó  
đòi hỏi con người Việt Nam, trước hết là những cán bộ quản lý cao  
cấp, một đức tính trung thành với lợi ích quốc gia – dân tộc, mà còn  
góp phần đem lại phồn vinh cho đất nước nâng cao vị thế đất nước  
lên tầm cao hơn nữa trên trường quốc tế.  
Tuy nhiên, nếu chỉ có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị  
vững vàng nhưng thiếu đi tri thức, kiến thức khoa học, tức là có đức  
mà không có tài thì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Cũng chẳng  
khác gì ông Bụt ngồi trên tòa sen không làm việc gì xấu nhưng cũng  
chẳng làm việc gì có ích cho đời. Tri thức, trí tuệ thực sự là yếu tố  
thiết yếu của mỗi con người “tất cả cái gì thúc đẩy con người hành  
động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc họ”.  
Một yếu tố nữa không thể thiếu đối với con người Việt Nam  
trong quá trình CNH, HĐH là yếu tố sức khỏe.  
12  
Mặt khác, họ còn được giáo dục và đào tạo kỹ lưỡng, thể hiện  
qua trình độ học vấn và vốn văn hóa, nhất là phải được sống trong  
môi trường xã hội thuận lợi, có văn hóa đạo đức, thực sự dân chủ,  
bình đẳng, được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời.  
Nền sản xuất công nghiệp còn đòi hỏi ở người lao động hàng loạt  
các phẩm chất cần thiết như: có tính tự giác kỷ luật, biết tiết kiệm  
nguyên liệu và thời gian, có tinh thần trách nhiệm, có lương tâm nghề  
nghiệp…  
Nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH trong điều kiện nền  
kinh tế thị trường, do đó vấn đề bảo vệ môi trường trở nên cấp thiết.  
Đảng ta cũng đã ý thức rõ điều đó thể hiện ở việc xác định mục tiêu  
lâu dài cuả CNH, HĐH “bảo đảm sự tăng trưởng nhanh và lâu bền  
của nền kinh tế, gắn với việc xử lý tốt các vấn đề công bằng và tiến  
bộ xã hội, môi trường sinh thái”.  
Ngoài ra, cũng nhận thấy rằng, sự nghiệp CNH, HĐH khó có thể  
đạt được kết quả nếu người lao động chưa ý thức tạo ra, vun đắp và  
giữ gìn giá trị nhân văn. Môi trường sống có tính nhân văn cao là  
điều kiện quan trọng để nâng cao tích cực xã hội của người lao động  
trong bối cảnh nền kinh tế thị trường.  
Trên đây là những phẩm chất chủ yếu của người lao động trong  
thời kỳ CNH, HĐH đất nước, đó cũng là những yếu tố cơ bản của  
một nhân cách phát triển toàn diện. Nói cách khác, chủ nhân của đất  
nước ở thời kỳ CNH, HĐH phải là “ những con người phát triển cả  
về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động về tích cực chính trị -  
xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng”.  
2.2. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ NHÂN TỐ CON NGƢỜI VÀ  
VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƢỜI TRONG QUÁ  
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƢỚC  
13  
2.2.1 Quan điểm của Đảng về nhân tố con ngƣời trong quá  
trình CNH, HĐH đất nƣớc  
Đại hội Đảng lần thứ ba (1960) khi đưa ra nhiệm vụ xây dựng chủ  
nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất  
nước nhà, Đảng ta đã khẳng định:” Con người là vốn quý nhất”.  
Đại hội lần thứ IV (1976) khi Đảng ta xác định đưa cả nước lên  
chủ nghĩa xã hội thì vấn đề xây dựng con người được nổi lên hàng  
đầu, vì con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là điều kiện  
để xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội đã đưa ra luận điểm: “Con  
người mới – con người làm chủ tập thể”.  
Đại hội lần thứ V (1982) Đảng ta phát triển luận điểm “ Con  
người mới” nhấn mạnh lòng nhân ái là truyền thống lâu đời của nhân  
dân ta.  
Đại hội lần VI (1986) Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới đất nước  
và đặc biệt nhấn mạnh vai trò quan trọng của “nhân tố người” trong  
toàn bộ sự phát triển kinh tế - xã hội.  
Tư tưởng xuất phát điểm của Cương lĩnh mới của Đảng ta và  
chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đền năm 2000 do Đại  
hội lần thứ VII (1991) thông qua là tư tưởng đặt con người vào vị trí  
trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đất  
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.  
Đại hội lần thứ VIII (6- 1996) của Đảng là Đại hội CNH, HĐH  
đất nước, Trong các quan điểm về CNH, HĐH có một quan điểm cực  
kỳ quan trọng khẳng định; lấy việc phát huy nguồn lực con người làm  
yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.  
Coi nguồn lực con người là yếu tố cơ bản quyết định thành công  
của CNH, HĐH đó là một trong các quan điểm chính của Đảng ta để  
phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời kỳ mới. Nguồn lực  
14  
con người có khi gọi là nguồn nhân lực hay vốn người. Vốn người  
giữ vai trò đặc biệt trong sơ đồ cấu trúc các yếu tố phát triển kinh tế  
(hình 2.2) . Gọi là vốn tức là coi con người như một thứ tài nguyên,  
và là thứ tài nguyên đặc biệt, là một thứ vốn quý nhất, như một chân  
lý ngàn đời của loài người, mà ngày nay mọi người đều nhắc lại,  
ngẫm nghĩ sâu hơn. Bởi vì :  
Hình 2.2. Các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội  
(theo ngân hàng thế giới)  
Thứ nhất, các nguồn lực khác khai thác mãi cũng đến lúc cũng  
phải cạn kiệt, chỉ có nguồn lực con người (với trí tuệ và chất xám) là  
có khả năng tái sinh vô hạn.  
Thứ hai, tự mình các nguồn lực khác không thể trở thành nguồn  
lực phát triển, muốn trở thành động lực phát triển chúng phải cần  
đến sức lực và trí tuệ con người. Chính con người tạo ra nguồn vốn,  
khai thác và phục hồi lại các nguồn lực khác (đất đai, tài nguyên...)  
Thứ ba, con người với tất cả những phẩm chất tích cực của mình,  
tự mình có thể trở thành động lực phát triển của CNH, HĐH.  
Hơn nữa, nguồn lực con người được coi là vô tận, phong phú, vô  
giá, quý báu nhất, duy nhất sáng tạo có khả năng sinh ra giá trị lớn  
hơn nhiều lần bản thân nó trong quá trình sản xuất và xã hội. Khả  
15  
năng sáng tạo, tích cực, chủ động của nhân tố con người cho phép  
con người làm chủ bản than, làm chủ quá trình sản xuất, làm chủ quy  
trình và công nghệ sản xuất.  
Dân  
trí  
Nhân  
lực  
Nhân  
tài  
Đường lối chính sách  
Cơ chế  
Quản lý  
Lao động  
Vốn ( các nguồn lực khác)  
Tay nghề  
Nhân cách  
Tay nghề  
Phát triển xã hội phát triển kinh tế  
Phát triển người  
Hình 2.3. Nguồn lực người – yếu tố cơ bản của phát triển  
kinh tế - xã hội.  
2.2.2 Quan điểm của Đảng về phát huy nhân tố con ngƣời  
Khi nói đến nhân tố con người, Đảng ta coi nó là vai trò là chủ  
thể, là vốn quý nhất, coi đây là nguồn lực nội sinh quyết định sự phát  
triển của xã hội. Phát huy nguồn lực con người thể hiện ở ba mặt:  
phát triển nguồn nhân lực, sử dụng nguồn nhân lực và nuôi dưỡng  
môi trường cho nguồn nhân lực. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên  
cứu và mục đích của đề tài chúng tôi cố gắng tìm ra những quan điểm  
thể hiện sự nhận thức của Đảng trong việc bồi dường và phát huy  
nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH chứ không đi sâu  
nghiên cứu nôi dung như đã nói trên.  
Trong toàn bộ sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Đảng ta  
luôn quán triệt tư tưởng coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực  
16  
của phát triển. Chính vì vậy, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Chăm lo  
hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta.  
Nhận thức rõ vai trò của CNH, HĐH đối với sự phát triển của đất  
nước và vai trò của nguồn lực con người đối với CNH, HĐH. Với tư cách  
là Đảng cầm quyền, mọi chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng đều  
quán triệt việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người.  
Đảng ta coi việc phát triển nguồn lực con người là nhằm đáp ứng  
sự phát triển kinh tế - xã hội và các lĩnh vực khác, và chính nó quyết  
định sự phát triển của các lĩnh vực ấy. Hiện nay, sự nghiệp CNH,  
HĐH đang “đòi hỏi phải có con người rất mực trung thành, giàu  
lòng yêu nước, có trình độ kiến thức hiện đại và kỹ năng thành thạo,  
có khả năng làm ra những sản phẩm sức cạnh tranh trên thị trường  
trong và ngoài nước” . Đó là những con người Việt Nam yêu nước,  
yêu Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và yêu lao động phát triển cao về trí  
tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về  
đạo đức, kết tinh những sản phẩm tốt đẹp của con người mới xã hội  
chủ nghĩa “ vừa hồng”, “vừa chuyên” .  
Tại Hội nghị toàn thể lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã  
thảo luận và ra nhiều Nghị quyết về một số vấn đề liên quan trực tiếp  
đến vấn đề tinh thần và sức khỏe của nhân dân. Đó là những vấn đè về  
giáo dục và đào tạo, văn hóa, văn nghê, về công tác bảo về và nâng cao  
sức khỏe của nhân dân. Quán triệt quan điểm đó, “Cương lĩnh xây dựng  
đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” Đảng ta đã khẳng định:  
“phương hướng lớn của chính sách xã hội là: phát huy nhân tố con  
người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền  
lợi công dân, kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa  
đời sống vật chất và tinh thần, giữa đáp ứng nhu cầu trước mắt với  
chăm sóc lợi ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”.  
17  
Đại hội Đảng lần thứ VIII (6.1996) là Đại hội CNH, HĐH đất  
nước, trong các quan điểm của Đảng về CNH, HĐH có quan điểm  
cực kỳ quan trọng: lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố  
cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.  
Tại Đại hội IX Đảng ta đã phân tích những động lực cơ bản để  
đẩy nhanh sự CNH, HĐH đi đến thắng lợi: thứ nhất, “ phát triển  
giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc  
đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con  
người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế  
nhanh và bền vững”; thứ hai, “phát triển khoa học và công nghệ  
cùng phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền  
tảng và động lực thúc đẩy CNH, HĐH đất nước”. Đại hội xác  
định bên cạnh việc đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước cần  
phải từng bước phát triển kinh tế tri thức  
Quan điểm này tiếp tục phát triển ở Đại hội X và XI. Ở Đại hội  
XI (2011), Đảng ta xác định để đẩy mạnh phát triển kinh tế tri thức  
phải gắn với phát triển giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực  
và khoa học công nghệ.  
Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung phát triển năm 2011) xác  
định “con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là  
chủ thể phát triển, tôn trọng và bảo về quyền con người, gắn quyền  
con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm  
chủ của nhân dân”  
Như vậy, trong điều kiện nước ta hiện nay, để chiến lược phát  
triển theo hướng CNH, HĐH đi đến thắng lợi, Đảng ta luôn coi  
nguồn lực con người – nguồn lực quan trọng nhất trong các nguồn  
lực, nguồn lực nội sinh – làm động lực cho sự phát triển lâu bền. Nói  
cách khác, con người là chủ thể của quá trình CNH, HĐH là chủ thể  
của quá trình biến đổi xã hội.  
18  
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP  
PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƢỜI TRONG THỜI KỲ  
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA  
3.1 THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƢỜI  
VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI.  
Nước ta hiện nay dân số khoảng 90 triệu người, xếp 14 toàn thế  
giới, cơ cấu lao động trẻ (16-35 tuổi) chiếm 65%, có truyền thống lao  
động cần cù, sáng tạo và ý chí vượt khó, cầu tiến. Hằng năm, số  
người đến tuổi lao động khoảng 1,2 triệu người (mức tăng gần 3%  
năm) vừa tạo nên tiềm năng lớn về lực lượng lo động, vừa gây nên  
sức ép gay gắt về việc làm.  
Những năm qua, bên cạnh những thành tựu, tiến độ đạt được về  
giảm mức sinh, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện  
chính sách với người và gia đình có công, chính sách an sinh xã hội  
đạt kết quả tích cực (trong năm năm 2006-2010 đã giải quyết việc  
làm cho trên 8 triệu lao động, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm còn  
4,5%, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,5%), thì việc nâng cao thể chất và  
cải thiện môi trường, điều kiện làm việc cho người lao động thì hiện  
vẫn còn nhiều hạn chế, khó khăn bức xúc cần giải quyết. Thời gian  
lao động nông nghiệp mới đạt khoảng 70% số ngày lao động trong  
năm, một số lượng lớn thanh niên nông thôn (nhất là trong thời kỳ  
nông nhàn) tràn ra thành thị tìm kiếm việc làm, gây nên sự biến động  
phức tạp, thậm chí rối loạn về thị trường sức lao động, an ninh xã  
hội, môi trường văn hóa, giao thông, y tế, cảnh quan đô thị và cả các  
tệ nạn xã hội.  
Chất lượng lao động thấp, cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật  
bất hợp lý nghiêm trọng: tỷ lệ đã qua đào tạo giữa đại học, cao đẳng-  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 13500 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người và sự vận dụng của Đảng trong việc phát huy nhân tố con người thời kỳ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_quan_diem_triet_hoc_mac_lenin_ve_con_nguoi.pdf