Luận văn Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng lên cấu trúc nano của graphite nhiệt phân (PG) tổng hợp bằng phương pháp CVD

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ  
Họ và tên: Trần Sĩ Trọng Khanh  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ  
PHẢN ỨNG LÊN CẤU TRÚC NANO CỦA  
GRAPHITE NHIỆT PHÂN (PG) TỔNG HỢP BẰNG  
PHƯƠNG PHÁP CVD  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VẬT LIỆU VÀ LINH  
KIỆN NANO  
HÀ NỘI - 2016  
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ  
Trần Sĩ Trọng Khanh  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ  
PHẢN ỨNG LÊN CẤU TRÚC NANO CỦA  
GRAPHITE NHIỆT PHÂN (PG) TỔNG HỢP BẰNG  
PHƯƠNG PHÁP CVD  
Chuyên ngành: Vật liệu và linh kiện nano  
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VẬT LIỆU VÀ LINH  
KIỆN NANO  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS.Nguyễn Năng Định  
HÀ NỘI - 2016  
LỜI CẢM ƠN  
Luận văn thạc sĩ này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GS.TS.  
Nguyễn Năng Định. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm  
người thầy kính yêu của mình về sự hướng dẫn tận tình trong thời gian thực hiện luận  
văn thạc sĩ này. Hơn nữa, trong những năm học tập tại khoa Vật lý kĩ thuật - Công  
nghệ nano (trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN), thầy đã luôn giảng giải, truyền  
đạt cho em những kiến thức bổ ích, hướng dẫn chúng em phương pháp tư duy trong  
khoa học cũng như trong và cuộc sống thực tế.  
Em chân thành cảm ơn tập thể cán bộ của phòng thí nghiệm Viện Nghiên cứu ứng  
dụng và chuyển giao công nghệ cao (IHT) – thuộc Liên Hiệp các hội KH KT Việt  
Nam đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em thực hiện các công nghệ chế tạo vật liệu  
graphite nhiệt phân (PG).  
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban chủ nhiệm khoa, thư kí văn phòng  
khoa, ThS. Nguyễn Thị Hạnh cùng toàn thể các thày cô giáo, các cán bộ của khoa Vật  
lý kỹ thuật và Công nghệ nano, PTN công nghệ nano đã nhiệt tình hướng dẫn, hỗ trợ  
em trong quá trình học tập và thực hiện luận văn. Đặc biệt, em xin cảm ơn chị Trần  
Thị Thao, đã nhiệt tình chỉ bảo cho em biết cách tiến hành các thực nghiệm và phân  
tích kết quả.  
Với lòng biết ơn và kính yêu sâu sắc, con xin gửi tới cha mẹ - chỗ dựa tinh thần  
vững chắc cho chúng con. Cha mẹ đã không quản khó khăn, sắn sàng quên bản thân  
mình để lo cho chúng con điều kiện học tập và sinh sống tốt nhất trong suốt những  
năm tháng học tập ở trường ĐHCN.  
Học Viên  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan không sao chép các tài liệu, công trình nghiên cứu của những  
tác giả khác mà không chú thích rõ ràng trong phần tài liệu tham khảo. Tôi xin chịu  
mọi trách nhiệm nếu trích dẫn kết quả của tác giả khác mà không chú thích rõ ràng!  
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2016  
Học viên cao học  
Trần Sĩ Trọng Khanh  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT  
Ar  
Argon  
C
Cacbon  
CN  
CVD  
Công Nghệ  
Phương pháp Lắng đọng pha hơi hóa học  
FE-SEM  
KH  
Kính hiển vi phát xạ trường  
Khoa học  
Mn  
Mangan  
SEM  
PG  
Kính hiển vi điện tử quét  
Graphite nhiệt phân (Pyrolytic Graphtie)  
Phương Pháp  
PP  
XDR  
VL  
Giản đồ nhiễu xạ tia X  
Vật liệu  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ  
STT  
Nội dung  
Trang  
Hình 1.1 Mạng tinh thể của graphite  
4
5
Hình 1.2 Graphite nguyên khai của mỏ graphite tự nhiên Yên Bái đã xử  
lý tạp  
Hình 1.3 Giãn nở nhiệt của graphite  
6
Hình 1.4 Giãn nở nhiệt của graphite  
7
Hình 1.5 Sự phụ thuộc của độ dẫn nhiệt theo nhiệt độ của graphite.  
Hình 1.6 Các cơ chế hình thành vật liệu trong phương pháp CVD  
Hình 1.7 Sơ đồ các quá trình tạo vật liệu trên đế của phương pháp CVD  
Hình 2.1 Sơ đồ lò thí nghiệm CVD-01 để tổng hợp PG  
Hình 2.2 Ống thép bảo vệ buồng CVD  
8
15  
16  
18  
19  
19  
Hình 2.3 a Thiết bị CVD (phần lò dùng để gia nhiệt và buồng CVD nằm  
trong lò)  
Hình 2.3 b Thiết bị CVD của Viện IHT. Đồ gá dùng để giữ thanh thép  
không gỉ thông ống dẫn khí khi trên miệng ống bị PG kết tinh  
làm bịt miệng ống không cho khí đi vào buồng CVD.  
Hình 2.4 Bình chứa chất màng carbon và các lưu lượng kế dùng để  
kiểm soát lưu lượng carbon CMC và Ar.  
20  
20  
Hình 2.5 Ống thạch anh dùng để kết tinh PG.  
22  
22  
Hình 2.6 Buồng CVD (chi tiết bên trái), nắp dưới có ống bảo vệ can  
nhiệt (chi tiết bên phái).  
Hình 2.7 Nhiễu xạ Rơnghen của PG trong U.S. Patent 4,968,527.  
Hình 2.8 Phản xạ của tia X trên các mặt phẳng Bragg  
Hình 2.9 Cấu tạo thiết bị XRD  
23  
24  
25  
26  
27  
28  
Hình 2.10 Cấu tạo của kính hiển vi điện tử quét (SEM)  
Hình 2.11 Tương tác giữa chùm tia điện tử với vật liệu  
Hình 2.12 Máy JANDEL AM3-AR tại Phòng thí nghiệm nano của  
trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN.  
Hình 3.1 Kích thước và cách treo tấm để bằng thạch anh để nhận màng  
mỏng PG có cấu trúc nano  
30  
30  
31  
Hình 3.2 Cách bố trí các tấm thạch anh trong ống thạch anh. PG được  
kết tinh lên các tấm đế đó và lên cả thành ống thạch anh.  
Hình 3.3 Các mẫu PG bố trí trong bình phản ứng bằng thạch anh ở  
nhiệt độ 10000C. Các tấm đế thạch anh đặt trong ống thạch  
anh đã được CVD để nhận PG.  
Hình 3.4 Các mẫu PG bố trí trong bình phản ứng bằng thạch anh ở  
31  
nhiệt độ 9500C. Các tấm đế thạch anh đặt trong ống thạch anh  
đã được CVD để nhận PG.  
Hình 3.5 Các mẫu PG bố trí trong bình phản ứng bằng thạch anh ở  
nhiệt độ 9000C. Các tấm đế thạch anh đặt trong ống thạch anh  
đã được CVD để nhận PG.  
32  
32  
Hình 3.6 Cách đánh dấu mẫu theo thứ tự trên chiều dọc của ống thạch  
anh  
Hình 3.7 Các mẫu PG trên các đế thạch anh được CVD ở 10000C  
Hình 3.8 Các mẫu PG trên các đế thạch anh được CVD ở 9500C  
Hình 3.9 Các mẫu PG trên các đế thạch anh được CVD ở 9000C  
Hình 3.10 nhiễu xạ rơnghen của mẫu màng mỏng PG1 nhận bằng phư-  
ơng pháp CVD trên nền thạch anh ở nhiệt độ 10000C  
Hình 3.11 nhiễu xạ rơnghen của mẫu màng mỏng PG2 nhận bằng phư-  
ơng pháp CVD trên nền thạch anh ở nhiệt độ 9500C  
33  
33  
34  
35  
35  
35  
36  
37  
Hình 3.12 nhiễu xạ rơnghen của mẫu màng mỏng PG3 nhận bằng phư-  
ơng pháp CVD trên nền thạch anh ở nhiệt độ 9000C  
Hình 3.13 Đồ thị nhiễu xạ rơnghen của 3 mẫu màng mỏng PG13,14,15  
nhận bằng phương pháp CVD trên nền thạch anh  
Hình 3.14 Cấu trúc dị hướng của PG nhận được ở nhiệt độ CVD 10000C  
với thời gian 100 h.  
Hình 3.15 Một số hình ảnh SEM của mẫu thí nghiệm PG1 được tổng hợp 38-40  
tại nhiệt độ phản ứng là 10000C  
Hình 3.16 Một số hình ảnh SEM của mẫu thí nghiệm PG2 được tổng hợp 40-42  
tại nhiệt độ phản ứng là 9500C.  
Hình 3.17 Một số hình ảnh SEM của mẫu thí nghiệm PG3 được tổng hợp 42-44  
tại nhiệt độ phản ứng là 9000C  
Hình 3.18 Một số hình ảnh SEM của mặt cắt lớp mẫu PG đã trải qua thí  
nghiệm CVD trong 100h  
45  
Hình 3.19 Một số hình ảnh SEM của mẫu PG đã trải qua thí nghiệm 46-48  
CVD trong 100h  
Hình 3.20 Chỉ số điện trở vuông của các mẫu PG1,2,3 được đo bằng máy 49-50  
JANDEL AM3-AR tại Phòng thí nghiệm nano của trường Đại  
học Công nghệ - ĐHQGHN với các dòng đo khác nhau  
LỜI NÓI ĐẦU  
Graphite nhiệt phân tên quốc tế là Pyrolytic Graphite, viết tắt là PG. Vật liệu PG  
có cấu trúc đặc biệt nên có một số đặc tính dị hướng khác thường do đó nó là vật liệu  
rất quan trọng trong công nghiệp nói chung và công nghiệp quốc phòng nói riêng.  
Trong công nghiệp nói chung, PG không thể thiếu trong các nhà máy hóa chất,  
nhất là trong nhà máy sản xuất Clor và xút. Chúng được làm điện cực để điện phân  
muối thu được Clor và xút. Trong lò nhiệt độ cao từ 16000C đến 30000C chúng làm  
màn phản nhiệt và cách nhiệt. Không có màn phản nhiệt này sẽ không bao giờ đạt  
được nhiệt độ trên 20000C trong lò chân không. PG còn được sử dụng chế tạo màn lọc  
đơn sắc cho neutron và nghiên cứu tán xạ Xray. Graphite nhiệt phân có trật tự cao  
(HOPG) được sử dụng như một yếu tố hòa tan trong quang phổ kế HOPG được sử  
dụng cho quang phổ Xray. Trong y học, PG còn được dùng như những lớp phủ lên  
van tim hoặc khớp thay thế trong tiểu phẫu chỉnh hình ...  
Trong công nghiệp quốc phòng. Tất cả các loa phụt của động cơ tên lửa từ loại tên  
lửa chống tăng đến tên lửa tầm xa đều phải dùng đến PG. Nói chính xác hơn, không  
có PG sẽ không có sở hữu công nghệ tên lửa, dù là tầm gần loại vác vai như IGLA  
hay tên lửa vượt đại châu. Đây là loại vật liệu đặc biệt quan trọng trong công nghiệp  
chế tạo thiết bị công nghệ cao (các loại lò trên 2000oC) và công nghiệp sản xuất tên  
lửa nên liên quan trực tiếp đến quốc phòng của các nước. Do đó những thiết bị công  
nghệ chế tạo và công nghệ tổng hợp PG hiện được Mỹ và các nước sở hữu tên lửa  
cấm chuyển giao trên toàn thế giới. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất ra một công  
nghệ chế tạo PG của luận văn này có thể sẽ là bước tiến mới với nền khoa học kĩ  
thuật, công nghiệp cũng như quốc phòng của nước ta. Vấn đề này đã được đưa ra thực  
hiện trước đây ở nước ta trong các công trình [1,11] chỉ mới là những đề tài khảo sát  
thăm dò mà thôi.  
Luận văn đặt ra mục tiêu là khảo sát rõ hơn sự ảnh hưởng của thông số nhiệt độ  
lên cấu trúc nano của tinh thể PG dựa trên những nghiên cứu đã có về việc tổng hợp  
Graphite nhiệt phân (PG) bằng phương pháp Lắng đọng pha hơi hóa học (CVD) tại  
Việt Nam.  
1
 
CHƯƠNG 1 – PHẦN TỔNG QUAN  
1.1. Tổng quan về vật liệu Graphite  
1.1.1. Carbon  
Carbon là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu là C và số nguyên  
tử bằng 6, nguyên tử khối bằng 12. Là một nguyên tố phi kim có hóa trị 4 phổ biến,  
carbon có nhiều dạng thù hình khác nhau, phổ biến nhất là 3 dạng thù hình  
gồm carbon vô định hình, graphite và kim cương. Carbon là nguyên tố đáng chú ý vì  
nhiều lý do. Các dạng khác nhau của nó bao gồm một trong những chất mềm nhất  
(graphite) và hai trong những chất cứng nhất (graphene và kim cương) cũng như  
là chất bán dẫn tốt nhất, hơn cả silic (graphene). Ngoài ra, nó có ái lực lớn để tạo  
ra liên kết với cácnguyên tử nhỏ khác, bao gồm cả các nguyên tử carbon khác, và kích  
thước nhỏ của nó làm cho nó có khả năng tạo ra liên kết phức tạp. Vì các thuộc tính  
này, carbon được biết đến như là nguyên tố có thể tạo ra cỡ 10 triệu loại hợp chất khác  
nhau, chiếm phần lớn trong các hợp chất hóa học. Các hợp chất của carbon tạo ra nền  
tảng cho mọi loại hình sự sống trên Trái Đất và chu trình carbon-nitơ dự trữ và tái  
cung cấp một số năng lượng được sản sinh từ Mặt Trời và các ngôi sao. Carbon cũng  
có điểm thăng hoa cao nhất trong tất cả các nguyên tố. Trong điều kiện áp suất khí  
quyển nó không có điểm nóng chảy vì điểm ba trạng thái của nó ở tại 10,8 ± 0,2 MPa  
và 4.600 ± 300K(~4.330 °C hay 7.820 °F),[5,10] do đó nhiệt độ thăng hoa của nó  
trong trường hợp này vào khoảng 3.900 K [3,12]  
Carbon tồn tại trong mọi sự sống hữu cơ và nó là nền tảng của hóa hữu cơ. Phi  
kim này còn có thuộc tính hóa học đáng chú ý là có khả năng tự liên kết với nó và liên  
kết với một loạt các nguyên tố khác, tạo ra gần 10 triệu hợp chất đã biết. Khi liên kết  
với ôxy nó tạo ra carbon điôxít là rất thiết yếu đối với sự sinh trưởng của thực vật. Khi  
liên kết với hiđrô, nó tạo ra một loạt các hợp chất gọi là các hiđrôcarbon là rất quan  
trọng đối với công nghiệp trong dạng của các nhiên liệu hóa thạch. Khi liên kết với cả  
ôxy và hiđrô nó có thể tạo ra rất nhiều nhóm các hợp chất bao gồm các axít béo, là cần  
thiết cho sự sống, và este, tạo ra hương vị của nhiều loại hoa quả.  
Carbon là nguyên tố phổ biến thứ 4 trong vũ trụ về khối lượng sau hydro, heli,  
và ôxy. Carbon có rất nhiều trong Mặt Trời, các ngôi sao, sao chổi và bầu khí quyển  
của phần lớn các hành tinh. Một số thiên thạch chứa các kim cương vi tinh thể, loại  
được hình thành khi hệ Mặt Trời vẫn còn là một đĩa tiền hành tinh. Các kim cương vi  
tinh thể này có thể đã được tạo ra bằng áp lực rất mạnh và nhiệt độ cao tại những nơi  
mà thiên thạch đó va chạm.[8]  
Có khoảng 10 triệu hợp chất khác nhau của carbon mà khoa học đã biết và hàng  
nghìn trong số đó là tối quan trọng cho các quá trình của sự sống và cho các phản ứng  
trên cơ sở hữu cơ rất quan trọng về kinh tế. Trong tổ hợp với các nguyên tố khác,  
carbon được tìm thấy trong bầu khí quyển Trái Đất và hòa tan trong mọi thực thể có  
2
     
chứa nước. Với một lượng nhỏ hơn của canxi, magiê và sắt, nó tạo ra thành phần chủ  
yếu của một lượng rất lớn đá carbonat (đá vôi, đôlômit, đá cẩm thạch v.v.). Khi tổ hợp  
với hiđrô, carbon tạo thành than, dầu mỏ và khí tự nhiên, còn được gọi là  
các hiđrôcarbon.  
Các dạng thù hình của carbon  
Các thù hình của carbon là sự khác nhau về cấu trúc mạng nguyên tử mà các  
nguyên tử tinh khiết có thể tạo ra. Ba dạng được biết nhiều nhất là carbon vô định  
hình, graphite và kim cương. Một số thù hình kỳ dị khác cũng đã được tạo ra hay phát  
hiện ra, bao gồm các fullerene, ống nano carbon và Lonsdaleit. Muội đèn bao gồm các  
bề mặt dạng graphite nhỏ. Các bề mặt này phân bổ ngẫu nhiên, vì thế cấu trúc tổng thể  
là đẳng hướng. Carbon thủy tinh là đẳng hướng và có tỷ lệ độ xốp cao. Không giống  
như graphite thông thường, các lớp graphite không xếp lên nhau giống như các trang  
sách, mà chúng có sự sắp xếp ngẫu nhiên.  
Ở dạng vô định hình, carbon chủ yếu có cấu trúc tinh thể của graphite nhưng  
không liên kết lại trong dạng tinh thể lớn. Trái lại, chúng chủ yếu nằm ở dạng bột và  
là thành phần chính của than, muội, bồ hóng, nhọ nồi và than hoạt tính.  
Ở áp suất bình thường carbon có dạng của graphite, trong đó mỗi nguyên tử liên  
kết với 3 nguyên tử khác trong mặt phẳng tạo ra các vòng lục giác, giống như các  
vòng trong các hiđrôcarbon thơm. Có hai dạng của graphite đã biết, là alpha (lục giác)  
và beta (rhombohedral), cả hai có các thuộc tính vật lý giống nhau, ngoại trừ về cấu  
trúc tinh thể. Các loại graphite có nguồn gốc tự nhiên có thể chứa tới 30% dạng beta,  
trong khi graphite tổng hợp chỉ có dạng alpha. Dạng alpha có thể chuyển thành dạng  
beta thông qua xử lý cơ học và dạng beta chuyển ngược thành dạng alpha khi bị nung  
nóng trên 1000°C.  
Vì sự phi tập trung hóa của các đám mây π, graphite có tính dẫn điện. Vật liệu vì  
thế là mềm và hình thành các lớp, thường xuyên bị tách ra bởi các nguyên tử khác,  
được giữ cùng nhau chỉ bằng các lực Van-der-Waal, vì thế chúng dễ dàng trượt trên  
nhau.  
Ở áp suất cực kỳ cao các nguyên tử carbon tạo thành thù hình gọi là kim cương,  
trong đó mỗi nguyên tử được liên kết với 4 nguyên tử khác. Kim cương có cấu trúc  
lập phương như silic và gecmani và vì độ bền của các liên kết carbon-carbon, cùng với  
chất đẳng điện nitrua bo (BN) là những chất cứng nhất trong việc chống lại sự mài  
mòn. Kim cương nhân tạo và vật liệu siêu cứng boron nitride BN được tổng hợp dưới  
áp suất cao và nhiệt độ cao (Trên 50.000at và 15000C) trong phòng thí nghiệm bằng  
phương pháp ép nóng. Sự chuyển hóa thành graphite ở nhiệt độ phòng là rất chậm và  
không thể nhận thấy. Dưới các điều kiện khác, carbon kết tinh như là Lonsdaleit, một  
dạng giống như kim cương nhưng có cấu trúc lục giác. Kim cương và BN ở dạng thù  
hình Lonsdaleit được tổng hợp dưới áp suất siêu cao và nhiệt độ cao (Từ 400 at trở lên  
3
và nhiệt độ trên 10000C) bằng phương pháp dùng năng lượng của sóng xung kích  
(Thuốc nổ)  
Các fulleren có cấu trúc giống như graphite, nhưng thay vì có cấu trúc lục giác  
thuần túy, chúng có thể chứa 5 (hay 7) nguyên tử carbon, nó uốn cong các lớp thành  
các dạng hình cầu, elip hay hình trụ. Các thuộc tính của các fulleren vẫn chưa được  
phân tích đầy đủ. Tất cả các tên gọi của các fulleren lấy theo tên gọi của Buckminster  
Fuller, nhà phát triển của kiến trúc mái vòm, nó bắt chước cấu trúc của các  
"buckyball".  
1.1.2. Graphite  
a). Cấu trúc mạng graphite  
Graphite được định nghĩa như một lớp các vật liệu có nồng độ carbon graphite  
cao [2]. Dạng graphite của carbon được chỉ ra trên Hình 1.1. Trong mạng lục giác mỗi  
nguyên tử carbon có 4 điện tử hóa trị ; 3 điện tử trong đó tạo thành liên kết cộng hóa  
trị bền vững với các nguyên tử xung quanh, nguyên tử thứ 4 liên kết yếu hơn. Lớp  
hình thành bởi các nguyên tử liên kết với nhau bởi lực Van-der-Waal yếu hơn nhiều.  
Như vậy, các nguyên tử lân cận trong một lớp bất kì xếp sít (1,142AO) hơn khoảng  
cách giữa các lớp (3,35AO). Cấu hình nguyên tử này dẫn đến tính dị hướng rất mạnh  
trong mạng tinh thể. Chú ý rằng, sự sắp xếp nguyên tử lặp lại ở mỗi lớp tiếp theo và  
tồn tại một nguyên tử phía trên tâm của mỗi hình lục giác trong mặt phẳng ngay sát  
trên.  
Hình 1.1. Mạng tinh thể của graphite  
Tính dị hướng ảnh hưởng rất mạnh đến tính chất của graphite tinh thể và  
graphite được chế tạo. Chẳng hạn, độ dẫn điện và nhiệt rất cao trong hướng song song  
với mặt phẳng nguyên tử carbon (hướng a) nhưng thấp hơn hướng vuông góc với các  
mặt phẳng đó (hướng c). Giãn nở nhiệt thấp theo hướng song song nhưng cao theo  
4
 
hướng vuông góc. Graphite được chế tạo được hình thành từ các tinh tử (tinh thể rất  
nhỏ) của cấu trúc đã được mô tả, nhưng sự định hướng ưa thích của các tinh tử bên  
trong một mảnh có thể thay đổi từ sự định hướng gần như ngẫu nhiên. Điều đó cho  
các tính chất vật lý ít bị dị hướng so với khi mức độ định hướng ưa thích cao, vì khi  
đó tính dị hướng thể hiện rất mạnh. Chú ý rằng, ngay cả trong graphite thông thường  
được đính hướng cao nhất của các tinh tử cũng không có được.  
Đã xác định rằng graphite gồm nhiều cấu trúc graphite có trật tự, tuy nhiên,  
trong nhiều trường hợp một lượng chính xác của chất rắn tổng cộng trong graphite có  
thể gồm carbon được trật tự hóa, hoặc ít nhất carbon với trật tự kém hơn đáng kể mà  
được mô tả ở trên đối với graphite tinh thể. Số lượng cụ thể của vật liệu như vậy phụ  
thuộc nhiều vào sự lựa chọn nguyên liệu thô và nhiệt độ lớn nhất đạt được trong quá  
trình chế tạo. Các tinh tử kém trật tự hơn có lẽ được định hướng ngẫu nhiên trong vật  
thể và turbostratic thành phần bố lớp; nghĩa là chúng có thể coi như được làm từ các  
sắp xếp nhỏ song song nhưng các mặt phẳng graphite được quay ngẫu nhiên [7].  
Hình 1.2. Graphite nguyên khai của mỏ graphite tự nhiên Yên Bái đã xử lý tạp  
Hình 1.1 và hình 1.2 thể hiện cấu trúc phân lớp của graphite. Các hạt graphite tự  
nhiên gồm những tấm mặt phẳng nguyên tử xếp chồng lên nhau. Trong Hình 2 ta thấy  
được cấu trúc của của những hạt graphite nhận được sau khi đã xử lý tạp. Hạt graphite  
này là tập hợp nhiều tấm graphite có kích thước chiều dày chỉ khoảng một vài chục  
nanomet nằm xếp sát lên nhau. Các tấm này rất dễ tách ra khỏi nhau và từng tấm  
mỏng có kích thước nanomet này dễ dàng bọc lấy các hạt SiO2 như kiểu lấy một tờ  
giấy để gói một quả cam vào trong vậy.  
b). Các tính chất của Graphite  
Độ xốp  
5
Độ xốp của graphite là do sự bay hơi chất bốc trong quá trình chế tạo và sự co  
ngót khác nhau của các tinh tử gây nên. Về mặt lý thuyết, graphite đa tinh thể có thể  
đạt mật độ 100% ở nhiệt độ xử lý cao nhất, Tuy nhiên, các chỗ trống hình thành trong  
quá trình nguội do sự co ngót khác nhau theo các hướng a và c của các tinh tử định  
hướng ngẫu nhiên. Sự triệt tiêu các lỗ trống này có thể thực hiện được thông qua việc  
sử dụng áo suất và nhiệt độ cao để đồng thời tạo graphite đa tinh thể. Dòng chảy dẻo  
sẽ thu được và các tinh tử có thể xếp thành hàng với trục c song song với lực ép. Tuy  
nhiên, cần nhớ rằng, điều này có thể gây nên tính dị hướng mạnh hơn và do đó những  
tính chất khác có sự thay đổi mạnh hơn độ xốp. Thực tế nung đới áp suất cao cho  
graphite có định hướng và mật độ trung gian giữa graphite ép nóng và graphite thương  
phẩm  
Một vài phưong pháp làm tăng mật độ graphite ít nhất đã thành công một phần.  
Tẩm ướt hắc ín nhiều lần làm cho mật độ graphite đạt đến giá trị khoảng 1,9mg/cc.  
Việc thêm carbon ngược trở lại hỗn hợp cốc-hắc ín cũng được quan tâm. Trong khi  
theo phương pháp này mật độ tăng lên thì lại có nhược điểm, chẳng hạn về độ bền  
chống sốc nhiệt lại trở thành vấn đề.  
Giãn nở nhiệt  
Giãn nở nhiệt là ảnh hưởng của sự dao động nhiệt mạng nguyên tử, các tính chất  
đàn hồi của các tinh tử, và liên kết giữa các tinh tử và các hạt trong tinh tử đó. Hình  
1.3 và Hình 1.4 so sánh giãn nở nhiệt của các đơn tinh thể với giãn nở nhiệt của  
graphite.  
Hình 1.3. Giãn nở nhiệt của graphite  
6
Hình 1.4. Giãn nở nhiệt của graphite  
Chú ý đến sự co theo hướng a của tinh thể graphite ở nhiệt độ thấp. Mrozowski  
đã đưa ra mô hình giải thích quan hệ giữa các tính chất của đơn tinh thể và đa tinh thể.  
Theo đó, các tinh tử dị hướng liên kết với nhau bằng liên kết mạnh ở chu vi của các  
mặt phẳng lớn hơn và do vậy khi graphite đa tinh thể nguội sau khi xử lý nhiệt, liên  
kết ngang mạnh làm co vật thể do nồng độ thấp của các tinh tử trong hướng song song  
với mặt phẳng. Việc co khác nhau theo hướng song song và vuông góc sẽ gây nên  
những lỗ xốp không thể tránh khỏi và nội ứng suất. Rão nhớt giải phóng ứng suất ở  
nhiệt độ trên 4100-4500oF; tuy nhiên, vì nhiệt độ bị hạ thấp nên ứng suất vẫn còn lại.  
Colin thì cho rằng, các tinh tử giãn nở ngược lại về phía các lỗ trống được tạo ra, do  
đó nó chỉ góp phần nhỏ vào giãn nở chung của cả hệ. Điều này giúp cho việc giải  
thích một vài sự khác nhau giữa giãn nở của các tinh tử và graphite gia công.  
Độ dẫn nhiệt  
Trong hướng a, độ dẫn điện của đơn tinh thể graphite là cao nhất trong số các vật  
liệu trên những khoảng nhiệt độ nhất định. Như đã nói trước đây, trong hướng c, độ  
dẫn điện cực kì thấp. Graphite được chế tạo nói chung là chất dẫn điện khá tốt, tuy  
nhiên, độ dẫn nhiệt có thể thay đổi trong một khoảng rộng tùy theo loại graphite hoặc  
định hướng các tinh tử của nó. Chẳng hạn, xốp graphite được chuẩn bị có độ dẫn nhiệt  
ở nhiệt độ phòng thấp 0,5 Btu/Ft/hr/F với hạt. Một vài loại graphite định hướng cao,  
mật độ cao được phát triển gần đây có độ dẫn nhiệt theo hạt vượt quá 150Btu/Ft/hr/F.  
Giá trị theo hướng a của đơn tinh thể khoảng 800.  
7
Hình 1.5. Sự phụ thuộc của độ dẫn nhiệt theo nhiệt độ của graphite.  
Nói chung chấp nhận rằng, truyền nhiệt trong graphite theo cơ chế dao động  
mạng, độ dẫn nhiệt giảm trên nhiệt độ phòng phù hợp với giả thiết này. Trong  
graphite đa tinh thể, độ dẫn nhiệt bị ảnh hưởng mạnh bới kích thước tinh tử, liên kết  
giữa các tinh tử, hiệu ứng định hướng và độ xốp. Bản chất sự phụ thuộc nhiệt độ của  
độ dẫn nhiệt được chỉ ra trên Hình 1.5. Các số liệu trên khoảng 5000OF là rất hiếm.  
Trên nhiệt độ này độ dẫn nhiệt giảm đi rất mạnh là do hình thành các khuyết tật mạng  
nhiệt. Điều này cần được khẳng định vì rõ rang là có thể có một vài ảnh hưởng quan  
trọng đến việc sử dụng graphite ở nhiệt độ này, đặc biệt ứng dụng trong hàng không  
và hạt nhân.  
Nhiệt dung riêng  
Nhiệt dung riêng không phải là hàm nhạy cảm của vật liệu và công nghệ. Công  
trình của Rasor và McClelland chỉ ra rằng, nhiệt dung riêng tăng ở nhiệt độ trên  
5000OF ứng với giảm độ dẫn nhiệt.  
Độ phát xạ của các loại graphite khác nhau thì khác nhau nhưng chịu ảnh hưởng  
nhiều hơn đối với sự kết thúc về mặt trên mẫu được thử nghiệm. Những khó khăn khi  
nhận được giá trị mô tả do nhiệt độ cao làm thay đổi đặc tính bề mặt. Giá trị phát xạ  
chuẩn tổng đại diện là 0,77. Các phếp đo của phát xạ phổ ở 6500AO cho thấy giá trị  
0,77 là đối với graphite được đánh bóng và khoang 0,90 đối với bề mặt mờ. Phát xạ  
phổ của graphite ở bước sóng 2000 đến 7500AO gần như là hằng số.  
Sốc nhiệt  
Độ bền chống sốc nhiệt là khả năng của vật liệu chống lại sự làm yếu hoặc phá  
hỏng khi được nung nóng hoặc làm nguội đột ngột. Không có phép thử tiêu chuẩn nào  
được dùng để đánh giá chính xác tính chất này. Tuy nhiên, thực tiễn có một vài phép  
8
thử được sử dụng co những áp dụng đặc biệt khi hình dáng có thể được xác định. So  
sánh với các vật liệu gốm khác, graphite chống sốc nhiệt rất tốt và trong hầu hết các  
phép thử thường được áp dụng cho gốm đã không thể làm hỏng graphite. Độ bền  
chống sốc nhiệt khác thường của graphite tăng lên do sự tổ hợp các tính chật vật lý  
như độ bền cao, dẫn nhiệt tốt, module đàn hồi thấp và hệ số dãn nhiệt nhỏ. Công thức  
KS  
4 yếu tố  
thường được dùng cho graphite chỉ với ý rất định tính vì còn nhiều  
E  
yếu tố khác chưa được biết cũng đóng vai trò quan trọng.  
Ttính chất cơ học  
Có lẽ đặc trưng nổi bật của graphite được dùng cho ngành chế tạo tàu vũ trụ là tỷ  
số độ (bền/khối lượng) cao so với hầu hết các vật liệu chịu nhiệt khác. Graphtie cấp độ  
ECA là điển hình cho loại có hạt mịn, chất lượng tốt nhất.  
Nói chung, độ bền ở nhiệt độ thường của carbon và graphite giảm giữa 1000 và  
2000psi, độ bền uốn giữa 1000 và 3500psi, độ bền nén từ 3000 đến 8500psi và  
module đàn hồi khi kéo từ 0,5 đến 2,5.106psi. Các giá trị này là dọc theo hạt, và các  
giá trị vuông góc với chiều hạt thì thấp hơn. Tất nhiên, cơ tính phụ thuộc vào cấu trúc  
tế vi, đặc biệt là sự định hướng.  
Một quy luật so sánh được rút ra từ thực nghiệm đối với độ bền kéo của graphite  
cho rằng, ở 2500OC độ bền kéo cao gấp đôi giá trị quan sát được ở nhiệt độ phòng. Sự  
khác thường của graphite loại CEQ là do chất lượng cao của muội đèn ở trong vật liệu  
này. Muội đèn như nói trước đây, không có được mức độ kết tinh cao. Một quan hệ  
thô giữa một vài loại graphite đã chỉ ra rằng, mật độ khối ở nhiệt độ thường có thể  
dùng để tiên đoán độ bền kéo ở nhiệt độ cao.  
Các độ bền uốn và xoắn của graphite cũng tăng khi nhiệt độ tăng. Những khó  
khăn trong việc xác định cơ tính ở trên 4500F là rất nhiều. Nhiệt độ ứng với độ bền  
cực đại khó xác định thật chính xác. Ngoài ra, tốc độ giảm độ bền khó tiếp cận. Tuy  
nhiên, một vài số liệu gần đây chỉ ra rằng, có thể tìm thấy độ bền có thể sử dụng cho  
đến 5500F. Một số nhà nghiên cứu đã thử giải thích quan hệ giữa độ bền tăng theo  
nhiệt độ. Mrozowski đã đóng góp nó vào việc giải phóng ứng suất mà ứng suất này  
tăng do hiện tượng co dị hướng của các đơn tinh thể trong vật đa tinh thể. Martens giả  
thiết rằng độ dẻo của graphite tăng ở nhiệt độ cao có thể cho phép biến dạng cục bộ  
quanh những chỗ tập trung ứng suất và do đó cho phép chịu tải cao hơn trước khi bị  
phá huỷ. Ở nhiệt độ trên 4500F vật liệu dẻo đến mức những thay đổi của nhiệt độ  
không ảnh hưởng đáng kể đến dòng chảy vật liệu quanh nơi tập trung ứng suất như  
hầu hết các vật liệu khác. Mrozowski cũng giả thiết rằng phá huỷ ở nhiệt độ cao là phá  
huỷ dẻo. Bề mặt gẫy cho thấy sự xuất hiện của phá huỷ giòn do phá huỷ xảy ra thông  
qua cầu nối chất kết dính hoặc giữa chất kết dính và các hạt điền đầy.  
Tốc độ rão ở trạng thái ổn định của khối carbon phụ thuộc không chỉ vào ứng  
suất đặt vào và nhiệt độ của vật thể mà còn phụ thuộc, nh nhiều tính chất khác, vào xử  
9
lý nhiệt trước đó của vật liệu cũng như vào dạng carbon cơ sở của nó. Chẳng hạn,  
carbon nung ở 1000OC sẽ chảy dẻo đáng kể ở trên 1500OC. Tuy nhiên, vật liệu đã đư-  
ợc xử lý nhiệt ở 3000OC không chảy rõ rệt ở dới 2300OC. Ở nhiệt độ sau, tốc độ rão  
khoảng 0,05% trong một giờ khi ứng suất bằng 85% độ bền kéo của nó ở nhiệt độ  
phòng. Những nghiên cứu sơ bộ chỉ ra rằng, tốc độ rão của vật liệu cơ sở muội đèn  
gần bằng một phần mời lăm giá trị của graphite nền cốc ở 2600OC và 8500 psi. Tốc độ  
rão nhiệt độ cao của graphite tạo hình hạt nhỏ chịu ứng suất dọc hạt với các ứng suất  
khác nhau ở khoảng nhiệt độ từ 3600 đến 4800F đã được đo. Ở nhiệt độ cao biến dạng  
dẻo của graphite như là hàm của thời gian với ứng suất đã cho, cho thấy đường cong 3  
giai đoạn đặc trưng của hầu hết kim loại.  
Xói mòn  
Khả năng graphit chống lại xói mòn là cực kỳ quan trọng trong tên lửa được dẫn  
đường, buồng phản ứng hạt nhân và các ứng dụng khác ở nhiệt độ cao. Có nhiều yếu  
tố ảnh hưởng đến xói mòn graphit, và cơ chế chính xác chưa được biết rõ. Nói đơn  
giản, xói mòn có thể do khả năng phản ứng hoá học và do mài mòn cơ học. ở nơi  
không có khả năng phản ứng hoá học thì hiệu ứng xói mòn do khí nóng có thể bỏ qua.  
điều này có thể thấy rõ khi dùng dòng phun heli ở 2000OC với tốc độ 900 ft/sec.  
Trong 24 giờ, tổn thất khối lượng duy nhất được quan sát thấy là do tách các hạt đã bị  
bong ra trước đó trong quá trình gia công cơ bề mặt.  
Khi khảo sát tình huống mà các phản ứng hoá học có thể xảy ra, các yếu tố khác  
tương đương, thì tốc độ xói mòn tăng lên khi nhiệt độ tăng. Trong ứng dụng tuye các  
hiệu ứng hóa học và cơ học là lớn và phức tạp do nhiệt độ và áp suất cao và tốc độ  
dòng khí thoát ra lớn. Thêm vào hiệu ứng ô-xi hoá (nếu có), các thành phần khác  
trong khí thoát ra có thể có hiệu ứng nguy hiểm đến khả năng phản ứng hóa học của  
graphit. Các tạp chất có mặt trong graphit cũng có thể ảnh hưởng đến cơ chế xói mòn.  
Nghiên cứu tế vi graphite khối sau khi dùng trong động cơ tên lửa thấy rằng, xói  
mòn xảy ra trước tiên ở chất kết dính. Các hạt do liên kết yếu sẽ nhạy cảm hơn đối với  
xói mòn cơ học. Cơ chế xói mòn rất phức tạp và không được hiểu rõ. Tuy nhiên, rõ  
ràng là các chi tiết cấu trúc tế vi, môi trường bên ngoài, các tính chất cơ-nhiệt-hoá đều  
ảnh hưởng đến xói mòn.  
1.1.3.Graphite nhiệt phân (PG)  
Graphite nhiệt phân tên tiếng Anh là Pyrolytic Graphite (PG) là một hình thức  
đặc biệt của graphite được sản xuất bằng cách phân hủy các khí ga hydrocarbon ở  
nhiệt độ rất cao trong lò. Kết quả nhận được là một sản phẩm siêu tinh khiết có mật độ  
gần với lý thuyết và vô cùng bất đẳng hướng. Ví dụ như PG thể hiện tính dẫn nhiệt rất  
tốt theo hướng a,b và theo hướng c thì độ dẫn nhiệt thấp hơn cả gạch chịu lửa. Tính  
chất cơ lý, nhiệt và những tính chất điện nói chung là cao hơn nhiều so với graphite  
thông thường.  
10  
 
PG có thể ở dạng tấm hoặc phủ lên như một lớp chống thấm trên bề mặt các loại  
vật liệu khác.  
Tính chất của PG [4]  
- Tính chất nguyên tử  
Số hiệu nguyên tử : 6  
Bán kinh nguyên tử : 0.077 nm  
Nguyên tử khối : 12.011 amu  
Chức năng làm việc quang : 4.8eV  
Hấp thụ neutron nhiệt mặt cắt ngang : 0.0034 Barns  
- Những tính chất vật lý  
Nhiệt độ sôi : 50000C  
Mật độ tại 200C : 2.25 g/cm3  
Nhiệt độ nóng chảy : 36500C  
- Tính chất điện  
Điện trở tại 00C : 1357 u [[Omega]] cm  
Điểm lạnh tại 00C,  
Điểm nóng tại 1000C : +0.70 mV  
- Tính chất nhiệt  
Hệ số mở rộng tuyến tính tại 0 – 1000C : 0.6 4.3x106 m/mK  
Nhiệt dung riêng tại 250C : 712 J/kgK  
Độ dẫn nhiệt tại 0 – 1000C : 80 240 W/mK  
- Tính chất cơ học  
Mô đun tổng hợp : 33 MPa  
Độ cứng : 0.51.0 kgf/mm2  
Mô đun đàn hồi : 4.80 Gpa  
Graphite nhiệt phân kết tinh theo một cấu trúc có trật tự tốt với trục c của các  
tinh tử nằm vuông góc với bề mặt của màn chắn. Chất kết tinh thể hiện sự định hưóng  
rất cao với cấu trúc tế vi giống như hình chóp nón mà ở đó đáy được định hướng về  
phía màn chắn như .  
Một vài sự khác nhau về cấu trúc giữa graphite nhiệt phân và graphite thương  
phẩm (được chế tạo từ cốc dầu hoả và nhựa đường). Đặc biệt cần chú ý đến mật độ  
của vật liệu. Graphite loại ATJ, có lẽ là tiêu chuẩn công nghiệp không gian, chỉ đạt  
được 70% mật độ lý thuyết. Ngược lại, tuỳ theo điều kiện phân huỷ, graphite nhiệt  
phân có thể nhận được mật độ vượt quá 99% giá trị lý thuyết. Những khác nhau khác  
11  
về cấu trúc liên quan đến sự khác nhau về định hướng tinh thể của các tinh tử và kích  
thước các tinh tử. Tinh thể graphite dị hướng cho trên Hình 1.1.  
Các tinh tử trong graphite nhựa đường là đồng dạng trong mỗi mặt phẳng  
nguyên tử thứ hai theo hướng c. Như là kết quả của phân rã nhiệt, các mặt phẳng trong  
tinh tử graphite nhiệt phân cho thấy cấu trúc định hướng ngẫu nhiên so với các tinh tử  
khác. Ngoài ra, mặt phẳng đáy không phẳng mà bị uốn hoặc xoắn. Những sự khác  
nhau này gây nên những khác nhau về khoảng cách mạng c0. Đối với tinh tử graphite  
thông thường có giá trị c0=6,71A0 còn đối với graphite nhiệt phân ở khoảng 21000C  
thì c0=6,90A0.  
Ngoài ra, các tinh thể còn có định hướng tinh thể khác nhau. ở đây sự định  
hướng được xác định như là tỷ số của số tinh tử có trục c nằm vuông góc với bề mặt  
so với số tinh tử nằm song song bề mặt. Tỷ số dị hướng quyết định mức độ dị hướng  
tinh chất, và trong graphit nhiệt phân đạt được 1000/1. Ngược lại, trong graphie nhựa  
đường tỷ số này là 5/1. Có ít hoặc không có carbon vô trật tự trong graphite nhiệt  
phân.  
Các tính chất của graphite nhiệt phân nhạy cảm với điều kiện sản xuất đến mức  
mà graphite nhiệt phân có thể được gọi là một lớp vật liệu hơn là vật liệu đơn lẻ.  
Trong số các thông số sản phẩm thì hình học của chất nền, nhiệt độ phân huỷ, tốc độ  
dòng khí là quan trọng hơn cả.  
1.2. Phương pháp Lắng đọng pha hơi hóa học (CVD)  
1.2.1. Định nghĩa CVD  
CVD là tên viết tắt bằng tiếng Anh của từ Chemical Vapor Deposition tức là  
phương pháp Lắng đọng hơi hóa học. Đây là một phương pháp linh hoạt được sử  
dụng để chế tạo các vật liệu rắn có độ tinh khiết và hiệu suất cao. CVD có thể chế tạo  
hầu hết các kim loại. Một số phi kim quan trọng như Cacbon, Silicon, ... cũng như  
một số lượng lớn các hợp chất Carbide, Nitride, Oxide..., và nhiều loại vật liệu khác.  
CVD là phương pháp mà vật liệu rắn được lắng đọng từ pha hơi thông qua các  
phản ứng hóa học xảy ra ở gần bề mặt đế được nung nóng để tạo thành màng mỏng  
Trong CVD, vật liệu rắn thu được là dạng lớp phủ, bột hoặc đơn tinh thể. Bằng  
cách thay đổi điều kiện thí nghiệm, vật liệu đế, nhiệt độ đế, thành phần cấu tạo của  
hỗn hợp khí phản ứng, áp suất….có thể đạt đ ược những đặc tính khác nhau của vật  
liệu. Điểm đặc biệt của công nghệ CVD là có thể chế tạo được màng với độ dày đồng  
đều và ít bị xốp ngay cả khi hình dạng đế phức tạp. Một điểm đặc trưng khác của  
CVD là có thể lắng đọng chọn lọc, lắng đọng giới hạn trong một khu vực nào đó trên  
đế có trang trí hoa văn. CVD được sử dụng để chế tạo nhiều loại màng mỏng. ví dụ  
chế tạo các màng ứng dụng trong công nghệ vi điện tử như: Màng cách điện, dẫn điện,  
lớp chống gỉ, chống oxi hóa và lớp epitaxy. Chế tạo sợi quang chịu nhiệt, và có độ bền  
12  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 64 trang yennguyen 13160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng lên cấu trúc nano của graphite nhiệt phân (PG) tổng hợp bằng phương pháp CVD", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_anh_huong_cua_nhiet_do_phan_ung_len_cau.pdf