Luận văn Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc và sự cam kết với tổ chức, hiệu quả công việc, ý định nghỉ việc của công chức cấp phường trên địa bàn Quận 6

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
NGUYỄN THỊ HUỲNH THANH  
MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ HÀI LÒNG TRONG  
CÔNG VIỆC VÀ SỰ CAM KẾT VỚI TỔ CHỨC,  
HIỆU QUẢ CÔNG VIỆC, Ý ĐỊNH NGHỈ VIỆC  
CỦA CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG  
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 6  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2019  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
NGUYỄN THỊ HUỲNH THANH  
MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ HÀI LÒNG TRONG  
CÔNG VIỆC VÀ SỰ CAM KẾT VỚI TỔ CHỨC,  
HIỆU QUẢ CÔNG VIỆC, Ý ĐỊNH NGHỈ VIỆC  
CỦA CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG  
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 6  
Chuyên ngành : Quản lý công  
Mã số  
: 8340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. VÕ SÁNG XUÂN LAN  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan rằng Luận văn “Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công  
việc và sự cam kết với tổ chức, hiệu quả công việc, ý định nghỉ việc  
của công chức cấp phường trên địa bàn Quận 6” là công trình nghiên cứu do  
chính tôi thực hiện.  
Các số liệu thu thập và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn hợp  
pháp, trung thực. Các tài liệu tham khảo có nguồn trích rõ ràng.  
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài  
nghiên cứu./.  
Người thực hiện luận văn  
Nguyễn Thị Huỳnh Thanh  
1
Trang bìa phụ  
Lời cam đoan.............................................................................................................1  
Mục lục.......................................................................................................................2  
MỤC LỤC  
2
3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Nguyên nghĩa  
Từ viết tắt  
UBND  
Ủy ban nhân dân  
5
 
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
Tên Bảng  
Số trang  
18  
Bảng 1.1: Khái quát công trình nghiên cứu liên quan  
Bảng 2.1. Tổng hợp khái niệm về cam kết  
32  
Mô hình nghiên cứu  
42  
Bảng 3.1. Thang đo và mã hóa thang đo  
45  
Bảng 4.1. Kết quả thống kê mẫu nghiên cứu  
Bảng 4.2. Kết quả thống kê đại lượng nghiên cứu  
Bảng 4.3. Kết quả phân tích chéo  
48  
48  
50  
Bảng 4.4. Hệ số Cronbach’s Alpha sự hài lòng công việc  
Bảng 4.5. Hệ số Cronbach’s Alpha cam kết tổ chức  
Bảng 4.6. Hệ số Cronbach’s Alpha hiệu quả công việc  
Bảng 4.7. Hệ số Cronbach’s Alpha ý định nghỉ việc  
Bảng 4.8. Kết quả khám phá EFA cho nhóm độc lập  
Bảng 4.9. Kết quả khám phá EFA cho biến phụ thuộc  
51  
54  
56  
58  
60  
62  
Bảng 4.10. Kết quả tóm tắt mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là cam  
kết tổ chức  
63  
64  
65  
65  
Bảng 4.11. Kết quả hồi quy tuyến tính với biến phụ thuộc cam kết tổ  
chức  
Bảng 4.12. Phân tích phương sai ANOVA với biến phụ thuộc là cam  
kết tổ chức  
Bảng 4.13. Kết quả tóm tắt mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là hiệu  
quả công việc  
6
 
Bảng 4.14. Kết quả hồi quy tuyến tính với biến phụ thuộc hiệu quả công  
việc  
66  
Bảng 4.15. Phân tích phương sai ANOVA với biến phụ thuộc là hiệu  
quả công việc  
67  
67  
68  
Bảng 4.16. Kết quả tóm tắt với biến phụ thuộc là ý định nghỉ việc  
Bảng 4.17. Kết quả hồi quy tuyến tính với biến phụ thuộc là ý định nghỉ  
việc  
Bảng 4.18. Phân tích phương sai ANOVA với biến phụ thuộc là ý định  
nghỉ việc  
69  
70  
71  
72  
73  
74  
75  
76  
Bảng 4.19. Kết quả kiểm định Indepent – sample T-test giữa giới tính  
và ý định nghỉ việc  
Bảng 4.20. Kết quả kiểm định oneway ANOVA giữa độ tuổi và ý định  
nghỉ việc  
Bảng 4.21. Kết quả kiểm định Indepent – sample T-test giữa vị trí công  
tác và ý định nghỉ việc  
Bảng 4.22. Kết quả kiểm định Indepent – sample T-test giữa vị trí công  
tác và cam kết tổ chức  
Bảng 4.23. Kết quả kiểm định oneway ANOVA giữa ý định nghỉ việc  
và thâm niên  
Bảng 4.24. Kết quả kiểm định oneway ANOVA giữa cam kết tổ chức  
và thâm niên  
Bảng 4.25. Kết quả kiểm định oneway ANOVA giữa Hiệu quả công  
việc và trình độ học vấn  
7
Chương 1: MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu  
Môi trường làm việc hiện đại ngày nay đòi hỏi người lao động phải có khả  
năng thích ứng với một môi trường luôn luôn thay đổi (Campling, Poole, Wiesner,  
Schemerhorn, 2006; Tyler, Choy, Smith& Dymock, 2014). Cùng với sự thay đổi  
trong tổ chức và tính chất công việc, nhận thức của người lao động và thái độ của họ  
với công việc cũng thay đổi theo (Erickson, 2008; Lewis, Goodman & Fandt, 1998).  
Thái độ chủ quan của người lao động về sự phù hợp giữa cá nhân với môi trường  
làm việc của họ, cùng với văn hóa của tổ chức, được cho rằng có cả sự tích cực và  
tiêu cực, khi hiệu quả công việc tương đồng với thái độ và hành vi của nhân viên  
trong tổ chức (Hoflman & Woehr, 2006; Lauver & Kristof-Brown, 2001). Trong đó,  
sự hài lòng đối với công việc là một trong những nhân tố dễ tạo ra những sự khủng  
hoảng với tất cả mọi người, tổ chức, bất kể là ở khu vực công hay khu vực tư, tại  
các nước đang phát triển hoặc kém phát triển (Rehman et al., 2013). Sự hài lòng của  
nhân viên với công việc đã được các nhà nghiên cứu xác định là một yếu tố quan  
trọng trong hiệu quả hoạt động của một tổ chức (Mathieu, 1991; Ostroff, 1992).  
Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng thái độ làm việc của người lao  
động với công việc, cam kết với tổ chức, sự hài lòng với công việc có mối quan hệ  
với nhau (Edwards & Billsberry, 2010; Kristof, 1996; Lauver & Kristof-Brown,  
2001). Các nghiên cứu này chỉ ra rằng sự hài lòng của nhân viên với công việc của  
mình có mối quan hệ (i) với văn hóa, giá trị của tổ chức; (ii) với hiệu quả công việc;  
(iii) với tính chất công việc (DeRue, 2002; Edwards & Billsberry, 2010; Kristof,  
1996; Lauver & Kristof-Brown, 2001). Đây cũng là những yếu tố có giá trị nhất với  
nhân viên trong một tổ chức (Cable & DeRue, 2002). Ngoài ra, nhiều nghiên cứu  
cũng cho thấy có mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc với ý định nghỉ việc  
(Aamodt, 2007; Spector, 2008; Vecchio, Hearn, & Southey, 1988). Như vậy có thể  
thấy, sự hài lòng trong công việc, cam kết với tổ chức, hiệu quả công việc và ý định  
nghỉ việc là những chủ đề phổ biến trong các nghiên cứu về thái độ liên quan đến  
công việc. Trong đó, sự hài lòng trong công việc là yếu tố kết nối cá nhân với môi  
8
     
trường làm việc, thể hiện thông qua sự kết nối của nhân viên với tổ chức, hiệu suất  
làm việc của họ và cả ý định ngừng việc (Camp, 1994; Lambert, 2004; Tewksbury  
và Higgins, 2006).  
Tại Việt Nam, bắt đầu có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học về sự hài  
lòng trong công việc của cán bộ, công chức và ảnh hưởng của yếu tố này trong mối  
quan hệ với sự phát triển ổn định của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, những nghiên  
cứu này chưa nhiều và chưa đưa ra được tiêu chí cụ thể để đánh giá.  
Là một bộ phận của nguồn nhân lực, các cán bộ, công chức hay còn gọi là  
“nhân lực công” là nguồn lực đặc biệt gắn liền với hoạt động của bộ máy nhà nước,  
được phát triển trên nền tảng kinh tế - xã hội cụ thể mà trong đó, mỗi cán bộ, công  
chức vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của nguồn nhân lực công (Tạ Ngọc Hải,  
2017). Việc duy trì nguồn nhân lực trong khu vực công vô cùng quan trọng và cấp  
thiết bởi đây là những người trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước, chính vì vậy làm  
thế nào phát huy được nguồn lực này một cách hiệu quả là một trong những nhiệm  
vụ cơ bản của công tác quản trị nguồn nhân lực (Trần Kim Dung, 2015). Ngoài ra,  
đội ngũ công chức còn là cấu thành quan trọng của nguồn nhân lực xã hội với những  
đóng góp to lớn trong toàn bộ thành tựu phát triển chung về kinh tế - xã hội của  
quốc gia và địa phương. Khẳng định vai trò của đội ngũ này trong toàn bộ sự nghiệp  
cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi  
công việc” (Hồ Chí Minh Toàn tập, 2002).  
Một nghiên cứu của tác giả Bùi Thu Linh (2016) cho thấy một số kết quả  
đáng chú ý là cán bộ, công chức, người lao động trong cơ quan nhà nước có sự hài  
lòng với công việc cao thì có động lực phụng sự công càng cao, ngược lại, nếu  
không thỏa mãn với công việc, hiệu quả làm việc của họ thấp và phát sinh ý định  
nghỉ việc nhiều hơn. Cũng là một nghề như bao nghề nghiệp khác trong xã hội, song  
người làm “nghề công chức” có điểm khác biệt là ít nhiều mang trong mình động  
lực phụng sự công với mong muốn cống hiến cho sự phát triển của cộng đồng, xã  
hội và sự an bình của người dân. Công chức làm việc tại cơ quan, đơn vị nhà nước  
cũng giống như nhân viên với tổ chức bất kỳ quyết định sự phát triển ổn định, bền  
9
vững của tổ chức đó. Với các tổ chức công, việc thu hút và giữ chân được nhân tài  
giữ vai trò quan trọng, bởi đây là nhân lực trực tiếp giải quyết chức năng, nhiệm vụ  
của cơ quan nhà nước. Sự thiếu vắng nhân lực sẽ dẫn tới đình trệ các dịch vụ công  
và hoạt động bình thường của bộ máy. Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thị  
trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm hấp dẫn  
ngoài khu vực nhà nước, thu hút không ít nhân viên có năng lực ra khỏi cơ quan nhà  
nước, tình trạng chảy máu chất xám này đang là thực trạng đáng báo động đối với  
sự phát triển chung của quốc gia. Trong khu vực nhà nước, các chế độ, chính sách  
dành cho người công chức những năm qua đã được cải thiện song chưa thể đáp ứng  
được yêu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội. Tính chất môi trường làm việc  
chưa phát huy được sự sáng tạo của người công chức nên khó thu hút được nhân lực  
chất lượng cao (Lê Hữu Bình, 2008). Trong khi đó, môi trường ngoài quốc doanh lại  
có nhiều cơ hội hấp dẫn với thu nhập cao và nhiều cơ hội thăng tiến không kém.  
Việc thu hút nhân lực có tài, có tâm vào làm việc trong các cơ quan nhà nước vốn là  
một bài toán khó thì việc giữ chân họ làm việc và cống hiến lâu dài càng trở thành  
một vấn đề nan giải. Đơn cử như Đề án 922 về Phát triển nguồn nhân lực chất lượng  
cao của Đà Nẵng, một trong những tỉnh thành có chính sách đãi ngộ và thu hút  
nguồn nhân lực tốt nhất cả nước cũng đứng trước nguy cơ thất bại. Tính đến tháng  
4/2018, có tới 93 nhân tài xin rút khỏi đề án trong đó có 40 người xin nghỉ việc, nó  
cho thấy những khoảng cách giữa đào tạo, sử dụng nhân lực, chính sách đãi ngộ và  
những nhân tố tác động đến sự gắn kết của người lao động với công sở, sự hài lòng  
của nhân viên với hiệu quả công việc và ý định nghỉ việc của họ.  
Quá trình hội nhập quốc tế mang đến các cơ hội nhưng cũng nhiều thách  
thức, nguồn nhân lực sẽ có xu hướng dịch chuyển từ khu vực nhà nước sang khu  
vực tư nhân, tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ trong hai khu vực này. Nếu môi trường  
nhà nước có những hạn chế nhất định về công tác đào tạo, lương thưởng, thăng tiến  
…. thì môi trường tư nhân với sự thông thoáng và chế độ đãi ngộ cao hơn hẳn trở  
thành một sự hấp dẫn khác biệt. Đứng trước những thách thức đó, đòi hỏi của công  
tác nhân lực trong khu vực công là nâng cao sự hài lòng trong công việc cho công  
10  
chức nhà nước, từ đó tạo động lực và hiệu quả công việc cao hơn, tăng cường mối  
quan hệ mật thiết giữa công chức với cơ quan, tổ chức nơi họ đang làm việc. Ngoài  
ra, việc nghiên cứu các nhân tố tác động tới sự hài lòng của công chức đối với hiệu  
quả công việc, cam kết với tổ chức cũng như ảnh hưởng tới ý muốn thôi việc của  
công chức sẽ giúp các cơ quan nhà nước hoạch định được các chính sách duy trì,  
phát triển nguồn nhân lực, thu hút được người tài và hạn chế sự chảy máu chất xám  
trong khu vực công.  
Với tiến trình cải cách hành chính mạnh mẽ trong thời gian qua, Ủy ban nhân  
dân xã, phường, thị trấn cũng là một trong những cơ quan nhà nước chịu sự ảnh  
hưởng không nhỏ của sự thay đổi về nhân lực. Đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố  
ảnh hưởng đến sự hài lòng của công chức với ý định nghỉ việc hay hiệu quả làm  
việc, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào tiến hành đánh giá toàn diện và  
đầy đủ mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc với cam kết tổ chức, hiệu quả  
công việc, ý định nghỉ việc của công chức nhà nước. Những yếu tố nào nhận định  
hành vi của công chức thể hiện mối quan hệ giữa sự hài lòng và cam kết gắn bó  
vớitổ chức? Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc với hiệu quả công việc và  
ý định nghỉ việc của công chức nhà nước biểu hiện như thế nào? Phải chăng chỉ do  
chính sách phúc lợi, lương thưởng … của cơ quan nhà nước khiến cho nhân viên  
này sinh ý định thôi việc?  
Từ những lý do trên, đề tài “Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc  
và sự cam kết với tổ chức, hiệu quả công việc, ý định nghỉ việc của công  
chứccấp phường trên địa bàn Quận 6” được lựa chọn nghiên cứu nhằm cung cấp  
thông tin cho lãnh đạo của UBND cấp phường tại quận 6 hiểu rõ hơn về các nhân tố  
ảnh hưởng đến động lực làm việc, hiệu quả làm việc cũng như ý định nghỉ việc của  
nhân viên trong cơ quan của mình. Từ đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao  
sự gắn kết và hiệu quả công tác của công chức với cơ quan, đồng thời làm giảm ý  
định ý việc của công chức cấp phường trên địa bàn quận 6.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
11  
2.1. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc và cam kết  
với tổ chức  
Nghiên cứu của Thái Thu Thủy (2017) “Tổng quan về cam kết gắn bó với tổ  
chức” xem xét các nội dung lý thuyết về “cam kết” và “cam kết với tổ chức”, từ đó  
tác giả phân tích mô hình ba cấu phần của cam kết đó là: cảm xúc, tính toán, chuẩn  
mực. Tác giả đã khuyến nghị cần bổ sung thêm nhiều nghiên cứu về cam kết với tổ  
chức ở Việt Nam do đây là mảng còn hạn chế, thiếu vắng sự nghiên cứu chuyên sâu.  
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Dung và cộng sự (2013) “Các yếu tố tác  
động đến sự gắn kết tổ chức của nhân viên khối văn phòng thành phố Cần Thơ”.  
Nghiên cứu đã sử dụng thang đo Cronbach’s Alpha để phân tích các mẫu nghiên  
cứu, phân tích nhân tố để kiểm định độ tin cậy của các biến đo lường và rút trích  
nhân tố. Kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố chính là: đặc điểm cá nhân, chia sẻ tri  
thức, văn hóa tổ chức, quan hệ đồng nghiệp, cơ cấu tổ chức của đơn vị có tác động  
đến sự gắn gắn bó của nhân viên khối văn phòng các cơ quan nhà nước với nơi làm  
việc của họ, phạm vi khảo sát, đánh giá thuộc thành phố Cần Thơ.  
Nghiên cứu của Châu Thị Minh Vi và Hồ Huy Tựu (2014) “Các nhân tố ảnh  
hưởng đến sự gắn bó của công chức – viên chức với các cơ quan nhà nước tại tỉnh  
Khánh Hòa”. Nghiên cứu áp dụng các lý thuyết về sự gắn bó để xây dựng khung cơ  
sở lý thuyết. Khảo sát và thu thập mẫu điều tra là 200 người lao động làm việc trong  
khối cơ quan nhà nước thuộc địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Sau đó, sử dụng SPSS để  
thống kê, đánh giá số liệu khảo sát và rút trích các yếu tố có ý nghĩa cho nghiên cứu.  
Tiếp theo, thực hiện phân tích mô hình hồi quy với các biến độc lập tác động đến sự  
gắn bó. Kết quả cho thấy, bốn trong sáu biến độc lập trên có tác động đến sự gắn bó  
với mức ý nghĩa 5%. Trên cơ sở kết quả nhận được, nghiên cứu đã đưa ra những  
hàm ý về việc “giữ chân” nhân tài trong các cơ quan Nhà nước.  
Nghiên cứu của Nguyễn Thế Khải và Đỗ Thị Thanh Trúc (2015) tại các Công  
ty Kiểm toán, địa bàn thành phố Hồ Chí Minh lại đánh giá các nhân tố tác động đến  
cảm nhận giá trị của nhân viên và mối quan hệ giữa các nhân viên tại các cơ quan  
này. Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố có tác động đến sự gắn kết công việc đó là: đào  
12  
tạo và phát triển sự nghiệp; truyền thông nội bộ; quan hệ trong tổ chức; sự thỏa mãn  
trong công việc; người quản lý trực tiếp; lương thưởng và phúc lợi; cảm nhận của  
nhân viên về đánh giá hiệu quả công việc. Sự khác biệt trong đánh giá mối quan hệ  
của nhân viên giữa các loại hình công ty, cấp bậc nhân viên, thâm niên là thu nhập  
của nhân viên.  
Kết quả nghiên cứu của Trần Quang Thoại (2016) về các nhân tố ảnh hưởng  
đến sự gắn kết công việc của người lao động tại Tổng công ty phát điện 2. Nghiên  
cứu đã chỉ ra 6 nhân tố thành phần của nguồn lực công việc tác động đến sự gắn kết  
của nhân viên với Công ty là: thu nhập, công việc, cơ sở vật chất, người quản lý, cơ  
hội học tập nâng cao và thăng tiến; quan hệ đồng nghiệp. Dựa trên kết quả khảo sát,  
nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ gắn bó trong  
công việc giữa nhân viên với Tổng công ty Phát điện 2.  
2.2. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc và hiệu  
quả công việc  
Đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc là nội dung được  
nghiên cứu khá nhiều ở Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực quản trị kinh doanh.  
Hầu hết nghiên cứu của các tác giả trong lĩnh vực này đề cập đến đối tượng người  
lao động nói chung hay cụ thể hơn là người lao động làm việc tại nhiều vị trì khác  
nhau trong các công ty, cơ quan là chủ yếu. Đơn cử như tác giả Trần Kim Dung  
(2005) trong đề tài “Đo lường mức độ thỏa mãn đối với công việc trong điều kiện  
của Việt Nam”. Nghiên cứu đã lấy ý kiến từ 448 đáp viên, là người lao động làm  
việc tại thành phố Hồ Chí Minh, dựa vào các công cụ đo lường và phần mềm SPSS  
để đánh giá. Kết quả cho thấy có các yếu tố là: công việc, đồng nghiệp, thu nhập,  
đào tạo bồi dưỡng và thăng tiến, lãnh đạo, và phúc lợi ảnh hưởng đến mức độ thỏa  
mãn công việc của người lao động nói chung. Trong đó, hai yếu tố tác động lớn nhất  
đến mức độ thỏa mãn của người lao động nói chung là tính chất công việc và cơ hội  
học tập thăng tiến.  
Nghiên cứu của Đặng Hòa Hiệp (2013) “Mối quan hệ giữa niềm đam mê  
công việc và kết quả làm việc của người lao động tại thành phố Hồ Chí Minh”. Tác  
13  
giả đã đánh giá các nhân tố tác động tới niềm đam mê công việc của người lao động,  
mức độ tương quan giữa niềm đam mê công việc với kết quả công việc, phạm vi  
khảo sát là người lao động khối văn phòng làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.  
Nghiên cứu chỉ ra 7 yếu tố là: thu nhập, đào tạo, quản lý, phúc lợi, bản chất công  
việc, điều kiện làm việc ảnh hưởng đến niềm đam mê của người lao động với công  
việc của họ.  
Nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Trang (2013) “Các nhân tố ảnh hưởng tới việc  
động viên nhân viên tại Công ty dịch vụ Công ích Quận 10, thành phố Hồ Chí  
Minh” cho thấy, trong 8 nhân tố được xác định chỉ có 4 nhân tố có ý nghĩa tác động  
đến động lực làm việc của người lao động gồm: lương và chế độ an sinh xã hội; cơ  
hội đào tạo thăng tiến, công tác quản lý; đồng nghiệp. Nghiên cứu cũng đề xuất một  
số chính sách mang tính gợi ý trong việc cải thiện mức độ hài lòng công việc tại đơn  
vị nghiên cứu.  
Nghiên cứu của Hoàng Thị Hồng Lộc và cộng sự (2014) “Xây dựng khung lý  
thuyết về động lực làm việc ở khu vực công tại Việt Nam”. Nghiên cứu dựa vào mô  
hình của Maslow và Nevis (1983) là tháp nhu cầu, đã có sự bổ sung, điều chỉnh của  
tác giả để phù hợp với đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu. Sau khi đánh giá số liệu,  
nghiên cứu đã chỉ ra 5 bậc nhu cầu cho động lực làm việc tại khu vực công là: nhân  
tố xã hội, sinh học, tâm lý an toàn, sự tôn trọng, mong muốn tự thể hiện. Các yếu tổ  
này được xếp theo mức độ tác động từ thấp lên cao.  
Nghiên cứu của Bùi Thị Minh Thu và cộng sự (2014) “các nhân tố ảnh hưởng  
đến động lực làm việc của nhân viên trực tiếp sản xuất ở Tổng Công ty Lilama”.  
Nghiên cứu đã khảo sát các ý kiến của người lao động làm sản xuất trực tiếp của  
Tổng công ty Lilama, sử dụng công cụ đo lường và kiểm định Cronbach’s Alpha để  
trích xuất nhân tốt. Số liệu sau đánh giá chỉ ra 7 nhân tố là: công việc, lương và  
chính sách đãi ngộ, điều kiện làm việc, văn hóa đặc trưng của doanh nghiệp, cơ hội  
thăng tiến, mối quan hệ với đồng nghiệp, mối quan hệ với lãnh đạo ảnh hưởng đến  
động lực làm việc của nhân viên tại Lilama. Trong đó các yếu tố tác động mạnh  
14  
nhất đến khả năng làm việc của người lao động tại đây là lương, chính sách đãi ngộ,  
văn hóa doanh nghiệp.  
Nghiên cứu của tác giả Phạm Đức Chính và cộng sự (2016) “Mối quan hệ  
giữa động lực làm việc và sự hài lòng công việc của cán bộ, công chức ở Việt Nam”  
chỉ ra những đặc thù về chính sách, chế độ, sự khác biệt về quản trị nguồn nhân lực  
trong khu vực công đã có sự tác động tới động lực làm việc, sự hài lòng trong công  
việc của cán bộ, công chức Việt Nam.  
Nghiên cứu của Lê Thị Hồng Diệu (2017) “Tạo động lực làm việc cho đội  
ngũ cán bộ, công chức tại Chi cục Thuế Phủ Lý” đã đánh giá mức độ hài lòng của  
cán bộ, công chức với công việc. Nghiên cứu cũng chỉ ra các nhân tố làm tăng động  
lực lao động của người lao động tại đây là: công việc, đồng nghiệp, tiền lương và sự  
ổn định. Những yếu tố trên cũng làm hạn chế động lực của người lao động cùng với  
các nguyên nhân như: điều kiện làm việc, lãnh đạo, năng lực và thành tích, công  
việc, đào tạo và thăng tiến.  
Nghiên cứu của Trần Văn Huynh (2016) về các nhân tố ảnh hưởng tới động  
lực làm việc của công chức tại Sở LĐ – TB và XH tỉnh Nam Định. Nghiên cứu đã  
chỉ ra các yếu tố tác động tới động lực làm việc, hiệu quả làm việc của người lao  
động đó là: đặc điểm công việc; sự ghi nhận; đồng nghiệp; cơ sở vật chất; tiền  
lương, các chính sách đãi ngộ, an sinh xã hội. Nghiên cứu chia ra các nhóm nhân tố  
làm thúc đẩy và duy trì hiệu quả công việc của công chức tại địa điểm nghiên cứu.  
2.3. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc và ý định  
nghỉ việc  
Nghiên cứu của Trần Ngọc Lâm (2016) tại Công ty TNHH sản xuất MB TB-  
TH Tân Tiến về các nhân tố tác động đến tâm lý muốn thôi việc của người làm việc  
tại đây cho thấy các yếu tố sau: (1) Sự hài lòng trong công việc, (2) Hiệu suất làm  
việc, (3) Mối quan hệ giữa lãnh đạo và thành viên, (4) Cam kết với tổ chức, (5)  
Lương và chế độ đãi ngộ, (6) Sự phù hợp với công việc và công tác quản lý tác động  
đến suy nghĩ muốn thôi việc của nhân viên. Sau quá trình nghiên cứu định tính sơ  
bộ, có thêm 1 thang đo (7) Tương lai công ty. Sau khi phân tích EFA ở nghiên cứu  
15  
định lượng chính thức, thang đo (6) bị tách thành 2 thang đo (6) Sự phù hợp với tổ  
chức và (8) Sự phù hợp với công việc. Như vậy mô hình nghiên cứu có 8 thang đo  
cùng với thang đo biến phụ thuộc Ý định nghỉ việc. Nghiên cứu cũng đề xuất một số  
giải pháp giúp bộ phận nhân sự của công ty có thể làm giảm mong muốn thôi việc  
của nhân viên, tăng cường sự ổn định trong công tác.  
Nghiên cứu của Vũ Hoàng Nguyên (2013) về ảnh hưởng của sự hài lòng trong  
công việc đến dự định nghỉ việc của nhân viên ngân hàng TMCP Sài Gòn nêu lên 4  
yếu tố quan trọng nhất ản hưởng tới ý định nghỉ việc của nhân viên đó là: áp lực  
công việc, tiền lương, phúc lợi, mối quan hệ đồng nghiệp. Nghiên cứu chỉ ra sự khác  
biệt về mức độ trung bình dự định thôi việc của theo các đặc điểm nhân thân của  
người lao động bao gồm: thâm niên, học vấn, thu nhập, giới tính, vị trí làm việc.  
Nghiên cứu của Võ Quốc Hưng, Cao Hào Thi (2008) về “Các yếu tố ảnh  
hưởng đến dự định nghỉ việc của công chức – viên chức nhà nước”. Tác giả đã phát  
ra 900 bảng câu hỏi với 277 mẫu thu hồi được để đưa vào phân tích. Kết quả khảo  
sát cho thấy có 8 yếu tố ảnh hưởng đến sự định nghỉ việc của công chức, viên chức  
làm việc trong cơ quan nhà nước là: công việc; lương, thưởng và công nhận; quan  
hệ nơi làm việc; công tác quản lý; đào tạo và phát triển; truyền thống; tâm lý yêu  
thích và môi trường làm việc.  
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Thu Thanh và Cao Hào Thi (2013) về thái độ của  
nhân viên và xu hướng người lao động sẽ rời bỏ khi cơ quan, đơn vị có sự thay đổi  
lại tập trung vào đánh giá các yếu tố chính như: thái độ của nhân viên trong việc  
chấp nhận, chống đối và xu hướng nghỉ việc của nhân viên khi có sự thay đổi xảy ra  
trong tổ chức. Nghiên cứu cho thấy cam kết của tổ chức, niềm tin của người lao  
động và áp lực công việc là những yếu tố dẫn tới xu hướng nghỉ việc của nhân viên.  
2.4. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của sự hài lòng trong công việc với cam kết  
với tổ chức, hiệu quả công việc, ý định nghỉ việc  
Nghiên cứu của Hoonakker và cộng sự (2013) về sử dụng mô hình Công việc –  
Nhu cầu – Nguồn lực để dự đoán sự nghỉ việc của lao động trong ngành CNTT chỉ  
ra sự hài lòng trong công việc chịu sự tác động bởi các yếu tố như công bằng và  
16  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 105 trang yennguyen 19540 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc và sự cam kết với tổ chức, hiệu quả công việc, ý định nghỉ việc của công chức cấp phường trên địa bàn Quận 6", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_moi_quan_he_giua_su_hai_long_trong_cong_viec_va_su.pdf