Tóm tắt Luận văn Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
NGUYỄN HẢI HÀ  
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC  
GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM Ở CÁC TRƯỜNG  
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN  
HUYỆN CHƯ SÊ TỈNH GIA LAI  
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục  
Mã số: 60.14.01.14  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC  
Đà Nẵng - Năm 2015  
Công trình được hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. VÕ NGUYÊN DU  
Phản biện 1: PGS.TS. NGUYỄN SỸ THƯ  
Phản biện 2: PGS.TS. NGUYỄN BẢO HOÀNG THANH  
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng bảo vệ chấm Luận văn tốt  
nghiệp Thạc sĩ Giáo dục học, họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 11 tháng  
9 năm 2015  
Có thể tìm hiểu luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng và  
Nhà nước ta đã có những cuộc cải cách giáo dục nhằm hướng tới một nền  
giáo dục tiên tiến, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu trong  
thời đại mới. Nghị quyết đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển, nâng  
cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển  
khoa học công nghệ và kinh tế tri thức”; “ Đổi mới căn bản, toàn diện GD-  
ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Có thể thấy  
việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục là mục tiêu, nhiệm vụ trọng  
tâm của Đảng và Nhà nước. Qua quá trình nghiên cứu và vận dụng lý luận  
giáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý giáo dục (QLGD) việc quan tâm,  
chú trọng đến quản lý (QL) công tác GVCN (GVCN) lớp của hiệu trưởng  
(HT) ở trường THPT là một lĩnh vực QL cần thiết, góp phần nâng cao chất  
lượng giáo dục toàn diện học sinh.  
Trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai có 03 trường THPT, trong  
mỗi thời kỳ, giai đoạn phát triển, HT các nhà trường đã có những tìm tòi,  
đổi mới nhất định, đã vận dụng những cách thức QL phù hợp để thực hiện  
tốt các nhiệm vụ GD-ĐT. Tuy nhiên, trong hoạt động QL công tác GVCN  
lớp của HT các trường vẫn bộc lộ nhiều bất cập, vai trò điều hành, QL của  
nhà trường vẫn còn thiếu sót, hiệu quả QL chưa cao, những biện pháp chỉ  
đạo, QL công tác GVCN lớp của HT chưa đồng bộ và phù hợp với thực tế  
của GD địa phương. Do đó, việc tìm ra các giải pháp để QL tốt công tác  
GVCN lớp là vấn đề cấp thiết.  
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên  
cứu: “Biện pháp quản lý công tác GVCN lớp ở các trường THPT trên địa  
bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai”  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất một số  
biện pháp QL công tác GVCN lớp ở các trường THPT huyện Chư Sê tỉnh  
Gia Lai  
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình QL công tác GVCN lớp của  
người HT ở các trường THPT huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.  
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp QL công tác GVCN lớp của  
HT ở các trường THPT huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.  
3.3. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động QL công tác GVCN  
lớp của HT 3 trường THPT trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai  
4. Giả thuyết khoa học  
QL công tác GVCN lớp ở các trường THPT trên địa bàn huyện Chư  
Sê, tỉnh Gia Lai bên cạnh những ưu điểm vẫn còn những bất cập, hạn chế. Nếu hệ  
2
thống hóa được lý luận và đánh giá đúng thực trạng về QL công tác GVCN thì có  
thể đề xuất được các biện pháp QL một cách hợp lý và khả thi.  
5. Nhiệm vụ nghiên cứu  
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về QL công tác GVCN lớp  
5.2. Khảo sát, phân tích thực trạng về công tác GVCN lớp và QL  
công tác GVCN lớp ở các trường THPT huyện Chư Sê, Gia Lai  
5.3. Đề xuất các biện pháp QL giúp HT các trường THPT trên địa  
bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai  
5.4. Khảo nghiệm và vận dụng các biện pháp đề xuất  
6. Phương pháp nghiên cứu  
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận  
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài  
liệu, các văn bản pháp quy, các công trình nghiên cứu liên quan nhằm xây  
dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.  
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
Phương pháp điều tra; quan sát; tổng kết kinh nghiệm; Phỏng vấn  
CBQL, GV, HS, cha mẹ HS…về thực trạng công tác GVCN lớp và hoạt  
động QL công tác GVCN lớp của HT; Xin tư vấn từ các chuyên gia và  
CBQL có kinh nghiệm.  
6.3. Phương pháp toán thống kê: Nhằm xử lý và phân tích các kết  
quả nghiên cứu.  
7. Cấu trúc luận văn  
Phần 1. Phần mở đầu  
Phần 2. Kết quả nghiên cứu bao gồm ba chương  
Chương 1: Cơ sở lý luận về QL công tác GVCN lớp ở trường  
THPT.  
Chương 2: Thực trạng QL công tác GVCN lớp của HT ở các  
trường THPT trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.  
Chương 3: Biện pháp QL công tác GVCN lớp ở các trường THPT  
trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.  
Phần 3. Kết luận và khuyến nghị  
Danh mục tài liệu thamkhảo  
Phụ lục.  
CHƯƠNG 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GVCN LỚP  
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  
1.1. KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ  
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản  
Việt Nam chỉ rõ: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao  
chất lượng GD, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy  
và học, nâng cao chất lượng GD toàn diện, đặc biệt coi trọng GD lý tưởng,  
3
GD truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo,  
kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội. Xây  
dựng đội ngũ GV đủ về số lượng, đáp ứng nhu cầu về chất lượng. Đề cao  
trách nhiệm của gia đình và xã hội phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong  
GD thế hệ trẻ...”. Đây chính là định hướng cốt lõi trong nhiệm vụ GD toàn  
diện HS nói chung và công tác GVCN lớp nói riêng. Để thực hiện được các  
nhiệm vụ này, trước hết là công tác xây dựng, QL đội ngũ GVCN lớp; biện  
pháp QL công tác GVCN lớp ở trường THPT là nhiệm vụ trọng tâm của  
người HT.  
Khi đề cập đến công tác GVCN lớp của GVCN, trên phương diện  
lý luận, đã có nhiều tác giả nghiên cứu đề cập đến công tác GVCN lớp như:  
Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ; Phan Tố Oanh,  
Nguyễn Văn Hộ…Theo các tác giả, nâng cao hiệu quả QLGD nói chung,  
công tác GVCN nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng  
cao chất lượng và hiệu quả giáo dục  
Tuy nhiên, cho đến nay, theo những tài liệu đang có vẫn thiếu  
những công trình đề cập đến biện pháp QL công tác GVCN lớp ở trường  
THPT. Do vậy chúng tôi muốn đi sâu hơn để xác định cơ sở lý luận, khảo  
sát thực tiễn về hoạt động QL công tác GVCN lớp của các HT trường  
THPT trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, trên cơ sở đó đề xuất các  
biện pháp QL đồng bộ, phù hợp với thực tế của GD địa phương nhằm giúp  
HT các trường QL công tác GVNC lớp có hiệu quả hơn.  
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI  
1.2.1. Quản lý  
a. Khái niệm quản lý  
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về nội dung khái niệm QL,các  
khái niệm trên đều đề cập đến yếu tố cơ bản như: Chủ thể và khách thể QL,  
cách thức, phương pháp QL. Do đó, có thể kết luận: QL là một quá trình tác  
động có có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL lên khách thể QL trong  
một tổ chức, thông qua các cơ chế QL nhằm làm cho tổ chức vận hành có  
hiệu quả, đạt được mục tiêu đề ra.  
1.2.2. Quản lý giáo dục  
QLGD là sự tác động một cách có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức  
và hướng đích của chủ thể QL đến tất cả các mắt xích của hệ thống, nhằm  
mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận  
thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng GD.  
1.2.3. Quản lý nhà trường  
QL nhà trường là một bộ phận của QLGD. QL nhà trường là tác  
động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể QL lên tất cả các lên tất cả  
các nguồn lực của nhà trường nhằm thúc đẩy các hoạt động của nhà trường  
vận hành theo đúng mục tiêu, tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam  
4
1.2.4. Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp  
Trong trường học, lớp học là đơn vị cơ bản được thành lập để tổ  
chức giảng dạy và giáo dục học sinh. Để quản lý, giáo dục học sinh trong  
lớp, nhà trường phân công một trong những giáo viên đang giảng dạy có  
năng lực chuyên môn tốt, có kinh nghiệm làm công tác quản lý, giáo dục  
học sinh, có tinh thần trách nhiệm cao và lòng nhiệt tình trong công tác, có  
uy tín với học sinh và đồng nghiệp làm chủ nhiệm lớp. Đó là giáo viên chủ  
nhiệm.  
1.2.5. Quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp  
Quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp là hoạt động tổ chức,  
điều hành đội ngũ các GVCN và các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao  
chất lượng giáo dục toàn diện.  
1.3. CÔNG TÁC GVCN LỚP Ở TRƯỜNG THPT  
1.3.1. Vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của GVCN lớp  
a. Vị trí, vai trò của GVCN lớp  
Trong nhà trường, GVCN lớp do HT phân công và thay mặt HT  
QL, tổ chức, điều kiển mọi hoạt động GD HS. Vai trò QL đó được thể hiện  
trong việc xây dựng kế hoạch GD; tổ chức các hoạt động GD; đôn đốc,  
hướng dẫn việc thực hiện các hoạt động GD theo kế hoạch; kiểm tra, đánh  
giá kết quả học tập, tu dưỡng của HS trong lớp. GVCN chịu trách nhiệm về  
kết quả học tập và rèn luyện của tập thể cũng như mỗi HS trong lớp trước  
HT, Hội đồng nhà trường và cha mẹ HS.  
GVCN là người giữ vai trò chủ động trong việc phối hợp các lực  
lượng GD,i là người đứng ra điều phối và kết hợp cùng các lực lượng GD  
để tổ chức các hoạt động GD một cách có hiệu quả nhất.  
b. Chức năng của người GVCN lớp  
GVCN lớp là người thay mặt HT trong công tác tổ chức, QL toàn  
diện hoạt động của HS trong một lớp học  
Tổ chức cho tập thể HS hoạt động tự quản trong việc thực hiện các  
nhiệm vụ học tập, rèn luyện, sinh hoạt để trên cơ sở đó phát huy sức mạnh  
tập thể, phát huy tính tích cực, chủ động của HS  
Tổ chức, phối hợp, điều tiết các tác động GD giữa nhà trường với  
các tổ chức, đoàn thể xã hội trong công tác GD HS  
Kiểm tra, đánh giá kết quả toàn diện trong quá trình rèn luyện của  
mỗi HS và hoạt động của mỗi, mỗi tổ cũng như tập thể lớp.  
c. Nhiệm vụ của GVCN lớp  
Ngoài những nhiệm vụ cụ thể của GVCN được quy định tại khoản  
1 và khoản 2 điều 31, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ  
thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư  
số: 12/2011/TT - BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng BGD&ĐT,  
5
GVCN còn có những nhiệm vụ đặc thù riêng phù hợp với điều kiện thực tế  
địa phương nơi công tác  
1.3.2. Nội dung công tác GVCN  
a. Tìm hiểu và nắm vững đối tượng GD  
Hiểu rõ HS thì mới thực hiện được chức năng QL - GD toàn diện  
HS lớp học, lựa chọn được những biện pháp tác động phù hợp, mới biến  
quá trình GD của GV thành quá trình tự GD của HS với tư cách HS là chủ  
thể của quá trình GD, mới đánh giá đúng đắn và chính xác chất lượng và  
hiệu quả của GD. Tìm hiểu và nắm vững đối tượng GD vừa là nội dung,  
vừa là điều kiện để là tốt công tác của GVCN lớp  
GVCN phải nắm vững về nội dung tìm hiểu, cách thức tìm hiểu đối  
tượng GD, thu thập và xử lý thông tin...  
Tóm lại, tìm hiểu HS là một quá trình khó khăn, lâu dài, phức tạp, đòi  
hỏi GVCN phải kiên trì, thận trọng, có tinh thần trách nhiệm cao và lòng  
thương yêu HS sâu sắc  
b. Lập kế hoạch chủ nhiệm  
Xây dựng kế hoạch là quyết định trước xem cần phải đạt được điều  
gì, phải làm gì, làm như thế nào, ai sẽ làm trong thời gian nào. Kế hoạch  
chủ nhiệm là chương trình hoạt động của GVCN được vạch ra một cách có  
hệ thống về những công việc dự định làm trong thời gian một năm học với  
cách thức và trình tự tiến hành nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Bản kế hoạch  
chủ nhiệm là văn bản trong đó thiết kế cụ thể toàn bộ nội dung công tác  
GVCN, là chương trình hành động của lớp trong một thời gian cụ thể. Đó là  
kết quả sáng tạo của GVCN, phản ánh năng lực dự đoán và thiết kế của  
GVCN. Kế hoạch chủ nhiệm thường được xây dựng theo trục thời gian của  
năm học như kế hoạch năm học, kế hoạch học kỳ, kế hoạch tháng, kế hoạch  
tuần và theo nội dung của các hoạt động GD như kế hoạch luyện tập văn nghệ,  
kế hoạch lao động…  
c. Xây dựng lớp thành một tập thể HS vững mạnh  
Đây là hoạt động có ý nghĩa to lớn trong công tác GD vì tập thể HS  
vừa là môi trường, vừa là phương tiện GD hữu hiệu nhất. GVCN cần chú ý  
đến các biện pháp xây dựng tập thể HS vững mạnh:  
Xây dựng các mối quan hệ đúng đắn trong tập thể. Một tập thể vững mạnh  
là một tập thể có các mối quan hệ lành mạnh, đúng đắn. Có 3 mối quan hệ  
cần xây dựng: Quan hệ tình cảm; quan hệ công việc (quan hệ chức năng) và  
quan hệ tổ chức. Các mối quan hệ này tạo nên sức mạnh của tập thể, đảm  
bảo cho tập thể phát triển đúng hướng theo mục tiêu đã đề ra.  
GVCN lớp phải tổ chức tốt các loại hình hoạt động và giao lưu  
trong tập thể HS, xây dựng đội ngũ cán bộ lớp vững mạnh, GD truyền  
thống và quan tâm GD HS cá biệt  
d. Tổ chức các hoạt động GD toàn diện  
6
GD thế giới quan khoa học, tư tưởng đạo đức cho HS  
Nâng cao chất lượng học tập văn hóa cho HS  
Tổ chức các hoạt động GD lao động và hướng nghiệp  
Tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi,  
giải trí  
e. Liên kết, phối hợp với các lực lượng GD trong và ngoài nhà  
GVCN phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; GV bộ môn; các  
trường  
lực lượng khác trong nhà trường và Ban đại diện cha mẹ HS.  
f. Đánh giá kết quả GD toàn diện HS  
Đánh giá là một nội dung không thể thiếu được trong công tác của  
GVCN lớp ở trường THPT. Đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, phát triển  
nhân cách của HS đòi hỏi sự khách quan, chính xác, công bằng của người  
GVCN lớp.  
Nội dung, qui trình, cách thức đánh giá theo Quy chế đánh giá, xếp  
loại HS trung học cơ sở và HS trung học phổ thông ban hành kèm theo  
Thông tư số: 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ  
trưởng Bộ GD và Đào tạo  
1.3.3. Những yêu cầu đối với người GVCN lớp  
Hoạt động GD luôn gắn liền với chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.  
Do đó, GVCN với tư cách là người cố vấn cho HS hiểu rõ những định  
hướng cơ bản của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển xã hội. Đặc biệt  
là những quan điểm phát triển GD trong từng giai đoạn lịch sử, đó là cơ sở  
cho việc hoạch định kế hoạch tổ chức các hoạt động GD của nhà trường,  
của lớp học  
Nghiên cứu, nắm vững hệ thống lý luận GD nói chung và bổ sung,  
cập nhật thường xuyên tri thức GD hiện đại, làm cơ sở cho hoạt động GD  
trong thực tiển. Mặt khác, cần nắm rõ những nội dung trong mục tiêu cấp  
học, chỉ thị năm học; chương trình giảng dạy môn học; kế hoạch năm học  
của nhà trường...Những nội dung văn bản này vừa mang tính định hướng  
chung vừa mang tính cụ thể khi triển khai công tác GD, đồng thời cũng là  
cơ sở pháp lý của Nhà nước trong việc chỉ đạo, xem xét, đánh giá hoạt  
động của tập thể và cá nhân HS quy chế, điều lệ, mục tiêu GD của trường  
phổ thông. Đây là công việc thường xuyên và cần thiết của GVCN nhằm  
củng cố, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ một cách có hệ thống, liên  
tục, là cơ sở cho quá trình nâng cao tay nghề và nghệ thuật sư phạm  
GVCN lớp phải có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, kiên  
định với đường lối và sự nghiệp đổi mới của Đảng, trung thành với Chủ  
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, có lí tưởng nghề nghiệp đúng  
đắn. Có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm vững vàng, có năng lực  
tổ chức, QL, xây dựng tập thể lớp vững mạnh  
7
GVCN là người thầy mẫu mực, có nhân cách tốt đẹp, là tấm gương  
sáng về đạo đức, lối sống, nhiệt tình yêu nghề, thương yêu HS, tham gia  
tích cực các hoạt động chính trị - xã hội, có năng lực tổ chức các phong trào  
văn nghệ, thể dục thể thao.  
1.4. HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THPT VỚI QUẢN LÝ CÔNG TÁC  
GVCN LỚP  
1.4.1. QL công tác GVCN lớp  
Công tác GVCN là công tác tổ chức GD toàn diện HS của từng lớp,  
trên cơ sở phối hợp các lực lượng GD để xây dựng lớp thành tập thể học  
sinh vững mạnh. QL công tác GVCN lớp là hoạt động tổ chức, điều hành  
của HT đối với các hoạt động chủ nhiệm của đội ngũ GVCN nhằm nâng  
cao chất lượng GD toàn diện.  
1.4.2. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của HT trường  
THPT  
a. Vị trí, vai trò của HT trường THPT  
HT là người đứng đầu, chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động của  
nhà trường. Chịu trách nhiệm truyền đạt, triển khai thực hiện các quan  
điểm, chủ trương, nội dung, kế hoạch GD của nhà nước, của hệ thống GD  
đến các thành viên trong nhà trường.  
Khoản 1 điều 54 Luật GD 2005 cũng quy định: “HT là người chịu  
trách nhiệm QL các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận”.  
HT có vai trò chủ đạo và quyết định mọi vấn đề của nhà trường.  
Điều 16 Luật GD 2005 quy định: “Cán bộ QLGD giữ vai trò quan  
trọng trong việc tổ chức, QL, điều hành các hoạt động GD”.  
b. Nhiệm vụ và quyền hạn của HT trường THPT  
Nhiệm vụ và quyền hạn của HT trường THPT được quy định tại  
điều 19, Điều lệ Trường THCS, trường THPT và trường PT có nhiều cấp học  
ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT- BGDĐT, ngày 28/3/2011 của Bộ  
trưởng Bộ GD&ĐT.  
1.4.3. Nội dung QL công tác GVCN lớp của HT  
a. QL đội ngũ GVCN lớp  
Căn cứ vào tình hình thực tế các lớp, HS, HT chọn lựa các GV có  
đủ tiêu chuẩn để làm chủ nhiệm ở lớp thích hợp. Xây dựng một đội ngũ  
GVCN lớp nhằm thực hiện việc QL và GD HS ở từng lớp - đây là một  
nhiệm vụ quan trong của người HT và CBQL trường THPT.  
b. QL các hoạt động chủ nhiệm lớp của đội ngũ GVCN lớp  
HT hướng dẫn, tập huấn và tổ chức kiểm tra đôn đốc thường xuyên  
đội ngũ GVCN đối với các hoạt động chủ nhiệm lớp: Lập kế hoạch, phê  
duyệt kế hoạch, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, điều chỉnh kế  
hoạch nếu cần; thực hiện tìm hiểu, nắm vững đối tượng GD và môi trường  
8
GD; xây dựng tập thể lớp vững mạnh, đoàn kết, thân ái; tổ chức thực hiện  
các nội dung GD toàn diện; phối hợp với các lực lượng GD trong và ngoài  
nhà trường; đánh giá kết quả GD HS.  
c. QL các điều kiện hỗ trợ công tác GVCN lớp  
Thực hiện kịp thời, đầy đủ chế độ chính sách cho GVCN theo quy  
định, cung ứng đầy đủ các loại thiết bị, sổ sách cần thiết cho công tác  
GVCN, tổ chức các hoạt động giao lưu học hỏi về công tác GVCN.  
Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chủ nhiệm: Phân công công  
tác phù hợp với năng lực, điều kiện, hoàn cảnh của. Xây dựng qui chế cụ  
thể, rõ ràng về mối quan hệ giữa GVCN với các thành phần trong và ngoài  
nhà trường. Bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ GVCN.  
Thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng,động viên GVCN  
TIỂU KẾT CHƯƠNG I  
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận, đề tài đã hệ thống hóa một số nội  
dung cơ bản của các vấn đề QL, công tác GVCN, QL công tác GVCN, nội  
dung QL công tác GVCN của HT trường THPT. Trong đó, QL các hoạt  
động chủ nhiệm lớp của đội ngũ GVCN là sự biểu hiện cụ thể của việc thực  
hiện các chức năng QL như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh  
giá.  
Nội dung QL của HT về công tác GVCN bao gồm: Xây dựng và  
phát triển đội ngũ GVCN lớp; nâng cao năng lực của đội ngũ GVCN; QL  
các hoạt động chủ nhiệm lớp của đội ngũ GVCN; QL các điều kiện hỗ trợ  
công tác GVCN lớp nhằm đáp ứng yêu cầu GD toàn diện HS. Đây cũng là  
cơ sở cho việc định hướng nghiên cứu thực trạng QL công tác chủ nghiệm  
lớp của HT và đề ra các biện pháp QL công tác GVCN lớp ở các trường  
THPT huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.  
CHƯƠNG 2  
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GVCN LỚP  
Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI  
2.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KT - XH, GD&ĐT  
HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI  
2.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội  
Chư Sê cách Pleiku 40 km về phía nam. Quốc lộ 14 nối ngã ba Chư  
Minh. Từ ngã ba Chư Sê cũng có thể đi theo quốc lộ 7 (cũ, nay là quốc lộ  
25) đến thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.  
Huyện Chư Sê có diện tích tự nhiên 64.296,27 ha. Dân số 94.389  
người. Huyện có 1 thị trấn và 14 xã.  
9
Các loại cây công nghiệp, bao gồm 12.000 ha cà phê, 20.000  
ha cao su, hồ tiêu kinh doanh 4.000 ha, 2000 ha bông và một số cây trồng  
ngắn ngày như đậu đỗ các loại, ngô khoai, lương thực, thực phẩm. Tốc độ  
tăng trưởng kinh tế: Giai đoạn 1981-1990 chỉ đạt 4,6% đến giai đoạn 2010-  
2015 đã đạt trên 14%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Đến  
nay, nông nghiệp giảm còn 45%, công nghiệp xây dựng tăng lên 30%,  
thương mại - dịch vụ 25%, thu nhập GDP bình quân đầu người năm 1981  
là 45 USD, năm 2009 là 532 USD; tỷ lệ hộ đói nghèo giảm từ 80,5% năm  
1981, đến cuối năm 2008 còn 14,2%. Thu ngân sách trên địa bàn hàng năm  
từ 80 tỉ đồng đến 110 tỉ đồng, đứng thứ 2 trong tỉnh.  
2.1.2. Tình hình phát triển GD&ĐT  
a. GD Mầm non  
Tổng số có 23 trường MN, MG công lập và tư thục với 202 nhóm  
lớp, 6.200 cháu, 3.028 nữ, 2.668 cháu dân tộc thiểu số. Trong đó 16 trường  
công lập với 154 nhóm lớp, 4490 cháu, 2284 nữ, 1319 cháu dân tộc thiểu  
số.  
b. GD Tiểu học  
Tất cả các phường, xã đều có từ 01 đến 02 trường tiểu học. Tổng số  
có 18 trường công lập (17 trường tiểu học và 01 trường PTDT bán trú tiểu  
học), 552 lớp với 14.623 HS, 7.257 nữ và 7.966 học sinh dân tộc thiểu số.  
c. GD trung học cơ sở  
Tất cả các phường, xã đều có từ 01 đến 02 trường THCS, đáp ứng  
đủ cho nhu cầu học tập của con em các dân tộc. Tổng số có 16 trường (02  
trường đạt chuẩn Quốc gia) với 150 lớp với 8.225 HS; 2.883 HS DTTS.  
d. GD Trung học phổ thông  
Huyện Chư Sê có 03 trường THPT với 72 lớp, 3.043 học sinh,  
1.656 nữ, 299 HS DTTS.  
Các trường THPT đều đã được nhà nước đầu tư xây dựng kiên cố  
và cung cấp trang bị thiết bị, đồ dùng dạy học đầy đủ. Công tác đảm bảo và  
nâng cao chất lượng GD được các trường đặc biệt chú trọng. Các biện pháp  
nâng cao chất lượng GD đã và đang được các trường thực hiện tích cực. Số  
lượng học sinh tăng so với năm học 2013 - 2014 là 300 em; hằng năm đều  
có HS giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia.  
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GVCN LỚP Ở CÁC TRƯỜNG  
THPT HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI  
2.2.1. Thực trạng về số lượng, trình độ, thâm niên công tác,  
phẩm chất năng lực của đội ngũ GVCN lớp  
Qua khảo sát ở 3 trường THPT trên địa bàn huyện Chư sê, tỉnh Gia  
Lai vào thời điểm đang là đầu học kỳ II, năm học 2014 - 2015, chúng tôi  
nhận được kết quả sau:  
10  
Số lượng GVCN đảm bảo theo quy định, tỷ lệ Đảng viên chiếm  
27.5%; GVCN lớp là nữ chiếm 57.3%; trình độ đạt chuẩn 100%; GVCN  
dưới 31 tuổi chiếm 63.7%, từ 31 tuổi đến 41 tuổi chiếm 28.3%, còn lại  
8.0% trên 41 tuổi. Thâm niên công tác dưới 5 năm chiếm 51.6%; từ 5 đến  
15 năm chiếm 38.3%; trên 15 năm chiếm 10.1%  
Đa số GVCN có phẩm chất chính trị vững vàng, có lòng yêu nghề,  
tôn trọng HS; có nhiều cố gắng trong việc thực hiện kế hoạch cũng như các  
công việc liên quan đến công tác GVCN. Bên cạnh đó vẫn còn những hạn  
chế như khả năng về TDTT, văn nghệ,…  
2.2.2. Nhận thức của CBQL, GV, các lực lượng GD đối với vai  
trò của GVCN  
a. Nhận thức về tầm quan trọng của công tác GVCN lớp trong  
QLGD HS  
Số liệu khảo sát cho thấy, CBQL, GV, cha mẹ HS và HS nhận  
thức đúng đắn, đánh giá cao vai trò của GVCN trong QLGD HS. Tuy nhiên  
vẫn còn 1.4 % GV và 9.6% HS cho rằng vai trò của GVCN ở mức quan  
trọng.  
b. Nhận thức của GVCN lớp về các nguyên nhân ảnh hưởng đến  
quá trình QL, GD HS.  
Ý kiến của GVCN về các nguyên nhân có ảnh hưởng tiêu cực trực  
tiếp đến việc GD đạo đức HS ở các trường THPT huyện Chư Sê:  
Các nguyên nhân ảnh hưởng từ môi trường sống, mà cụ thể từ phía  
xã hội, gia đình và nhà trường, trong đó HS đua đòi theo bạn bè xấu và cha  
mẹ thiếu quan tâm có ảnh hưởng lớn nhất.  
Tiếp đó là do HS học yếu, kém dẫn đến chán học, thiếu ý chí dẫn  
đến việc suy giảm đạo đức, lối sống.  
c. Nhận thức của GVCN về thực trạng một số khuyết điểm của  
HS  
Kết quả khảo sát cho thấy hiện tượng thường xuyên lười học bài là  
chiếm tỷ lệ cao nhất: 61.1%. Tiếp theo là khả năng hợp tác nhóm kém và  
thường xuyên giao tiếp kém. Như vậy HS còn nhút nhát, chưa mạnh dạn tự  
tin. Một số hiện tượng thường thấy ở HS có liên quan đến ý thức thái độ  
như: Không trung thực, Sống thiếu lý tưởng, Sống tự do, buông thả, Thiếu  
lòng nhân ái, có hiện tượng xấu về giới ttính… cần được GVCN quan tâm  
và GD hơn nữa. Các GVCN cần phải đẩy mạnh hơn việc GD giá trị sống,  
kỹ năng sống cho HS, trong đó trước hết cần tập trung GD HS về ý thức,  
thái độ học tập tốt, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác trong hoạt động  
nhóm.  
d. Những khó khăn của GVCN lớp trong quá trình GD HS  
11  
Qua kết quả khảo sát cho thấy các ý kiến về sự quan tâm, phối hợp  
của gia đình HS đến quá trình GD chiếm tỷ lệ cao nhất: 84.7%, tiếp đó là tổ  
các hoạt động cho lớp chưa phong phú  
Cũng có nhiều ý kiến của GV cho rằng: Lớp có nhiều HS học yếu;  
kỹ năng ứng xử SP của GVCN cũng như khả năng làm việc với phụ huynh  
trong trao đổi tình hình của HS còn hạn chế nhất định.  
Qua các ý kiến trao đổi cũng cho thấy các nhà trường phải chú ý  
hơn trong việc bồi dưỡng cho đội ngũ GVCN về kỹ năng ứng xử sư phạm,  
kỹ năng tổ chức hoạt động cho HS. Bên cạnh đó, các nhà trường cũng cần  
phân công công việc hợp lý, tạo điều kiện về thời gian cho GVCN và tăng  
cường công tác tuyên truyền đến cha mẹ HS, tạo thuận lợi cho việc phối  
hợp giữa GVCN với cha mẹ HS trong quá trình GD.  
2.2.3 Thực trạng về nội dung công việc và các hoạt động chủ  
nhiệm lớp của GVCN ở các trường THPT trên địa bàn huyện Chư Sê,  
tỉnh Gia Lai  
a. Việc thực hiện nhiệm vụ và các hoạt động chủ nhiệm lớp của  
GVCN  
Nhiệm vụ cụ thể của GVCN được quy định tại khoản 1 và khoản 2  
điều 31, Điều lệ trường phổ thông. Ngoài ra, GVCN còn có những nhiệm  
vụ đặc thù riêng phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH, phong  
tục tập quán... ở địa phương mình công tác  
Qua khảo sát việc thực hiện nhiệm vụ của GVCN lớp có thể thấy  
GVCN đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Các  
nhiệm vụ thực hiện đạt mức rất tốt như: Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín  
của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh,  
đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của  
học sinh.  
Các nhiệm vụ GVCN thực hiện ở mức độ bình thường hoặc không  
tốt đặt ra yêu cầu đối với các nhà trường là phải chú trọng bồi dưỡng  
GVCN về xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục.  
b. Mức độ thực hiện công việc và các hoạt động của GVCN  
Các công việc có số đông GVCN làm tốt là kết hợp với cha mẹ để  
quản lý, giáo dục học sinh; phối hợp với các cán bộ Đoàn thanh niên, các  
giáo viên bộ môn; lập kế hoạch công tác, kế hoạch các hoạt động của học  
sinh. Tuy nhiên, việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp; tổ chức giờ  
sinh hoạt lớp theo tinh thần đổi mới phương pháp giáo dục; công tác phối  
hợp với cha mẹ học sinh, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường;  
giáo dục học sinh cá biệt vẫn được phần lớn GVCN cho là khó thực hiện  
tốt.  
c. Những hoạt động được tổ chức trong giờ sinh hoạt lớp  
12  
Qua tìm hiểu ý kiến của GVCN về các hoạt động trong giờ sinh  
hoạt lớp cho thấy, các GVCN đã có sự đổi mới nội dung, hình thức tổ chức  
giờ sinh hoạt lớp. Nội dung sinh hoạt lớp đã chủ yếu hướng vào HS, đã chú  
ý đến việc động viên, khích lệ, tạo không khí nhẹ nhàng, thân thiện. Hình  
thức tổ chức đã có sự chuyển đổi một phần vai trò giữa GV và HS.  
Khảo sát ý kiến của HS về các hoạt động trong giờ sinh hoạt lớp  
cho thấy, GVCN vẫn đóng vai trò chủ đạo trong buổi sinh hoạt lớp, chưa  
phát huy được tính tích cực của HS và vai trò cán bộ lớp chưa được nâng  
cao.  
d. Biện pháp nắm bắt tình hình HS  
Khảo sát về biện pháp nắm tình hình HS cho thấy, GVCN rất chú  
trọng việc nắm tình hình và đã sử dụng nhiều kênh thông tin để nắm tình  
hình HS. Kênh thông tin được nhiều GVCN sử dụng nhất là từ cán bộ lớp,  
GV bộ môn và sổ ghi đầu bài. Có 70,5 % số GVCN cho rằng họ theo dõi  
trực tiếp, sát sao tình hình HS hằng ngày, thể hiện tinh thần trách nhiệm  
cao; 91,0 % số GVCN đã nắm tình hình HS từ cha mẹ các em, điều này thể  
hiện sự chú trọng phối hợp với cha mẹ trong QL và GD HS. Mặt khác cũng  
phản ánh sự hạn chế của một số GVCN trong việc xây dựng ý thức tự giác, tích  
cực, tự quản cho HS và trong việc phối hợp với cha mẹ HS.  
h. Biện pháp trao đổi với cha mẹ HS của GVCN  
GVCN thường trao đổi với gia đình HS bằng điện thoại hoặc gặp  
trực tiếp tại trường; hình thức gọi điện sử dụng nhiều, chiếm 94,4% và trao  
đổi khi họp phụ huynh, chiếm 100%. Một số cha mẹ HS cho rằng GVCN  
đến gặp gia đình tại nhà để trao đổi về cách thức phối hợp GD là không  
nhiều.  
Có 94,9% số GVCN trao đổi với cha mẹ HS nội dung khá toàn  
diện. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều GVCN chưa hỏi gia đình về biện pháp GD  
con em và có góp ý nếu thấy cần thiết và chưa hỏi gia đình về điều kiện học  
tập, tính cách, sở thích, mối quan hệ bạn bè của HS.  
Một số GVCN trao đổi với gia đình HS chỉ tập trung vào kết quả rèn  
luyện; những khuyết điểm của HS, bàn biện pháp phối hợp… mà thiếu sự tìm  
hiểu hoàn cảnh của HS để có những biện pháp phối hợp GD chủ động và phù  
hợp hơn.  
2.2.4. Nhận định, đánh giá chung thực trạng công tác GVCN  
lớp ở các trường THPT huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai  
a. Những ưu điểm  
Tất cả các GVCN lớp đều đạt chuẩn và trên chuẩn về chuyên môn,  
nghiệp vụ, có tư cách đạo đức tốt, phẩm chất chính trị vững vàng. Thực  
hiện khá tốt và đầy đủ các nhiệm vụ của GVCN.  
- Công tác GVCN lớp luôn được BGH các trường đặc biệt quan  
tâm và có các biện pháp QL, chỉ đạo sâu sát, kịp thời; thực hiện các điều  
13  
kiện hỗ trợ công tác GVCN lớp khá hợp lý và đầy đủ tùy theo điều kiện  
thực tế.  
Nội dung công tác GVCN phong phú; GVCN được phân công hầu  
hết ở các môn có số tiết nhiều.  
b. Những tồn tại  
Đội ngũ GVCN lớp còn trẻ về tuổi đời và tuổi nghề nên hạn chế về  
kinh nghiệm trong công tác GD, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng  
bào dân tộc thiểu số rất khó khăn  
- Việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, các chuyên đề về công tác  
chủ nhiệm lớp còn thiếu liên tục, thiếu hệ thống và đặc biệt là các tài liệu  
liên quan công tác GVCN lớp ở các trường chưa phong phú cả về số lượng  
và nội dung.  
Nội dung công tác GVCN lớp ở các trường là khá phong phú, tuy  
nhiên tổ chức thực hiện chưa đồng bộ giữa các lớp, các khối lớp và giữa  
các GVCN. Một số GVCN thực hiện công tác GVCN lớp chưa hiệu quả,  
tiếp cận đổi mới còn chậm; sự phối kết hợp với các lực lượng GD trong và  
ngoài nhà trường còn chưa kịp thời, thiếu chặt chẽ và hiệu quả.  
Số tiết chuẩn công tác GVCN lớp 4 tiết/tuần là chưa hợp lý  
2.3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GVCN LỚP CỦA HT  
CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CHƯ SÊ, GIA LAI  
2.3.1. Nhận thức về tầm quan trọng của việc QL công tác  
GVCN  
Qua khảo sát có 98% CBQL và GV cho rằng việc tăng cường QL  
công tác GVCN lớp ở các trường THPT hiện nay là rất quan trọng  
2.3.2. Nhận thức của cán bộ QL sở GD&ĐT về công tác GVCN  
Qua kết quả điều tra chúng tôi nhận được 100% CBQL sở GD&ĐT  
đều đánh giá cao về tầm quan trọng của công tác GVCN lớp cũng như QL  
công tác GVCN lớp của HT ở trường THPT.  
Điều đó cho thấy sở GD&ĐT rất quan tâm đến lĩnh vực này, và  
đây cũng là điều kiện thuận lợi cho các trường THPT trong quá trình GD  
toàn diện HS.  
2.3.3. Thực trạng về QL công tác GVCN lớp của HT ở các  
trường THPT huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai  
a. QL nhân sự và phân công công tác GVCN lớp  
HT các trường THPT đã có sự tìm hiểu kỹ về năng lực GV để phân  
công công tác GVCN lớp.  
Bên cạnh đó các HT cũng rất quan tâm đến việc bồi dưỡng, tập  
huấn nghiệp vụ chủ nhiệm lớp cũng như có kế hoạch tạo nguồn GVCN.  
b. QL việc lập kế hoạch của GVCN lớp  
Kết quả điều tra cho thấy, các trường sau khi phân công GVCN đều  
phát mẫu sổ chủ nhiệm và triển khai việc lập kế hoạch chủ nhiệm năm học.  
14  
Sau khi lập xong kế hoạch chủ nhiệm năm học các trường đều tổ chức kiểm  
tra việc lập kế hoạch chủ nhiệm.  
Trong năm học, GVCN tiếp tục cụ thể hóa kế hoạch theo từng tuần  
và nhà trường tiếp tục kiểm tra và có đưa kết quả vào đánh giá xếp loại hồ  
sơ của GV. HT các trường THPT đã QL tốt việc lập kế hoạch của GVCN  
lớp, đặc biệt là kế hoạch tuần và kế hoạch tháng  
Kết quả khảo sát việc thực hiện nhiệm vụ của GVCN theo Điều 31,  
Điều lệ trường phổ thông cũng cho thấy rõ sự hạn chế trong việc lập kế  
hoạch của nhiều GVCN.  
c. QL việc thực hiện nội dung kế hoạch của GVCN lớp  
Tìm hiểu HS, gia đình HS, môi trường GD  
HT đã hướng dẫn GVCN việc lập hồ sơ HS ngay từ đầu năm học  
và cập nhật trong năm học.  
Xây dựng tập thể HS đoàn kết, thân ái  
Đầu năm học HT ban hành nội qui HS cho GVCN tổ chức phổ biến  
kỹ đến từng HS và cha mẹ HS. Đoàn TN thành lập đội Cờ đỏ theo dõi nền  
nếp vừa theo dõi vừa hỗ trợ GVCN xây dựng nền nếp cho HS. Hàng tuần  
HT kiểm tra sổ ghi đầu bài và tổng hợp phiếu thông tin của GVCN để nắm  
tình hình nề nếp HS các lớp.  
Tổ chức các hoạt động GD toàn diện  
HT có yêu cầu và hướng dẫn GVCN xây dựng các kế hoạch tổ  
chức hoạt động GD có giám sát, đôn đốc. Tuy nhiên, nhìn chung kế hoạch  
tổ chức hoạt động của nhiều GVCN còn chưa đạt yêu cầu, hiệu quả các  
hoạt động còn thấp.  
Đánh giá, xếp loại HS  
Kết quả khảo sát cho thấy HT các trường đã nghiêm túc triển khai,  
hướng dẫn GVCN thực hiện chính xác, khánh quan các qui định về đánh  
giá, xếp loại HS.  
Phối hợp với các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường  
Kết quả điều tra cho thấy, HT các trường tổ chức các cuộc họp cha  
mẹ HS mỗi năm học ít nhất 3 lần, có hướng dẫn GVCN về nội dung, cách  
thức tổ chức họp cha mẹ HS; hướng dẫn GVCN cụ thể trong phối hợp với  
cha mẹ HS; có qui chế phối hợp giữa GVCN với GV bộ môn, Đoàn thanh  
niên, Công đoàn…  
d. Kiểm tra, đánh giá kết quả công tác của GVCN lớp  
Qua khảo sát cho thấy, việc kiểm tra, giám sát của HT đã được  
thực hiện ở tất cả các mốc thời gian và đều trên 75%. Tuy vậy, công tác  
theo dõi, kiểm tra của HT vẫn chưa thực hiện một cách chặt chẽ và thường  
xuyên.  
2.3.4. Thực trạng về QL các điều kiện hỗ trợ công tác GVCN  
lớp của HT các trường THPT huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai  
15  
Qua khảo sát cho thấy các HT đã chú ý quan tâm đến các điều kiện  
hỗ trợ công tác GVCN lớp. Đặc biệt, việc thực hiện chế độ chính sách đối  
với đội ngũ GVCN là thường xuyên và đầy đủ. Tuy nhiên, với điều kiện  
ngân sách giao khoán chi tiết và cụ thể cho các trường trong từng mục chi  
tiêu; cắt giảm 10% tiết kiệm trong kinh phí chi thường xuyên như hiện nay  
thì điều kiện phục vụ cho các hoạt động khác rất khó khăn. Vì vậy, nhà  
trường muốn tổ chức tham quan, học hỏi kinh nghiệm cũng rất khó thực  
hiện  
2.3.5. Nhận định, đánh giá chung thực trạng QL công tác  
GVCN lớp của HT các trường THPT huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai  
a. Thuận lợi  
Ngành GD&ĐT đã rất quan tâm chỉ đạo, xây dựng, bồi dưỡng đội  
ngũ nhà giáo; ban hành điều lệ, quy chế, các văn bản chỉ đạo; đầu tư cơ sở  
vật chất, trang thiết bị dạy học.  
Hầu hết CBQL sở GD&ĐT, CBQL trường THPT và GVCN đều  
đánh giá cao vai trò của GVCN lớp, công tác GVCN lớp cũng như sự QL  
công tác GVCN lớp của HT ở trường THPT  
Đội ngũ CBQL đã qua lớp QLGD hoặc đang theo học cao học  
QLGD, có năng lực về chuyên môn nghiệp vụ; đội ngũ GVCN lớp trẻ,  
nhiệt tình, năng động, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, tinh  
thần trách nhiệm cao, thương yêu HS.  
Đa số cha mẹ HS quan tâm đến việc GD con em và phối hợp tốt  
với nhà trường trong việc QL, GD HS.  
b. Khó khăn  
Các trường THPT trên địa bàn huyện Chư Sê còn thiếu thốn về  
CSVC, kinh phí đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới GD; số giờ được tính  
cho GVCN hiện nay chỉ 4 tiêt/tuần là quá ít so với yêu cầu công việc.  
Một số GVCN chưa thực sự gắn bó với công việc, thiếu đầu tư cho  
công tác chủ nhiệm; sự phối kết hợp giữa GVCN với các lực lượng GD  
trong và ngoài nhà trường chưa thật sự chặt chẽ và hiệu quả; những tác  
động tiêu cực của xã hội cũng ảnh hưởng đến một bộ phận HS, gây trở ngại  
không nhỏ đến quá trình GD HS  
Tại các địa bàn vùng sâu vùng xa, kinh tế khó khăn, HS thường  
xuyên bỏ học, đặc biệt là HS DTTS đã gây ra nhiều khó khăn trong công  
tác QL  
c. Những hạn chế, bất cập  
HT các trường chưa phát huy hết năng lực, sở trường của đội ngũ  
GVCN lớp.  
Công tác chỉ đạo phối kết hợp giữa GVCN với các lực lượng GD  
trong và ngoài nhà trường chưa thật sự chặt chẽ và hiệu quả.  
16  
- Công tác duy trì sĩ số, hướng nghiệp cho HS DTTS còn gặp nhiều  
khó khăn. Một bộ phận HS học yếu dẫn đến chán học, vi phạm nội qui  
trường lớp, ảnh hưởng các mặt tiêu cực ngoài XH đã có tác động không  
nhỏ tới việc GD HS  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2  
Từ các kết quả khảo sát thực trạng công tác GVCN lớp và hoạt  
động QL công tác GVCN lớp của HT các trường THPT huyện Chư Sê, tỉnh  
Gia Lai cho thấy HT và các CBQL ở trường THPT đã rất coi trọng vai trò  
của GVCN lớp trong quá trình GD toàn diện HS. Các biện pháp QL công  
tác chủ nhiệm được thực hiện ở các trường đã đáp ứng cơ bản mục tiêu GD  
đề ra, đặc biệt trong việc duy trì nền nếp dạy học và GD đạo đức HS. Đồng  
thời, kết quả khảo sát cũng cho thấy trong QL công tác GVCN cũng còn  
gặp nhiều khó khăn từ phía GV, HS, môi trường XH…và còn một số tồn  
tại cơ bản trong việc thực hiện các chức năng QL.  
Để nâng cao hơn nữa chất lượng GD ở địa phương, nơi có nhiều  
HS DTTS, kinh tế khó khăn, đòi hỏi GVCN và CBQL các trường phải đổi  
mới các biện pháp QL công tác GVCN thiết thực, khả thi nhằm khắc phục  
khó khăn trước mắt và lâu dài, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện  
GD trong thời gian tới.  
CHƯƠNG 3  
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GVCN LỚP CỦA HT  
CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CHƯ SÊ TỈNH GIA LAI  
3.1. CÁC NGUYÊN TẮC KHI XÂY DỰNG BIỆN PHÁP  
3.1.1. Đảm bảo tính kế thừa  
3.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn  
3.1.3. Đảm bảo tính đồng bộ  
3.2. CÁC BIỆN PHÁP  
3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công  
tác GVCN lớp ở trường THPT cho CBQL và đội ngũ GV  
a. Mục tiêu, ý nghĩa  
Đội ngũ CBQL, GV và GVCN nhận thức đầy đủ, đúng đắn vai trò  
của GVCN lớp, công tác GVCN lớp trong quá trình GD HS là điều hết sức  
cần thiết. Đó là động lực thúc đẩy sự tiến bộ, phát triển; là yếu tố quyết  
định đến hoạt động GD cũng như kết quả GD toàn diện của nhà trường.  
b. Nội dung và cách tiến hành thực hiện  
- HT phải xác định được vị trí, vai trò, của GVCN lớp đối với việc  
thực hiện nhiệm vụ năm học và quán triệt đến tất cả các thành viên trong  
nhà trường; cha mẹ HS; các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường về  
17  
tầm quan trọng của công tác GVCN lớp ở trường THPT, đặc biệt là những  
GV mới ra trường.  
- HT quán triệt đến đội ngũ GVCN lớp về trách nhiệm, nhiệm vụ  
của GVCN. Ngoài nhiệm vụ của người GV, GVCN còn có thêm các nhiệm  
vụ cụ thể được quy định trong Điều lệ trường PT và những nhiệm vụ mang  
tính đặc thù riêng phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH, phong  
tục tập quán... ở địa phương mình công tác. Như vậy, GVCN lớp có trách  
nhiệm cao hơn, nhiệm vụ nặng nề hơn so với các GV khác.  
c. Lưu ý khi thực hiện biện pháp  
Khi áp dụng, thực hiện biện pháp này cần phải tiến hành một cách  
đồng bộ, thống nhất từ Chi bộ Đảng, ban giám hiệu đến toàn thể giáo viên,  
nhân viên, giáo viên chủ nhiệm, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, cha  
mẹ học sinh, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Từ đó,  
nâng cao trách nhiệm trong công tác quản lý; huy động các lực lượng giáo  
dục tham gia vào công tác giáo dục toàn diện học sinh, đảm bảo được sự  
thống nhất giữa nhận thức và hành động, tạo sức mạnh tổng hợp nhằm thực  
hiện các mục tiêu đề ra.  
3.2.2. Biện pháp 2: Bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho GVCN lớp  
a. Mục tiêu, ý nghĩa  
Nhằm nâng cao trình độ chính trị, quan điểm lập trường,  
phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của người GVCN lớp  
đáp ứng yêu cầu đổi mới GD, nâng cao chất lượng GD toàn diện.  
b. Nội dung và cách tiến hành thực hiện các biện pháp  
Bồi dưỡng tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, đường lối,  
nguyên lý, chính sách GD của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở đó, GVCN lớp  
vận dụng vào việc tổ chức hoạt động GD HS  
HT nhà trường phải thường xuyên cập nhật thông tin về chủ  
trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; kịp thời nắm bắt  
những diễn biến tư tưởng, nhận thức của CBCNV, GV nhà trường.  
Có kế hoạch tổ chức cho GV giúp đỡ các HS DTTS có hoàn cảnh  
khó khăn ngay từ đầu năm học. Cung cấp kịp thời các tài liệu, báo, tạp chí,  
thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước để  
CB GV nghiên cứu, tham khảo nâng cao trình độ chính trị, xã hội. Động  
viên, tạo điều kiện tối đa để CBCNV, GV tham gia các lớp bồi dưỡng chính  
trị, học tập nghị quyết của Đảng do Huyện Ủy, sở GD&ĐT tổ chức.  
Bồi dưỡng hệ thống lý luận giáo dục, năng lực chuyên môn, nghiệp  
vụ cho GVCN lớp  
Tổ chức các đợt tập huấn nhằm tăng cường nhận thức về vai trò,  
trách nhiệm và năng lực của GVCN trong việc QL học sinh, tổ chức các  
hoạt động GD học sinh THPT đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng GD  
toàn diện.  
18  
HT cần tìm hiểu nhu cầu học tập của đội ngũ GV nói chung và đội  
ngũ GVCN nói riêng, từ đó có kế họach tập huấn bồi dưỡng từ đầu năm  
học. Lập kế hoạch tập huấn bồi dưỡng về công tác chủ nhiệm lớp cho đội  
ngũ GV trong nhà trường.  
Xác định nội dung tập huấn bồi dưỡng  
Tổ chức tập huấn bồi dưỡng về công tác chủ nhiệm lớp cho đội ngũ  
GV nói chung và GVCN nói riêng ở các trường THPT. Theo dõi việc học  
tập bồi dưỡng thường xuyên và việc áp dụng những nội dung bồi dưỡng  
vào thực tế chủ nhiệm ở lớp.  
Tổ trưởng chuyên môn giám sát việc thực hiện công tác chủ nhiệm  
lớp, áp dụng nội dung bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp vào thực tế tổ  
chức các họat động GD cho HS.  
c. Lưu ý khi thực hiện biện pháp  
Ban giám hiệu nhà trường cần xác định rõ nội dung tập huấn bồi  
dưỡng, những nhà trườngội dung có tác dụng thiết thực, phù học sinhợp với  
điều kiện thực tế của nhà trường, những tri thức mới và khả năng vận dụng  
tri thức khoa học vào thực tế, những tri thức khoa học về xã hội, khoa học  
tự nhiên, về lịch sử, văn hóa, tâm lý học, giáo dục học… Đặc biệt là tri thức  
về lịch sử, văn hóa địa phương.  
3.2.3. Biện pháp 3: Tuyển chọn, phân công, bố trí giáo viên chủ  
nhiệm lớp  
a. Mục tiêu, ý nghĩa  
Nhằm xây dựng đội ngũ GVCN lớp tối ưu nhất trong điều kiện thực tế  
của nhà trường; tạo điều kiện thuận lợi và phù hợp để các GVCN thực hiện tốt  
nhiệm vụ của mình trong công tác GVCN lớp. Đồng thời, giúp cho HT thực  
hiện tốt chức năng QL công tác GVCN lớp trong quá trình điều hành các  
hoạt động GD.  
b. Nội dung và cách tiến hành thực hiện biện pháp  
Công tác xây dựng, tuyển chọn và phân công GVCN lớp  
- HT cần xác định rõ những phẩm chất, năng lực mà thực tế đòi hỏi  
ở người GVCN lớp; xem xét các điều kiện cụ thể như những khó khăn,  
thuận lợi của nhà trường, hoàn cảnh gia đình GVCN, những đặc thù của địa  
phương,… trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch tuyển chọn GVCN đáp ứng  
yêu cầu nhiệm vụ năm học. Tránh chủ quan, tuyển chọn theo cảm tính.  
Chọn những GV có đủ phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm chủ  
nhiệm lớp và có uy tín nhất trong đội ngũ GV để phân công công tác chủ  
nhiệm lớp. Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, năng lực, kinh nghiệm  
chủ nhiệm lớp, kỹ năng ứng xử…của GVCN để phân công, bố trí chủ  
nhiệm các lớp phù hợp nhằm mang lại quyền lợi cho HS nói riêng và hiệu  
quả trong quá trình GD HS nói chung.  
Quy hoạch, tạo nguồn đội ngũ GVCN lớp  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 13021 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_bien_phap_quan_ly_cong_tac_giao_vien_chu_nh.pdf