Luận văn Các yếu tố động viên ảnh hưởng đến sự hài lòng với công việc của công chức ngành thanh tra tỉnh Đồng Nai

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
  
NGUYỄN NGỌC THẮNG  
CÁC YẾU TỐ ĐỘNG VIÊN ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG  
VỚI CÔNG VIỆC CỦA CÔNG CHỨC NGÀNH THANH TRA  
TỈNH ĐỒNG NAI  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
  
NGUYỄN NGỌC THẮNG  
CÁC YẾU TỐ ĐỘNG VIÊN ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG  
VỚI CÔNG VIỆC CỦA CÔNG CHỨC NGÀNH THANH TRA  
TỈNH ĐỒNG NAI  
Chuyên ngành  
Mã số  
:
:
Quản lý công  
60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. Nguyễn Hữu Lam  
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn này do tôi tiến hành khảo sát, tham khảo tài liệu  
và viết. Các đoạn trích dẫn, số liệu sử dụng trong luận văn đều được trích nguồn và  
có độ chính xác cao nhất có thể. Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm  
của Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy  
Thạc sĩ Quản lý công.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày…tháng… năm 2016  
Người thực hiện  
Nguyễn Ngọc Thắng  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Xin cảm ơn các thầy cô và các giảng viên đã tham gia giảng dạy chương  
trình thạc sĩ Quản lý công để tôi được tiếp cận, được trải nghiệm và có một môi  
trường học tập tuyệt vời.  
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Nguyễn Hữu Lam về những  
kiến thức thầy đã truyền đạt, những lời khuyên quý báu để tôi hoàn thành luận văn  
này.  
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những công chức ngành Thanh tra tỉnh Đồng  
Nai đã hỗ trợ, giúp đỡ, cộng tác cùng tôi trong quá trình thu thập số liệu.  
Tôi xin cảm ơn tập thể lớp Quản lý công, các anh chị đã giúp đỡ tôi trong  
quá trình học tập.  
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè và những người đồng nghiệp của  
tôi, đã tạo mọi điều kiện và ủng hộ, động viên, khích lệ để tôi có thể hoàn thành  
luận văn tốt nhất có thể./.  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
v
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được thực hiện với tên đề tài “Các yếu tố động viên ảnh hưởng  
đến sự hài lòng với công việc của công chức ngành Thanh tra tỉnh Đồng Nai”, với  
mục tiêu khám phá và đo lường những yếu tố động viên tác động đến kết cục cá  
nhân cụ thể là đến sự hài lòng với công việc của công chức ngành Thanh tra. Để  
giải quyết các mục tiêu, nghiên cứu đã dựa vào các lý thuyết như: Lý thuyết của  
Maslow, Lý thuyết của Kovach, Lý thuyết Động viên phụng sự công, kết hợp với  
phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.  
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp với  
mẫu có kích thước n= 250 quan sát. Thang đo được đánh giá sơ bộ thông qua việc  
kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’ Alpha và nhân tố khám phá EFA. Kết quả kiểm  
định các mô hình đo lường cho thấy, các thang đo đều đạt được độ tin cậy và giá trị  
cho phép. Kết quả cũng cho thấy mô hình các yếu tố Động viên ảnh hướng đến sự  
hài lòng với công việc của công chức ngành Thanh tra tỉnh Đồng Nai bao gồm: Cơ  
hội thăng tiến; Địa vị xã hội của ngành; Phụng sự công, Công việc thú vị; Quan hệ  
tốt; Độ trách nhiệm.  
Sự hài lòng đối với công việc của công chức ngành Thanh tra chịu sự chi  
phối mạnh nhất của yếu tố “Công việc thú vị”, vì môi trường tốt, chuyên nghiệp sẽ  
làm cho người lao động an tâm phục vụ tổ chức. Tác động của các yếu tố khác giảm  
dần theo thứ tự như sau: Cơ hội thăng tiến; Phụng sự công; Địa vị xã hội; Độ trách  
nhiệm; Quan hệ tốt.  
Từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm tăng cường sự hài lòng của công chức  
ngành Thanh tra tỉnh Đồng Nai như:  
Thứ nhất, yếu tố “Công việc thú vị” là một trong những yếu tố làm cho  
người lao động cảm thấy an tâm, một cảm giác an toàn, thoả mãn. Xây dựng một  
môi trường làm việc ngành Thanh tra chuyên nghiệp, năng động, hợp tác và phát  
triển.  
Thứ hai, nâng cao cơ hội học tập chuyên môn, cũng như bồi dưỡng chính  
trị cho công chức ngành.  
Thứ ba, thực hiện chiến lược ngành Thanh tra….  
 
vi  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
Tên tiếng Việt  
EFA  
Phân tích nhân tố  
(Exploratory Factor Analysis)  
Phụng sự công (Public service motivation)  
Thủ tướng  
PSM  
TTg  
CIPD  
Viện Nhân lực và phát triển Anh Quốc  
(The Chartered Institute of Personnel and  
Development)  
 
vii  
DANH MỤC HÌNH VẼ  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
   
viii  
TỪ KHÓA  
Động viên, tận tâm, gắn kết, sự hài lòng với công việc  
 
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU- BỐI CẢNH CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
1.1 Bối cảnh chính sách  
Trong những năm qua, Nhà nước luôn cố gắng thu hút đội ngũ lao động  
chất lượng cao vào phục vụ cho khu vực công như: Chế độ ưu đãi trong tuyển dụng,  
đề bạt, lương bổng,… Các cơ quan hành chính Nhà nước cũng đã chuyển hướng hỗ  
trợ cho các cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) tham gia học tập, nâng cao  
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Theo số liệu thống kê, số lao động đang làm việc  
trong khu vực công đều tăng qua các năm với tỷ lệ trung bình 3%/năm (Tạp chí tài  
chính, 2014). Tuy nhiên, điều mà có thể dễ dàng nhận thấy hiện nay là khu vực  
công của Việt Nam đang “chảy máu chất xám”, phải chăng là có sự khác biệt lớn về  
điều kiện làm việc, chính sách tuyển dụng cũng như chế độ đãi ngộ giữa khu vực tư  
nhân và khu vực công.  
Tại Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải  
cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 đã chỉ rõ một trong những nhiệm vụ  
trọng tâm của cải cách hành chính là: Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC, chú  
trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động viên thực sự để CBCCVC thực  
thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính  
và chất lượng phụng sự công. Tuy nhiên, tình trạng CBCCVC đi làm không đúng  
thời gian qui định, đi trễ, về sớm, làm việc riêng trong giờ hành chính, thời gian xử  
lý thủ tục hành chính cho người dân kéo dài… Thủ tướng Chính phủ đã ban hành  
Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg về việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời giờ làm việc  
của CBCCVC nhà nước.  
Theo Báo cáo tình hình thanh niên năm 2012 của Viện Nghiên cứu Thanh  
Niên thì có khoảng 50% thanh niên - những người đang là CBCCVC, cho rằng môi  
trường làm việc tại cơ quan không phù hợp, thiếu điều kiện tạo động viên phát triển  
khiến thanh niên lo lắng và muốn chuyển sang khu vực ngoài nhà nước. Đồng thời,  
cũng trong khảo sát này cho thấy có tới trên 80% thanh niên được hỏi cho rằng chế  
độ tiền lương, đãi ngộ vật chất trong khu vực công còn thấp (Hoàng Thị Hồng Lộc  
và Nguyễn Quốc Nghi, 2014).  
   
2
Trải qua 70 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Thanh tra Việt Nam đã  
có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Kết  
quả công tác thanh tra đã giúp phát hiện những bất cập, hạn chế nảy sinh trong cơ  
chế quản lý kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị  
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thủ tướng chính phủ đã ban hành  
Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 08/12/2015 về việc Ban hành chiến lược phát  
triển ngành Thanh tra đến 2020, tầm nhìn đến năm 2030 nhằm phát huy hơn nữa vai  
trò, vị trí, trách nhiệm, hiểu quả giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo, phòng chống  
tham nhũng của ngành Thanh tra Việt Nam.  
Động viên người lao động sẽ giúp cho tổ chức đạt hiệu quả cao hơn  
(Osablya, Babatunde Joseph, 2015). Điều này có nghĩa rằng muốn thực hiện thành  
công chiến lược của ngành, Thanh tra tỉnh Đồng Nai phải nắm bắt được các yếu tố  
động viên nào tác động lên sự hài lòng với công việc của công chức để từ đó xây  
dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả công việc.  
Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Các yếu tố động viên ảnh hướng đến sự hài  
lòng với công việc của công chức ngành Thanh tra tỉnh Đồng Nai” để làm luận  
văn tốt nghiệp lớp MPM.  
1.2 Mục tiêu nghiên cứu  
Khám phá các yếu tố động viên ảnh hưởng đến sự hài lòng với công việc  
của công chức ngành Thanh tra tỉnh Đồng Nai. Từ đó đề xuất những chính sách  
nhằm khuyến khích hợp lý để gia tăng Sự hài lòng cho các CBCC ngành Thanh tra  
tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới.  
1.3 Câu hỏi nghiên cứu  
Câu hỏi 1: Các yếu tố động viên nào ảnh hưởng đến sự hài lòng với công  
việc với công việc của cán bộ công chức ?  
Câu hỏi 2: Những nhân tố này có mức độ tác động như thế nào đến sự hài  
lòng đối với công chức ngành Thanh tra tỉnh Đồng Nai?  
Câu hỏi 3: Những can thiệp chính sách nào là cần thiết để tăng sự hài lòng  
của công chức ngành Thanh tra tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới?  
   
3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố động viên và sự hài lòng với công việc.  
- Phạm vi nghiên cứu: Ngành Thanh tra tỉnh Đồng Nai, dự kiến khảo sát  
250 công chức trong số 410 công chức của ngành, gồm: Thanh tra tỉnh, 17 đơn vị  
Thanh tra cấp sở, ngành và 11 đơn vị Thanh tra cấp huyện, thị xã Long Khánh và  
thành phố Biên Hòa.  
1.5 Phương pháp nghiên cứu  
Đề tài sử dụng phương pháp định tính để đưa ra các yếu tố động viên ảnh  
hưởng đến sự hài lòng với công việc của cán bộ công chức ngành Thanh tra tỉnh  
Đồng Nai, cụ thể là “Sự hài lòng với công việc” của công chức ngành Thanh tra,  
đồng thời sử dụng phương pháp định lượng để kiểm tra các yếu tố đồng viên nào  
ảnh hưởng đến sự hài lòng với công việc để từ đó dùng hàm hồi quy đa biến để  
khẳng định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến “Sự hài lòng với công việc”.  
Cuối cùng, phương pháp phân tích - tổng hợp và tham vấn ý kiến chuyên  
gia được sử dụng. Ý kiến của 28 cán bộ lãnh đạo Thanh tra các cấp được dùng để  
tham khảo nhằm đề xuất chính sách.  
Để trả lời cho câu hỏi 1 về các yếu tố động viên nào ảnh hưởng đến Sự hài  
lòng với công việc của công chức ngành Thanh tra, thông qua nghiên cứu định tính,  
lược khảo tài liệu trong và ngoài nước để tìm ra các yếu tố động viên ảnh hưởng  
đến “Sự hài lòng với công việc”.  
Ở câu hỏi 2, để đánh giá tác động của các yếu tố động viên này ảnh hưởng  
như thế nào đến “Sự hài lòng với công việc”, đề tài sử dụng hệ Cronbach’s Alpha  
để kiểm định thống kê, kết hợp kiểm tra bằng hàm hồi quy đa biến với biến phụ  
thuộc là “Sự hài lòng với công việc” và phân tích ANOVA để kiểm định sự khác  
biệt giữa các yếu tố nhân khẩu học.  
Đối với câu hỏi 3, thông qua kết quả nghiên cứu và tham khảo các ý kiến  
của 28 cán bộ lãnh đạo Thanh tra các cấp, kinh nghiệm và các giải pháp nghiên cứu  
trước, để đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao “Sự hài lòng” của  
công chức ngành Thanh tra tỉnh Đồng Nai.  
   
4
1.6 Kết cấu đề tài  
Chương 1. Giới thiệu – Bối cảnh của vấn đề nghiên cứu.  
Chương 2. Tổng quan cơ sở lý thuyết về Động viên và Sự hài lòng đối với  
công việc.  
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu.  
Chương 4. Kết quả nghiên cứu.  
Chương 5. Kết luận- kiến nghị  
 
5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG VIÊN VÀ SỰ  
HÀI LÒNG  
2.1 Lý thuyết về động viên  
2.1.1 Khái niệm động viên  
Trong nghiên cứu “Understanding Motivation” của Mike Baker (2003), đã  
đề cập đến câu hỏi động viên là gì? Ông đã cung cấp lời giải thích hợp lý về động  
cơ như sau:  
Có nguồn cảm hứng để làm bất cứ điều gì. Một cái gì đó, hay bất cứ điều  
gì. Hoặc mong muốn. Tôi đoán (Janice Field, 2003).  
Đó là mong muốn làm một cái gì đó, phải có năng lượng. Đó là năng lượng  
để làm một điều gì đó. Theo đuổi mục tiêu. Bạn có thể không đạt được nó, nhưng  
bạn vẫn có động viên. (Arsalan Ahmed, 2003).  
Hay động viên cho tôi là những điều làm cho tôi muốn làm việc gì đó (Jay  
Van de Wint, 2003).  
Động viên đề cập đến lý do làm nền tảng cho hành vi, nó được đặc trưng  
bởi sự sẵn sàng và ý chí, động viên nội tại được sinh ra bởi sở thích cá nhân hay  
việc giải trí, trong khi động viên bên ngoài có lẽ được điều chỉnh bởi tình huống.  
Khi đề cập đến động viên (Motivation), trên thế giới có rất nhiều khái niệm.  
“Động cơ thúc đẩy nhân viên nỗ lực và sử dụng khả năng của mình để đạt  
được mục tiêu của tổ chức” (Robbins, 1998).  
Ngoài ra, Herzberg (1959) trong tác phẩm “The motivation to work”,  
Herzberg cho rằng “Động viên là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để  
tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.  
“Xu hướng rộng để nỗ lực đạt đến mục tiêu” (Johson in Schmidt, Boraie &  
Kassabgy, 1996).  
“Động viên trong bối cảnh hiện nay đề cập đến sự kết hợp của nỗ lực cộng  
với mong muốn đạt được mục tiêu học ngôn ngữ cộng với thái độ thuận lợi hướng  
tới việc học ngôn ngữ” (Gardner, 1985).  
Trong một ý nghĩa chung, động viên có thể được định nghĩa là tự động thay  
     
6
đổi kích thích tích lũy trong một con người, qua đó sẽ khởi tạo, chỉ đạo, phối hợp,  
khuếch đại, đánh giá hay chấm dứt nhận thức và động viên theo quy trình là những  
lời chúc và mong muốn lựa chọn, ưu tiên, vận hành, tạo ra hành động (Dornyei &  
Otto, 1998).  
Động viên liên quan mật thiết với nhau đến niềm tin, nhận thức, giá trị, lợi  
ích và các hành động. Kết quả là, các cách tiếp cận khác nhau để động viên có thể  
tập trung vào các hành vi nhận thức. Ví dụ như theo Gottfied (1990) định nghĩa  
động viên trong lĩnh vực y khoa là thụ hưởng việc học tập đặc trưng bởi định hướng  
tự chủ, sự tò mò và lòng kiên trì.  
2.1.2 Tầm quan trọng của động viên làm việc  
Điều gì đã tạo ra tầm quan trọng của động viên làm việc? Chỉ có một từ,  
câu trả lời là hiệu suất.  
Theo Ahlstrom và Bruton, 2009, động viên làm việc không xác định cấp độ  
hiệu suất của nhân viên, nhưng nó ảnh hưởng đến nỗ lực của người lao động hướng  
về thực hiện nhiệm vụ. Vai trò động viên trong hiệu suất có thể được tóm tắt trong  
các công thức sau đây:  
Hiệu suất = khả năng * sự hiểu biết về công việc* động viên * môi  
trường  
Nhân viên được động viên cảm thấy ít căng thẳng hơn, tận hưởng công việc  
của họ, và kết quả là có sức khỏe thể chất và tinh thần tốt hơn (Robison, 2010). Hơn  
nữa, nhân viên được động viên là cam kết nhiều hơn với các tổ chức của họ và ít  
không phục tùng và khiếu nại (Jurkiewicz & Cs, 1998). Họ cũng có nhiều sáng tạo  
và đáp ứng cho khách hàng, do đó gián tiếp góp phần vào sự thành công lâu dài của  
tổ chức (MANforum, 2009). Trong ngắn hạn, nhân viên năng động là những tài sản  
lớn nhất của bất kỳ tổ chức nào.  
Thêm vào đó, khu vực công với hiệu suất của chính phủ và chính quyền  
ảnh hưởng rất nhiều đến xã hội hơn các tổ chức khu vực tư nhân. Điều này càng  
làm cho vấn đề động viên làm việc của các nhân viên trong khu vực công càng trở  
nên quan trọng.  
 
7
2.1.3 Các lý thuyết về động viên  
Bao gồm các học thuyết của Maslow (1943), thuyết hai nhân tố của  
Herzberg (1959), Lý thuyết ERG của Alderfer (1969), thuyết nhu cầu thành đạt của  
Maclelland (1985).  
2.1.3.1 Lý thuyết của Maslow  
Lý thuyết của Maslow về sự phát triển cá nhân và động viên được công bố  
vào năm 1943. Theo Maslow, hành vi của con người bắt nguồn từ mong muốn thỏa  
mãn các nhu cầu cá nhân. Nhu cầu của con người được chia thành năm bậc từ thấp  
(cấp thiết nhất) đến cao (ít cấp thiết) gồm: nhu cầu sinh học - nhu cầu an toàn - nhu  
cầu xã hội - nhu cầu được tôn trọng - nhu cầu tự thể hiện bản thân.  
Nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh học là những nhu cầu đảm bảo cho con  
người tồn tại như ăn, uống, mặc, tồn tài và phát triển nòi giống và các nhu cầu của  
con người khác.  
Nhu cầu về an toàn (an ninh) là những nhu cầu như an toàn, không bị đe  
doạ, an ninh, chuẩn mực, luật lệ.  
Nhu cầu xã hội là các nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bạn bè, xã hội.  
Nhu cầu được tôn trọng là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác và  
được người khác tôn trọng.  
Nhu cầu tự thể hiện là các nhu cầu chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài  
hước.  
Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow đã có một ẩn ý quan trọng là muốn  
động viên người lao động thì điều quan trọng là phải hiểu người lao động đang ở  
cấp độ nhu cầu nào, để từ đó đưa ra các giải pháp cho phù hợp.  
2.1.3.2 Thuyết hai nhân tố của Herzberg  
Theo lý thuyết hai nhân tố của Herzberg, ông đã đề nghị các chuyên gia  
làm trong các xí nghiệp công nghiệp liệt kê các nhân tố làm họ thoả mãn và các  
nhân tố làm cho họ động viên cao.  
     
8
Bảng 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng theo Herzberg  
Các nhân tố duy trì  
Phương pháp giám sát  
Hệ thống phân phối thu nhập  
Quan hệ với đồng nghiệp  
Điều kiện làm việc  
Các nhân tố động viên  
Sự thách thức của công việc  
Các cơ hội thăng tiến  
Ý nghĩa của các thành tựu  
Sự nhận dạng khi công việc  
được thực hiện  
Chính sách của công ty  
Cuộc sống cá nhân  
Địa vị  
Ý nghĩa của các trách nhiệm  
Quan hệ qua lại giữa các cá nhân  
Yếu tố động viên: Công việc thử thách, thành tích, trách nhiệm,  
trưởng thành trong công việc, sự tiến bộ, địa vị và sự công nhận.  
Yếu tố duy trì: Quan hệ giữa các cá nhân, chính sách và quản trị, các  
điều kiện làm việc, an toàn nghệ nghiệp, tiền lương và cuộc sống riêng tư.  
2.1.3.3 Lý thuyết ERG cuả Alderfer  
Thuyết nhu cầu Tồn tại/Quan hệ/Phát triển của Clayton Alderfer (1969) đặt  
ra ba nhóm nhu cầu khác nhau:  
Nhu cầu tồn tại – Nhóm nhu cầu này liên quan đến việc đáp ứng đầy đủ  
những yêu cầu sinh tồn cơ bản như nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn,... Những nhu  
cầu này có thể được thoả mãn khi một cá nhân sử dụng tiền của mình để chi trả cho  
các khoản phí sinh hoạt như ăn uống, nơi ở, quần áo,v.v...  
Nhu cầu về các mối quan hệ - Nhóm nhu cầu này tập trung vào những  
mong muốn thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau. Thông  
thường mỗi ngày bạn chỉ dành một nửa thời gian để làm việc, còn lại thì bạn sẽ  
dùng để giao tiếp với người khác nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu về mối quan hệ  
của mình.  
Nhu cầu phát triển - Những nhu cầu này thường được thoả mãn bằng sự  
tiến bộ và phát triển của cá nhân. Đặc biệt thì thành công trong công việc hay sự  
nghiệp sẽ là những yếu tố giúp thoả mãn nhu cầu này.  
Học thuyết ERG của Alderfer cũng chỉ ra rằng tại một thời điểm nhất định,  
   
9
con người không chỉ có một nhu cầu duy nhất mà có thể có nhiều nhu cầu khác  
nhau. Trong đó, nếu một người không được đáp ứng nhu cầu mà họ mong muốn  
nhất thì niềm khao khát được thoả mãn những nhu cầu còn lại sẽ tăng cao. Alderfer  
gọi hiện tượng này là “mức độ lấn át của nỗi lo sợ và thất vọng” (frustration & shy  
aggression dimension). Điều này có nghĩa là nếu một người rơi vào hoàn cảnh như  
trên và có một biến cố xảy ra đe doạ đến những nhu cầu cơ bản như công việc của  
người đó thì anh ta sẽ rất dễ bị rơi vào tình trạng tuyệt vọng và hoảng loạn.  
2.1.3.4 Thuyết nhu cầu thành đạt của McClelland (1985)  
Ông quan niệm động cơ thúc đẩy bằng cách xác định ba loại nhu cầu thúc  
đẩy con người trong tổ chức như sau:  
Nhu cầu về quyền lực: là nhu cầu tác động lên người khác, tới hoàn cảnh,  
kiểm soát và thay đổi hoàn cảnh.  
Nhu cầu về liên minh: là các nhu cầu về quan hệ xã hội, quan hệ giúp đỡ  
qua lại. Nhu cầu liên minh giống như nhu cầu xã hội của Maslow, được chấp nhận,  
bạn bè. Những người có nhu cầu liên minh rất thích những công việc mà qua đó tạo  
ra sự thân thiện và các quan hệ xã hội.  
Nhu cầu về thành tích: là nhu cầu vươn tới những thành tựu và thắng lợi.  
Người có nhu cầu thành tựu cao là người luôn theo đuổi việc giải quyết công việc  
tốt hơn. Họ muốn vượt qua các khó khăn, trở ngại. Họ cảm thấy rằng thành công  
hay thất bị của họ là do kết quả những hành động của họ.  
Theo ông thì những người thành đạt trong xã hội và trong các doanh nghiệp  
thường là những người có nhu cầu cao về thành tích, khá cao về quyền lực và  
không quá thấp về nhu cầu liên kết.  
2.1.3.5 Học thuyết về nhận thức  
Các thuyết thuộc học thuyết về nhận thức có thể kể đến như thuyết kỳ vọng  
của Vroom (1964), thuyết công bằng của Adam (193).  
Thuyết kỳ vọng của Vroom (1964)  
Ông cho rằng hành vi và hành động làm việc của con người được quyết  
định bởi nhận thức và kỳ vọng của họ trong tương lai.  
Vroom cho rằng người lao động chỉ được động viên khi nhận thức của họ  
   
10  
về cả ba khái niệm: kỳ vọng, tính chất công cụ, hoá trị. Hay có nghĩa là họ tin rằng  
nỗ lực của họ sẽ cho ra kết quả tốt hơn, kết quả đó dẫn đến phần thưởng xứng đáng  
và phù hợp với mục tiêu cá nhân của họ. Sự động viên của con người phụ thuộc và  
hai nhân tố:  
Mức độ mong muốn thật sự của cá nhân đối với việc giải quyết công  
việc.  
Cá nhân đó nghĩ về công việc thế nào và sẽ đạt đến điều đó như thế  
nào?  
Thuyết công bằng của Adam (1963)  
Lý luận về sự công bằng chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ so sánh giữa  
cống hiến của cá nhân đối với tổ chức và sự được công nhận từ tổ chức. Theo  
Adam, thành viên của tổ chức giữ được nhiệt trong làm việc tương đối cao thì sự  
báo đáp trong tổ chức phải công bằng, hợp lý, và các nhân viên trong tổ chức phải  
cảm thấy có sự phân phối công bằng.  
Khi so sánh, đánh gia đóng góp, cống hiến với những đãi ngộ và phần  
thưởng của mình có thể xảy ra:  
Nếu người lao động cho rằng họ được đối xử không tốt, phần thưởng  
là không xứng đáng với công sức họ bỏ ra thì họ sẽ bất mãn.  
Nếu người lao động tin rằng họ được đối xử đúng, phần thưởng và đãi  
ngộ là tương xứng với công sức của họ đã bỏ ra, thì họ sẽ duy trì năng suất  
như cũ.  
Nếu người lao động nhận thấy rằng phần thưởng và đãi ngộ là cao  
hơn so với điều mà họ mong muốn thì họ sẽ làm việc tích cực hơn, chăm chỉ  
hơn.  
2.1.3.6 Học thuyết củng cố  
Theo Bartol và Martin (1998), Học thuyết về củng cố dựa trên khái niệm về  
quy luật tác động, hành vi tạo kết quả tốt và dễ chịu có xu hướng lặp lại, còn hành  
vi tạo hậu quả sẽ ít lặp lại.  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 76 trang yennguyen 10060 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Các yếu tố động viên ảnh hưởng đến sự hài lòng với công việc của công chức ngành thanh tra tỉnh Đồng Nai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_cac_yeu_to_dong_vien_anh_huong_den_su_hai_long_voi.pdf