Luận văn Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Cà Mau

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
__________  
LÊ VĂN SƠN  
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN  
KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI  
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU  
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ  
HÀ NỘI, năm 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XA HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
__________  
LÊ VĂN SƠN  
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN  
KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI  
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU  
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự  
Mã số: 8 38 01 04  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
PGS.TS. NGUYỄN TẤT VIỄN  
HÀ NỘI, năm 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiêu cứu khoa học của riêng tôi.  
Các số liệu, trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung  
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong  
bất kỳ công trình nào khác.  
TÁC GIẢ LUẬN VĂN  
Lê Văn Sơn  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU  
Hình 2.1. Biểu đồ tỉ lệ % người dưới 18 tuổi phạm tội bị khởi tố của Viện  
kiểm sát nhân dân ở tỉnh Cà Mau.  
Hình 2.2. Biểu đồ tỉ lệ % về nhóm tội của người dưới 18 tuổi phạm tội bị  
khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Cà Mau.  
Bảng 2.1. Các trường hợp Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố  
việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội ở tỉnh Cà Mau.  
Bảng 2.2. Các trường hợp Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố  
yêu cầu khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can là người  
dưới 18 tuổi.  
Bảng 2.3. Các trường hợp Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố  
hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ  
án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm định chỉ giải  
quyết nguồn tin về tội phạm vụ án người dưới 18 tuổi phạm tội.  
Bảng 2.4. Các trường hợp Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố  
khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can.  
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự nói chung và thực hành  
quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18  
tuổi nói riêng, là một trong những hoạt động tố tụng có ý nghĩa quan trọng trong  
việc bảo đảm không để xảy ra việc làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và  
người phạm tội, cũng như những hành vi vi phạm quyền con người, quyền công  
dân. Thực hành quyền công tố thể hiện rõ nét nhất vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm  
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự. Cải  
cách và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tiến hành hoạt động tư pháp  
trong đó có Viện kiểm sát nhân dân là đòi hỏi có tính cấp thiết trong công tác cải  
cách tư pháp. Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính  
trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đặt ra yêu cầu  
đối với Viện kiểm sát nhân dân là: “Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt  
chức năng công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt  
động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp phải được thực hiện  
ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ  
lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội…” [5, tr. 3]. Nghị  
quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải  
cách tư pháp đến 2020 xác định: “…tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt  
động điều tra” [7, tr. 6]. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại  
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI nêu rõ: “Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để  
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và  
kiểm sát hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều  
tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” [14, tr 251]. Báo cáo chính trị của Ban  
Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII cũng chỉ rõ:  
“Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp;  
được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án; tăng cường trách nhiệm  
công tố trong hoạt động điều tra...” [15, tr. 179].  
1
Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố nói  
chung, thực hành quyền công tố ở giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với  
người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải được chú  
trọng và nâng cao chất lượng mới đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Khởi tố,  
điều tra vụ án hình sự là giai đoạn đầu và quan trọng của cả quá trình tố tụng nhằm  
xác định rõ hành vi phạm tội của tội phạm. Công tác thực hành quyền công tố ở giai  
đoạn khởi tố, điều tra thực hiện đúng theo quy định của pháp luật sẽ giúp cho Cơ  
quan điều tra hoạt động đúng hướng, khởi tố vụ án, khởi tố bị can được đúng người,  
đúng tội; hoạt động điều tra được đầy đủ, chính xác và kịp thời. Kết quả điều tra vụ  
án hình sự là điều kiện cho việc thực hiện quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư  
pháp trong giai đoạn truy tố và công tác xét xử của Tòa án theo quy định của pháp  
luật, tránh làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm. Việc nghiên cứu về thực hành  
quyền công tố ở mỗi địa phương sẽ giúp có cái nhìn toàn diện về kết quả công tác  
này. Cà Mau là một tỉnh ở cực Nam của Tổ quốc, trong những năm qua, Viện kiểm  
sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã có nhiều cố gắng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ  
được giao, đã đạt được những thành tựu đáng kể trong hoạt động thực hành quyền  
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung, thực hành quyền công tố vụ  
án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng, góp phần quan trọng vào  
việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước,  
của tập thể, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên địa bàn, phục vụ  
tích cực nhiệm vụ chính trị địa phương. Tuy nhiên, qua công tác tổng kết, đánh giá  
thực tế cho thấy, công tác thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự nói chung,  
thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với dưới  
18 tuổi phạm tội nói riêng vẫn còn bộc lộ một số yếu kém, hạn chế như: Còn để xảy  
ra oan, sai, bỏ lọt hành vi tội phạm, áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam không  
đúng quy định của pháp luật, số lượng trả hồ sơ để điều trả bổ sung còn khá nhiều…  
Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giải quyết vụ án mà  
còn ảnh hưởng đến nhân phẩm và các quyền cơ bản của người bị áp dụng biện pháp  
tố tụng, cũng như uy tín của các cơ quan thực hành quyền tư pháp nói chung, và của  
2
ngành kiểm sát nói riêng. Một trong những nguyên nhân hạn chế là do công tác thực  
hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân chưa được thực hiện chặt chẽ, có  
hiệu quả; năng lực của Kiểm sát viên còn hạn chế, ý thức trách nhiệm chưa cao; quy  
định của pháp luật ở một số trường hợp chưa được cụ thể nhưng lại không có văn  
bản hướng dẫn kịp thời.  
Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự và thực hành quyền công tố  
trong giai đoạn điều tra đã được nhiều nhà khoa học pháp lý làm sáng tỏ. Tuy nhiên,  
thực tiễn thực hành quyền công tố ở giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự  
người dưới 18 tuổi phạm tội vẫn còn là một vấn đề cần được nghiên cứu cụ thể hơn  
từ khái niệm đến đặc điểm, các giai đoạn áp dụng pháp luật và những yêu cầu cụ thể  
mà Viện kiểm sát cũng như Kiểm sát viên thực hiện. Mặc dù đã có một số công  
trình nghiên cứu liên quan về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối  
với người chưa thành niên phạm tội, nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa người  
chưa thành niên phạm tội... Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách  
có hệ thống về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án do  
người dưới 18 tuổi phạm tội trên thực tiễn của tỉnh Cà Mau. Nhằm tạo cơ sở lý luận  
và đưa ra những giải pháp thiết thực, nâng cao hiệu quả trong hoạt động thực hành  
quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra của Viện kiểm sát đối với vụ án hình  
sự có người dưới 18 tuổi phạm tội góp phần hạn chế, tiến tới ngăn chặn tình trạng  
phạm tội của đối tượng này một cách hiệu quả. Vì vậy, học viên chọn đề tài “Thực  
hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người  
dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Cà Mau” làm luận văn thạc sĩ.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội và  
trong hoạt động thực hành quyền công tố vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội đã được một số nhà khoa học và cán bộ làm công tác thực tiễn tiến hành,  
công bố trong nhiều công trình khoa học, có thể đưa ra một số công trình nghiên  
cứu như sau:  
3
Luận án tiến sĩ luật học của Vũ Thị Thu Quyên về “Pháp luật về quyền của  
người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam”, bảo vệ năm 2015, Học viện Chính trị  
Quốc gia Hồ Chí Minh; Luận án tiến sĩ luật học của Hoàng Minh Đức về: “Chính  
sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay”, bảo vệ  
năm 2016, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội; Luận văn thạc sĩ luật học của Trần  
Thị Ánh Tuyết về:“Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án  
hình sự mà bị can là người chưa thành niên”, bảo vệ năm 2016, Đại học Quốc gia  
Hà Nội; Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Thu Hoài về: “Các biện pháp  
ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn  
địa bàn tỉnh Hải Dương”, bảo vệ năm 2015, Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn  
thạc sĩ luật học của Trần Quỳnh Hoa về: “Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của  
Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với người chưa thành niên” bảo vệ năm  
2014, Đại học Luật Hà Nội...  
Sách chuyên khảo liên quan đến đề tài có: “Luật hình sự Việt Nam, phần  
chung”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014 của GS.TS. Võ Khánh Vinh (chủ  
biên); “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn  
điều tra”, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2008 của TS. Lê Hữu Thể (chủ biên); “Tập đề  
cương bài giảng tư pháp người chưa thành niên”, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,  
Hà Nội 2005 của Ngô Văn Đọn (chủ biên). Bên cạnh đó, còn có các bài báo khoa  
học nghiên cứu về lĩnh vực này được đăng tải trên các tạp chí của Trung ương như:  
“Một số vấn đề về chủ trương tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều  
tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp” của TS. Trần  
Công Phàn, Tạp chí Kiểm sát số 03/2012; “Hoàn thiện pháp luật hiện hành để tăng  
cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động  
điều tra đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” TS. Nguyễn Hồng Vinh, Tạp chí Kiểm  
sát, số 01/2013.  
Các công trình nghiên cứu trên đã khái quát được những nét cơ bản về vấn đề  
về quyền, trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội được đề cập  
dưới nhiều góc độ khác nhau của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát  
4
điều tra trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên  
biệt về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối  
với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn của tỉnh Cà Mau. Luận văn kế thừa  
một số luận điểm trong việc phân tích lý luận chung về quyền công tố và việc thực  
hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân. Trên cơ sở đó nghiên cứu sâu về  
vấn đề thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối  
với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Cà Mau.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong  
giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đánh  
giá thực tiễn thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Cà Mau,  
Luận văn đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành quyền  
công tố đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Luận văn đề ra các nhiệm vụ sau:  
- Nêu và phân tích cơ sở lý luận thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát  
trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.  
- Đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân  
hai cấp ở tỉnh Cà Mau trong giai khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới  
18 tuổi phạm tội.  
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành quyền  
công tố trong giai khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm  
tội từ thực tiễn tỉnh Cà Mau.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Luận văn nghiên cứu về thực hành quyền công tố trong khởi tố, điều tra vụ  
án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.  
5
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
Phạm vi nội dung nghiên cứu là những vấn đề cơ bản về thực hành quyền  
công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội.  
Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Cà Mau.  
Phạm vi thời gian: Từ năm 2013 đến tháng 6 năm 2018.  
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật  
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong đó, nguyên lý về sự phát triển được  
sử dụng để nghiên cứu, phân tích những thay đổi về pháp luật, về tổ chức bộ máy,  
chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân dẫn đến những thay đổi trong thực  
hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra.  
Một số quy luật của phép biện chứng như quy luật lượng - chất; các cặp phạm trù  
cái chung và cái riêng, khả năng và hiện thực được sử dụng để nghiên cứu, phân  
tích các yếu tố tác động, các điều kiện đảm bảo cho Viện kiểm sát nhân dân thực  
hành quyền công tố có hiệu quả đối với các vụ án hình sự người phạm tội dưới 18  
tuổi phạm tội.  
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận văn là:  
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để làm rõ khái niệm thực  
hành quyền công tố, đặc điểm của thực hành quyền công tố và thực trạng thực hiện  
quyền công tố đối với vụ án người phạm tội dưới 18 tuổi;  
- Phương pháp hệ thống được sử dụng để nghiên cứu chức năng thực hành  
quyền công tố, các quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố  
trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người phạm tội dưới 18 tuổi;  
- Phương pháp thống kê được sử dụng để tổng hợp các số liệu chứng minh  
cho các luận giải về thực trạng thực hành quyền công tố đối với người phạm tội  
dưới 18 tuổi.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn  
6.1. Ý nghĩa lý luận  
6
Luận văn góp phần làm rõ hoạt động thực hành quyền công tố trong giai  
đoạn khởi tố, điều tra vụ án sự hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Qua đó  
thấy được vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong bảo đảm việc thực thi pháp  
luật đúng quy định, đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm, giảm thiểu oan, sai, vi  
phạm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong tố tụng hình sự.  
6.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho  
cán bộ kiểm sát trong hoạt động tố tụng hình sự.  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:  
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn  
khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.  
Chương 2: Các quy định pháp luật Việt Nam về thực hành quyền công tố  
trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
và thực tiễn áp dụng ở tỉnh Cà Mau.  
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành  
quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18  
tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Cà Mau.  
7
 
Chương 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG  
GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI  
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI  
1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra  
vụ án hình sự  
1.1.1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố  
Theo khoa học luật tố tụng hình sự, tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của  
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá  
nhân, cơ quan, tổ chức góp phần giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp  
luật tố tụng hình sự. Trong đó, giai đoạn khởi tố vụ án là giai đoạn đầu tiên của tố  
tụng hình sự, bắt đầu khi cơ quan chức năng tiếp nhận nguồn tố giác, tin báo về tội  
phạm và kiến nghị khởi tố đến khi ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án  
hình sự. Giai đoạn điều tra là giai đoạn tiếp theo giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, khi  
cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định  
để xác định tội phạm và người phạm tội làm cơ sở cho việc truy tố, xét xử. Hoạt  
động tố tụng trong giai đoạn điều tra góp phần quan trong thực hiện mục tiêu phát  
hiện chính xác, kịp thời mọi hành vi phạm tội và người phạm tội, không để lọt tội  
phạm, không làm oan người vô tội. Giai đoạn điều tra là giai đoạn có thời gian dài  
nhất trong các giai đoạn tố tụng, do tầm quan trọng cũng như tính phức tạp của nó  
nhằm bảo đảm cho việc thu thập, kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ của vụ án.  
Trong số các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có  
chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Thực hành đầy  
đủ và đúng pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là một  
trong những yếu tố quan trọng góp phần hạn chế trả hồ sơ để điều tra bổ sung, bảo  
đảm cho việc truy tố, xét xử đúng người, đúng tội.  
Để có nhận thức đầy đủ về khái niệm “Thực hành quyền công tố”, trước hết  
cần làm rõ khái niệm “Quyền công tố”. Điều đó giúp cho việc xác định chính xác  
vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan có chức năng thực hành quyền công  
8
   
tố là Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong các cơ quan  
tham gia thực hiện quyền tư pháp nói riêng. Nhiều năm qua, trong giới nghiên cứu  
pháp lý có các quan điểm khác nhau về quyền công tố. Quan điểm thứ nhất cho  
rằng:“Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ  
phạm tội ra Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa sơ thẩm” [31,  
tr. 48]. Theo quan điểm này thì chủ thể thực hành quyền công tố là Viện kiểm sát và  
quyền này chỉ được thực hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự và phạm vi của nó  
cũng chỉ có ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Quan điểm thứ hai đồng nhất quyền công tố  
với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân, cho  
rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền  
công tố [51, tr. 85-87]. Quan điểm này không phân biệt quyền công tố với kiểm sát  
việc tuân theo pháp luật. Theo Hiến pháp năm 2013 thì Viện kiểm sát có hai chức  
năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong quá trình  
thực hiện, dù hai chức năng này có mối liên hệ chặt chẽ, đan xen, tác động qua lại  
nhưng không thể đồng nhất chúng, phủ nhận tính độc lập của chúng cả về nội dung  
lẫn phạm vi áp dụng. Bởi lẽ đó, không thể đồng nhất hai chức năng này của Viện  
kiểm sát với nhau. Quan điểm thứ ba cho rằng: “Quyền công tố là quyền nhân danh  
nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.  
Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở  
nước ta là Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối  
với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền  
công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác  
định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra  
trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa” [46, tr. 40].  
Từ những quan điểm trên đây và trên cơ sở quy định của Bộ luật Tố tụng  
hình sự năm 2015, có thể coi quyền công tố là quyền lực công, là bộ phận không thể  
tách rời của quyền lực Nhà nước, được Nhà nước giao cho cơ quan thực hành quyền  
công tố sử dụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người, pháp nhân phạm  
tội. Quyền công tố chỉ xuất hiện trong tố tụng hình sự, gắn liền với chức năng buộc  
9
tội của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quyền công tố xuất hiện từ khi có hành vi  
phạm tội xảy ra, được thể hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các  
hoạt động tố tụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người, pháp nhân bị  
nghi là phạm tội và tiến hành buộc tội trước Tòa án. Quyền công tố độc lập với  
quyền tài phán của Tòa án, quyền công tố chấm dứt khi vụ án được xét xử có bản án  
có hiệu lực hoặc vụ án được đình chỉ.  
Từ những nhận thức trên, có thể đưa ra định nghĩa như sau: Quyền công tố là  
quyền lực Nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, nhằm truy cứu  
trách nhiệm hình sự đối với người, pháp nhân phạm tội ra trước tòa án để xét xử và  
bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa.  
Do có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố nên dẫn đến các quan  
điểm khác nhau về thực hành quyền công tố. Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Thực  
hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội  
dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong  
các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử” [46, tr. 57]. Quan điểm thứ hai cho rằng:  
“Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các biện pháp do  
luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đưa người phạm  
tội ra xét xử trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó nhằm bảo đảm quyền con người,  
quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện theo Hiến  
pháp và pháp luật” [30, tr. 43].  
Quan điểm chính thức về quyền công tố được thể hiện tại Điều 3 Luật Tổ  
chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: “Thực hành quyền công tố là hoạt động  
của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của  
Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin  
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố,  
xét xử vụ án hình sự”.  
Từ những phân tích nêu trên, thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi  
tố, điều tra có thể được hiểu là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng  
hình sự thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người, pháp nhân phạm tội  
10  
được thực hiện ngay từ khi giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình  
khởi tố, điều tra vụ án hình sự.  
Đối tượng phạm tội được quy định trong luật hình sự và tố tụng hình sự hiện  
hành là người và pháp nhân phạm tội, người dưới 18 tuổi phạm tội là một bộ phận  
trong đối tượng người phạm tội. Do đó, thực hành quyền công tố đối với chủ thể  
phạm tội là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn khởi tố, điều vụ án hình sự là hoạt  
động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự thực hiện việc buộc tội của  
Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong suốt quá trình này.  
1.1.2. Phạm vi, nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố,  
điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
1.1.2.1. Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ  
án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
Khi nghiên cứu về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra  
để có cái nhìn toàn diện thì không thể bỏ qua việc tìm hiểu về phạm vi và nội dung  
của nó. Phạm vi thực hành quyền công tố là vấn đề gây nhiều bàn luận trong giới  
nghiên cứu, có quan điểm cho rằng, “Phạm vi thực hành quyền công tố ở giai đoạn  
điều tra của Viện kiểm sát được thực hiện từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc  
khi Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử hoặc khi vụ án  
được đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự” [13, tr. 23]. Quan điểm  
này xuất phát từ việc cho rằng, hoạt động truy tố của Viện kiểm sát cũng thuộc giai  
đoạn điều tra, không phải là giai đoạn độc lập.  
Để khẳng định chính xác phạm vi thực hành quyền công tố cần phải xem xét  
đến phạm vi của quyền công tố cũng như mối quan hệ giữa quyền công tố và thực  
hành quyền công tố. Như đã trình bày ở trên, khi tội phạm xảy ra được cơ quan  
chức năng tiếp nhận và tiến hành thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng  
hình sự, thì xuất hiện quyền công tố, các hoạt động phê chuẩn hoặc không phê  
chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, hủy bỏ quyết định tạm giữ; phê chuẩn, không phê chuẩn  
quyết định gia hạn tạm giữ, yêu cầu khởi tố vụ án hình sự hoặc thay đổi, hủy bỏ  
quyết định khởi tố hình sự… là hoạt động thực hành quyền công tố. Phạm vi thực  
11  
hành quyền công tố luôn gắn liền với các hoạt động của Cơ quan điều tra, cơ quan  
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, khi nào và ở đâu cơ quan  
có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành các hoạt động như: Khám nghiệm hiện  
trường, khám nghiệm tử thi, khám xét, lấy lời khai, hỏi cung bị can, ban hành các  
quyết định tố tụng..., thì khi đó Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn thực hành  
quyền công tố. Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra  
đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra. Tuy  
nhiên, không phải mọi trường hợp hoạt động điều tra đến khi kết thúc và ra bản kết  
luận điều tra đề nghị truy tố mà vụ án hình sự có thể chấm dứt sớm hơn. Trong  
trường hợp không có tội phạm, vụ án bị đình chỉ, thì cũng chấm dứt mọi hoạt động  
điều tra, theo đó quyền công tố bị triệt tiêu, trong đó có thực hành quyền công tố.  
Do quyền công tố chỉ xuất hiện trong tố tụng hình sự, không có ở các lĩnh vực khác  
như dân sự, hành chính... nên thực hành quyền công tố cũng chỉ có trong tố tụng  
hình sự.  
Từ cơ sở nêu trên, có thể cho rằng: Phạm vi thực hành quyền công tố trong  
giai đoạn khởi tố, điều tra bắt đầu từ khi cơ quan tiến hành tố tụng tiếp nhận nguồn  
tin về tội phạm và thực hiện thủ tục tố tụng hình sự đến khi có kết luận điều tra đề  
nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ vụ án hoặc đến khi có quyết định không khởi  
tố vụ án hình sự không bị khiếu nại.  
1.1.2.2. Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra  
vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
Với phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra, như  
đã xác định ở phần trên thì nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố trong  
giai đoạn này được hiểu là việc sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng nhằm đảm  
bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt  
người, lọt tội, không làm oan, sai. Theo đó, nội dung của thực hành quyền công tố  
trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự gồm: Viện kiểm sát thực hành quyền công tố  
trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm gồm các hoạt động: Phê chuẩn,  
không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp; gia hạn tạm giữ và các  
12  
biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố  
giác, tin báo về tội phạm. Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về  
tội phạm; yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự; hủy bỏ quyết định tạm  
giữ, quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết  
định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm và hủy bỏ các quyết định tố tụng  
khác trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo  
về tội phạm. Khi cần thiết đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có  
thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm. Điểm cần nhấn mạnh là theo yêu cầu  
của Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về  
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 về tăng cường trách nhiệm của công tố  
trong hoạt động điều tra, với chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn  
khởi tố vụ án hình sự, hoạt động công tố phải thực hiện ngay từ khi giải quyết tố  
giác, tin báo về tội phạm nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội.  
Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, khác với chức năng kiểm sát điều tra,  
chức năng thực hành quyền công tố thực chất là gắn trách nhiệm của Viện kiểm sát  
vào quá trình điều tra vụ án. Viện kiểm sát có quyền thực hiện các hoạt động tố tụng  
do luật quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội. Khi thực hành  
quyền công tố, Viện kiểm sát không chỉ đưa ra yêu cầu, kiến nghị như khi tiến hành  
kiểm sát hoạt động tư pháp, mà trực tiếp đi sâu vào hoạt động điều tra, thực hiện các  
hành vi và đưa ra các quyết định ảnh hưởng đến cục diện điều tra như: Yêu cầu cơ  
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi  
tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can. Phê  
chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định  
khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật. Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết  
định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can. Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt  
người bị giữ trong các trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam; áp  
dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn; hủy bỏ các  
quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan  
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Quyết định áp dụng, thay  
13  
đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế .Trực tiếp tiến hành một số  
hoạt động điều tra trong trường hợp cần thiết. Khởi tố vụ án hoặc yêu cầu Cơ quan  
điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong  
việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, trong khởi tố, điều tra  
có dấu hiệu tội phạm. Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam;  
quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa  
bệnh; hủy bỏ quyết định tách, nhập vụ án. Quyết định truy tố bị can ra Tòa nếu thấy  
đã có đủ chứng cứ chứng minh bị can phạm tội.  
Từ cơ sở nêu trên, nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố,  
điều tra có thể được hiểu là những biện pháp được pháp luật quy định để truy cứu  
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người  
phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra kịp thời, nghiêm minh, đúng người,  
đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và  
người phạm tội; bảo đảm quyền con người, quyền công dân.  
1.2. Nguyên tắc và những vấn đề cần chú ý trong thực hành quyền công  
tố ở giai đoạn khởi tố, điều tra hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án  
hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng chính là nội dung thực hành  
quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự nói chung. Tuy nhiên,  
cũng có những đặc điểm riêng do chủ thể tội phạm là người dưới 18 tuổi. Vì vậy,  
thực hành quyền công tố cũng có những những đặc điểm riêng nhằm bảo đảm  
quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi phạm tội.  
1.2.1. Nguyên tắc khi thực hành quyền công tố ở giai đoạn khởi tố, điều tra  
vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
Để bảo vệ ở mức cao nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi,  
khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát cần quán triệt  
các yêu cầu sau đây:  
14  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 90 trang yennguyen 19120 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Cà Mau", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_thuc_hanh_quyen_cong_to_trong_giai_doan_khoi_to_die.pdf