Tóm tắt Luận án Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận mô hình thẻ điểm cân bằng trong quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN  
TRẦN QUỐC VIỆT  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN  
MÔ HÌNH THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG TRONG QUẢN TRỊ  
CHIẾN LƯỢC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM  
TÓM TẮT  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ  
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh  
Mã số: 62340102  
Hà Nội, năm 2012  
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN  
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Quang Trung  
Phản biện 1: PGS, TS Bùi Quang Tuấn  
Phản biện 2: TS. Vũ Đình Hiển  
Phản biện 3: TS. Trần Kim Hào  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án chính thức tại  
Trường đại học Kinh tế quốc dân, Hà nội  
Vào hồi 16h00 ngày 22 tháng 01 năm 2013  
Có thể tìm hiểu luận án tại:  
1. Thư viện Quốc gia  
2. Thư viện trường Đại học Kinh tế Quốc dân  
1
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Sự cần thiết của nghiên cứu  
Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh đang diễn ra một cách nhanh chóng như  
hiện nay, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh  
tế nói chung là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và hết sức cấp bách  
của chính phủ Việt Nam. Trong những năm gần đây, với sự trợ giúp của chính phủ  
cũng như các tổ chức quốc tế, nhiều mô hình, công cụ quản trị doanh nghiệp hiện  
đại như: Hệ thống quản trị chất lượng ISO, quản trị theo mục tiêu (MBO); quản lý  
chất lượng toàn diện (TQM);… đã được đưa vào áp dụng và thực tế đã mang lại  
hiệu quả rất thiết thực cho các doanh nghiệp Việt Nam (DNVN).  
Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC) là công cụ quản trị được  
Giáo sư Robert S. Kaplan thuộc trường kinh doanh Harvard và David Norton - một  
nhà tư vấn nổi tiếng về quản trị doanh nghiệp cùng phối hợp đề cập, phát triển vào  
những năm đầu của thập niên 1990 và đã thực sự tạo ra cơn địa chấn trong giới  
khoa học về quản trị. Từ khi được chính thức giới thiệu (1992) đến nay, theo thống  
kê cho thấy đã có 40 quốc gia trên thế giới, một nửa trong số 1000 công ty trong  
danh sách Fortune 1000 và đặc biệt là có đến 65% doanh nghiệp tại Mỹ sử dụng  
phương pháp này. Điều này phần nào đã chứng minh được tính hiệu quả của nó.  
Ở Việt Nam, theo bản khảo sát nhanh của Vietnam Report đối với 500 doanh  
nghiệp tham dự lễ công bố VNR500 năm 2009 kết quả cho thấy chỉ có 7% đang áp  
dụng, 36% đang có dự định áp dụng và 57% chưa áp dụng.  
BSC là một mô hình mới nhưng đã được chứng minh về tính hiệu quả của nó  
trong thực tế tại nhiều quốc gia trên thế giới. Thành công của mô hình này đã thôi  
thúc các DNVN xem xét đưa vào triển khai áp dụng tại đơn vị mình. Tuy nhiên,  
theo khảo sát của Vietnam Report, thì việc triển khai ứng dụng mô hình này tại các  
doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn vướng mắc. Rào cản đầu tiên đó là  
việc chấp nhận đưa vào ứng dụng mô hình này trong doanh nghiệp. Vậy, làm thế  
nào để giúp cho các DNVN có cơ sở để xem xét chấp nhận đưa vào áp dụng mô  
hình BSC?. Xuất phát từ thực trạng và ý nghĩa đó, tác giả đã thực hiện đề tài nghiên  
2
cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận của mô hình thẻ điểm cân bằng  
trong quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp Việt Nam” với mong muốn kết quả  
của nó sẽ góp phần giúp cho các nhà quản lý đưa ra quyết định triển khai áp dụng  
mô hình BSC tại doanh nghiệp mình  
Về mặt lý luận, từ lúc được công bố cho đến nay, đã có nhiều công trình  
và hướng nghiên cứu khác nhau về BSC. Hướng nghiên cứu khá phổ biến trong  
thời gian gần đây là ứng dụng BSC trong môi trường điều kiện đặc thù nền kinh  
tế của các quốc gia khác nhau. Ý tưởng về BSC được đưa ra trên cơ sở nghiên cứu  
và thực nghiệm tại một số doanh nghiệp Mỹ. Thực tế, khi lý thuyết này được phổ  
biến rộng rãi ra các nước trên thế giới đã gặp một số khó khăn nhất định do đặc  
điểm đặc thù của các doanh nghiệp, môi trường kinh doanh ở các nước có khác  
nhau. Việt Nam với môi trường của nền kinh tế đang chuyển đổi có những đặc điểm  
khác biệt. Chính vì vậy, việc nghiên cứu ứng dụng mô hình BSC trong điều kiện  
hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam không những có ý nghĩa về thực tiễn mà còn đóng  
góp về lý luận nhằm bổ sung và làm hoàn thiện hơn nữa lý thuyết về BSC.  
2. Mục đích nghiên cứu của luận án  
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm ra giải đáp cho hai câu hỏi nghiên  
cứu chính yếu sau:  
(1) Các yếu tố chính yếu nào có tác động đến mức độ chấp nhận BSC trong  
quản trị chiến lược tại các DNVN?  
(2) Mức độ tác động cụ thể của từng yếu tố ảnh hưởng đến mức độ chấp  
nhận mô hình BSC trong quản trị chiến lược tại các DNVN?  
Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm giúp các  
nhà quản lý xem xét chấp nhận đưa vào ứng dụng cũng như nâng cao hiệu quả mô  
hình BSC trong quản trị chiến lược tại các DNVN  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả đã kết hợp sử dụng  
hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:  
3
- Nghiên cứu định tính: Trên cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu  
trước đây, tác giả đã đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Sau đó tiến hành  
khảo sát hai doanh nghiệp đã áp dụng BSC với đặc điểm ngành nghề khác nhau.  
Kết thúc bước nghiên cứu này cũng sẽ đưa ra những khám phá mới bổ sung vào mô  
hình và giả thuyết nghiên cứu sẽ được kiểm định trong phần nghiên cứu định lượng  
tiếp theo. Ngoài ra, nghiên cứu định tính giúp chuẩn hóa thước đo, bảng câu hỏi cho  
nghiên cứu khảo sát.  
- Nghiên cứu định lượng: Nhằm kiểm định giả thuyết và những khám phá đã  
được đưa ra trong phần nghiên cứu định tính. Kết quả của nghiên cứu định lượng sẽ  
xác định các yếu tố tác động, mức độ tác động của các yếu tố đến sự chấp nhận mô  
hình BSC trong quản trị chiến lược tại các DNVN.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “mức độ chấp nhận BSC trong quản trị  
chiến lược tại các DNVN”.  
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các DNVN hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận  
5. Những đóng góp mới của luận án  
Thông qua nghiên cứu của mình tác giả đã có một số đóng góp tri thức mới  
về mặt lý luận và thực tiễn quản trị kinh doanh. Cụ thể:  
Về mặt lý luận: Luận án đã có những đóng góp mới về mặt lý luận trong lĩnh  
vực quản trị chiến lược: (1) Khẳng định được sáu yếu tố tác động đến mức độ chấp  
nhận BSC trong quản trị chiến lược của các doanh nghiệp trong điều kiện của nền  
kinh tế chuyển đổi tại Việt Nam (đó là mức độ tham gia của lãnh đạo cấp cao, mức  
độ tập trung hóa, quyền lực của bộ phận tài chính sự chuẩn hóa, truyền thông nội  
bộ, và sự năng động của thị trường - sản phẩm). Đồng thời tác giả cũng đã xác định  
được mức độ tác động của từng nhân tố cụ thể. (2) Nghiên cứu đã phát hiện bộ  
thang đo gồm 3 biến số mới cho biến phụ thuộc “Mức độ chấp nhận BSC trong  
quản trị chiến lược tại các DNVN”. Phát hiện này có được từ bước nghiên cứu định  
tính và được kiểm định, đánh giá qua bước nghiên cứu định lượng.  
4
Về mặt thực tiễn: (1) Từ những kết quả chính của nghiên cứu, tác giả cho  
rằng đối với điều kiện đặc thù của Việt Nam, mô hình nghiên cứu về mức độ chấp  
nhận của BSC nên có sự thay đổi chuyển từ mức độ chấp nhận BSC sang mức độ  
ứng dụng BSC cho phù hợp. Và trong điều kiện này, yếu tố sự năng động của thị  
trường - sản phẩm có tác động đến mức độ ứng dụng nhưng không có sự tác động  
đến mức độ chấp nhận ứng dụng BSC. Ngoài ra các biến còn lại điều tác động đến  
cả mức độ chấp nhận và mức độ ứng dụng BSC. (2) Cũng từ kết quả nghiên cứu,  
tác giả đã rút ra được rằng: (1) Lãnh đạo cấp cao trong công ty đóng vai trò rất  
quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình đổi mới nói chung và chấp nhận mô hình  
BSC nói riêng; (2) Sự cân bằng về mức độ hệ thống hóa cũng như tập trung hóa  
quyền lực trong công ty tạo động lực thúc đẩy quá trình chấp nhận BSC; (3) Truyền  
thông nội bộ và mức độ ảnh hưởng của bộ phận tài chính thúc đẩy quá trình đổi  
mới, chấp nhận một mô hình quản trị mới như BSC;(4) Khả năng ứng phó với  
những thay đổi nhanh chóng của thị trường sẽ thúc đẩy mức độ chấp nhận ứng  
dụng mô hình BSC cũng như sự đổi mới nói chung.  
Đề tài cũng sẽ mở ra các hướng nghiên cứu mới về ứng dụng mô hình BSC  
tại Việt Nam như: Nghiên cứu sâu về tác động của việc áp dụng BSC lên hiệu quả  
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp; khả năng áp dụng BSC ở một số lĩnh  
vực, ngành nghề khác nhau tại Việt Nam. Trên phạm vi rộng hơn, đề tài cũng mở ra  
hướng nghiên cứu về mức độ chấp nhận BSC trong điều kiện đặc thù nền kinh tế  
của các quốc gia khác nhau trên thế giới.  
6. Bố cục của luận án  
Bố cục của luận án được chia làm sáu phần chính sau:  
Phần mở đầu  
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về thẻ điểm cân bằng  
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu  
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu  
Chương 4: Kết quả nghiên cứu  
Chương 5: Kết luận và kiến nghị  
5
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG  
1.1. Khái quát về thẻ điểm cân bằng  
1.1.1.Khái niệm về thẻ điểm cân bằng  
Các hệ thống báo cáo tài chính truyền thống cung cấp thông tin cho thấy kết  
quả hoạt động của một công ty trong quá khứ, nhưng hầu như không thể cung cấp  
thông tin về kết quả hoạt động của doanh nghiệp đó trong tương lai. Ví dụ như một  
công ty có thể giảm mức độ dịch vụ khách hàng nhằm gia tăng lợi nhuận hiện tại,  
nhưng xét về dài hạn, lợi nhuận trong tương lai có thể bị ảnh hưởng theo hướng tiêu  
cực do sự thỏa mãn của khách hàng giảm dần.  
Để giải quyết vấn đề này, vào đầu những năm 1990, Robert Kaplan thuộc  
trường Kinh Doanh Havard và David Norton đã phát triển mô hình BSC – một hệ  
thống đo lường kết quả hoạt động của công ty. Trong đó, không chỉ xem xét các  
thước đo tài chính, mà còn cả thước đo khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và  
phát triển. BSC đã được tạp chí Business Harvard Review đánh giá là một trong 75  
ý tưởng hiệu quả nhất của thế kỷ XX.  
KHÍA CẠNH VỀ TÀI CHÍNH  
Mục tiêu Thước đo Chỉ số Hành động  
KHÍA CẠNH VỀ KHÁCH HÀNG  
KHÍA CẠNH VỀ QUY TRÌNH NỘI BỘ  
TẦM NHÌN và  
CHIẾN LƯỢC  
Mục tiêu Thước đo Chỉ số Hành động  
Mục tiêu Thước đo Chỉ số Hành động  
KHÍA CẠNH ĐÀO TẠO và PHÁT TRIỂN  
Mục tiêu Thước đo Chỉ số Hành động  
Hình 1.1:Bốn khía cạnh của mô hình BSC  
Nguồn: Kaplan, R.S. và Norton, D.P. (1992)  
6
Vậy, có thể hiểu BSC là một công cụ quản trị, nó giúp cho doanh nghiệp  
thiết lập, thực hiện, giám sát, nhằm đạt được các chiến lược và các mục tiêu của  
mình thông qua việc diễn giải và phát triển các mục tiêu chiến lược thành các mục  
tiêu, chương trình hành động cụ thể dựa trên 4 khía cạnh: tài chính, khách hàng, quá  
trình hoạt động nội bộ, đào tạo và phát triển được thể hiện ở hình 1.1.  
1.2. Quá trình phát triển của lý thuyết về thẻ điểm cân bằng  
1.2.1.Lịch sử hình thành và phát triển  
Vào năm 1990, viện nghiên cứu Nolan Norton nghiên cứu từ rất nhiều công  
ty khác nhau đã chỉ ra rằng, nếu chỉ dựa vào các chỉ số đo lường tài chính, công ty  
có thể có những quyết định sai lầm. Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm nhiều giải  
pháp và cuối cùng đã chốt lại với ý tưởng về thẻ điểm. Kaplan và Norton đã đặt tên  
cho công cụ mới này là “ Thẻ điểm cân bằng” và tổng kết kết quả nghiên cứu này  
trong bài viết “ Thẻ điểm cần bằng – Những thước đo dẫn dắt hiệu suất” xuất bản  
năm 1992 trên tạp chí Havard Business Review. Khái niệm BSC được chính tác giả  
Robert S. Kaplan và David Norton phát triển liên tục trong một loạt các nghiên cứu  
tiếp theo. Việc sử dụng BSC như một hệ thống quản trị thực hiện chiến lược được  
thể hiện trong cuốn sách đầu tiên của Robert S. Kaplan và David Norton năm 1996,  
“The BSC, translating strategy into action” (Tạm dịch: thẻ điểm cân bằng – biến  
chiến lược thành hành động). Cho đến nay có thể xem đây là cuốn sách kinh điển về  
ứng dụng BSC trong triển khai chiến lược.  
Ngày nay, BSC sử dụng rộng rãi trong nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc  
các ngành nghề khác nhau. Trên phương diện tổng quan, quá trình nghiên cứu ứng  
dụng của BSC đi theo hai hướng chính đó là (1) nghiên cứu ứng dụng trong tổ chức  
phi lợi nhuận và (2) nghiên cứu ứng dụng trong tổ chức lợi nhuận.  
1.2.2.Nghiên cứu ứng dụng mô hình BSC trong các tổ chức phi lợi nhuận  
Điểm qua một số nghiên cứu điển hình cho thấy mô hình BSC kém hiệu quả  
trong các tổ chức dịch vụ xã hội phi lợi nhuận do đặc điểm của mô hình chiến lược,  
mối liên kết nhân quả và bốn khía cạnh không phù hợp với môi trường đặc biệt của  
các tổ chức dịch vụ xã hội.  
7
1.2.3.Nghiên cứu ứng dụng BSC trong các tổ chức lợi nhuận  
Khác với các tổ chức phi lợi nhuận, BSC được áp dụng rộng rãi và phổ biến  
đối với các tổ chức lợi nhuận mà cụ thể hơn là các doanh nghiệp. Các nghiên cứu về  
lĩnh vực này cũng hết sức phong phú và đa dạng. Trong đó, điển hình là những  
nghiên cứu áp dụng BSC trong các doanh nghiệp với đặc thù của những ngành nghề  
khác nhau hay là những nghiên cứu trong bối cảnh về không gian địa lý, lãnh thổ  
quốc gia khác nhau.  
1.3. Những nghiên cứu ứng dụng thẻ điểm cân bằng trong quản trị chiến lược  
tại các doanh nghiệp nước ngoài  
Từ lúc hình thành ý tưởng về mô hình BSC đến nay đã có nhiều công trình  
nghiên cứu quan trọng giúp cho việc ứng dụng BSC trong quản trị chiến lược ngày  
càng hiệu quả hơn. Các nghiên cứu đã được thực hiện nhằm làm rõ các yếu tố ảnh  
hưởng đến việc ứng dụng mô hình này trong quản trị chiến lược. Trong đó, các vấn  
đề chính được xác định là sự cần thiết của việc chuyển tải các ý đồ chiến lược thành  
mục tiêu và chương trình hành động cụ thể, truyền thông xuyên suốt trong tổ chức,  
thành lập hệ thống kiểm soát chiến lược và cách thức mà hệ thống này tương tác với  
các hệ thống quản lý khác là rất quan trọng để đảm bảo rằng một tổ chức đạt được  
mục tiêu chiến lược của mình.  
1.4. Các nghiên cứu về thẻ điểm cân bằng tại Việt Nam  
BSC du nhập và được đề cập đến nhiều tại Việt Nam vào đầu những năm  
2000 thông qua các hội thảo về triển khai ứng dụng các mô hình quản trị kinh doanh  
và một số bài báo giới thiệu về nó. Một số công ty của Việt Nam đã đi tiên phong  
trong việc áp dụng mô hình này như: tập đoàn FPT, Phú Thái, GaMi, Kinh Đô...  
Về mặt nghiên cứu, theo tìm hiểu của tác giả thì rất hạn chế. Các kết quả  
nghiên cứu hầu hết chưa có chiều sâu, chưa tìm ra được điểm thực sự mới, một số  
chỉ dừng lại ở cấp độ ứng dụng trong phạm vi hẹp của một doanh nghiệp hay mức  
độ luận văn thạc sĩ, các bài báo khoa học. Mặc dù có những hạn chế nhất định,  
những các nghiên cứu đã có những gợi mở quan trọng cho những hướng nghiên  
cứu tiếp theo.  
8
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở lý luận  
Cũng như một số công cụ quản trị khác, BSC ra đời đã làm thay đổi nhận  
thức của những nhà lãnh đạo về nhìn nhận, đánh giá hiệu quả kinh doanh và triển  
vọng phát triển của doanh nghiệp. Lý thuyết về lãnh đạo sự thay đổi nghiên cứu một  
cách đầy đủ và khá toàn diện về nội dung này. Nó là cơ sở lý luận, là nền tảng cho  
nhiều nghiên cứu ứng dụng các phương pháp, công cụ quản trị mới vào tổ chức.  
Nghiên cứu về “các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận mô hình BSC trong  
quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp Việt Nam” dựa trên nền tảng lý thuyết về  
lãnh đạo sự thay đổi và chấp nhận sự đổi mới. Tác giả đã chọn lý thuyết về “khuếch  
tán của những đổi mới” của Everett M.Roger (1995) làm nền tảng cho nghiên cứu  
của mình. Trên cơ sở phân tích cơ chế của sự lan truyền và chấp nhận sự đổi mới,  
Roger đã chỉ ra các nhóm yếu tố chính yếu có thể tác động đến quá trình này. Theo  
ông, có 3 nhóm yếu tố chính yếu: (1) Nhóm yếu tố thuộc về lãnh đạo, (2) nhóm yếu  
tố thuộc về tổ chức và (3) nhóm yếu tố thuộc về bên ngoài.  
2.2. Những nghiên cứu trước đây về tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến  
mức độ chấp nhận cũng như hiệu quả của việc ứng dụng BSC trong triển khai  
chiến lược tại các doanh nghiệp  
Mặc dù các tiếp cận trên nhiều góc độ khác nhau, nhưng kết quả của 5  
nghiên cứu cho thấy những điểm chung trong việc xác định các yếu tố ảnh hưởng  
đến chấp nhận cũng như ứng mô hình BSC như là công cụ quản trị chiến lược trong  
doanh nghiệp. Cụ thể được trình bày trong bảng 2.1  
Bảng 2.1: Tổng hợp các yếu tố tác động đến chấp nhận sự thay đổi nói chung  
và chấp nhận, ứng dụng BSC nói riêng  
Chấp nhận  
Chấp nhận, ứng dụng BSC  
sự thay đổi  
Các yếu tố  
tác động  
Jake và  
Kamme  
nsky  
Paul  
R.  
Niven  
Braam  
và  
Nijssen  
(2008)  
John,  
Everett Hendricks  
Oana  
Adriana  
(2007)  
P.Kotter Roger và cộng sự  
(1995)  
X
(1995)  
X
(2004)  
(2005) (2006)  
Tham gia của lãnh  
đạo  
X
X
X
X
9
Chấp nhận  
sự thay đổi  
Chấp nhận, ứng dụng BSC  
Các yếu tố  
tác động  
Jake và  
Kamme  
nsky  
Paul  
R.  
Niven  
Braam  
và  
Nijssen  
(2008)  
X
John,  
Everett Hendricks  
Oana  
Adriana  
(2007)  
P.Kotter Roger và cộng sự  
(1995)  
(1995)  
X
(2004)  
X
(2005) (2006)  
Sự tập trung hóa  
Quyền lực bộ phận  
tài chính  
X
X
X
X
X
X
X
X
Sự chuẩn hóa, hệ  
thống hóa  
Truyền thông nội  
bộ  
Năng động của thị  
trường  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
2.3. Phát triển mô hình nghiên cứu từ lý thuyết  
2.3.1.Mô hình nghiên cứu  
Nghiên cứu các yếu tố có ảnh hưởng đến việc chấp nhận mô hình BSC trong  
quản trị chiến lược được xây dựng trên lý thuyết của Rogers (1995) về khuyếch tán  
sự đổi mới. Rogers xác định ba bộ của các biến số ảnh hưởng đến khả năng của một  
công ty để chấp nhận một sự đổi mới: (1) đặc điểm lãnh đạo của hệ thống quản lý  
của tổ chức, (2) đặc điểm nội bộ của tổ chức và (3) các đặc tính bên ngoài. Braam và  
Nijssen (2008) đã dựa trên mô hình của Roger để đưa ra mô hình nghiên cứu về các  
yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận BSC trên hai góc độ: BSC như là một hệ  
thống đo lường hiệu suất và như một hệ thống quản lý chiến lược. Kết hợp với những  
nghiên cứu khác của Kenvin Hendricks, Laymenor và Christine Wiedman (2004),  
Paul R. Niven (2006), và Oana Adriana (2007) như đã trình bày ở phần trên (xem  
bảng 2.1) tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau (xem hình 2.1).  
2.3.2.Các khái niệm trong mô hình và giả thuyết nghiên cứu  
- Mức độ chấp nhận của BSC trong quản trị chiến lược: Trong mô hình  
được hiểu là mức độ thừa nhận và đưa vào áp dụng thông qua việc đánh giá nhận  
thức của lãnh đạo cấp cao, mức độ triển khai áp dụng BSC trong triển khai chiến  
lược tại doanh nghiệp (Braam và NIJ ssen, 2004).  
Tham gia của quản  
lý cấp cao  
10  
Roger, Kotter (1995), Niven (2006)  
Adriana, (2007), Braam & Nijssen (2008)  
Zaltman và đồng sự (1973)  
+
H1  
-
Sự tập trung hóa  
H2  
+
Roger (1995); Hendricks & cộng sự, (2004)  
Adriana, (2007), Braam & Nijssen (2008)  
Covin & Slevin (1991);  
Jaworski & Kohli (1993)  
H3  
Quyền lực của bộ  
phận tài chính  
Mức độ  
chập nhận  
của BSC  
trong quản  
trị chiến  
lược  
Roger (1995); Pfeffer (1981)  
Braam & Nijssen (2008)  
-
H4  
Sự chuẩn hóa  
Roger (1995); Niven (2006)  
Adriana, (2007), Braam & Nijssen (2008)  
Covin & Slevin, 1991  
Jaworski & Kohli, 1993  
H5  
+
Roger, 1995  
Hambrick, 1983  
Hart, 1996  
Danneels, 2002  
Braam & Nijssen (2008)  
Truyền thông nội bộ  
Roger, Kotter (1995), Niven (2006)  
Braam & Nijssen (2008)  
Jake & Kammensky(2005)  
Covin & Slevin, 1991  
+
H6  
Jaworski & Kohli, 1993  
Sự năng động của  
sản phẩm thị trường  
Roger (1995)  
Hendricks & cộng sự, (2004)  
Miller, 1998  
Mingfang & Simmerly, 1998  
Braam & Nijssen (2008)  
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu  
- Tham gia của quản lý cấp cao: Quản lý cấp cao trong mô hình được hiểu  
là các thành viên trong ban TGĐ, HĐQT công ty. Tham gia của quản lý cấp cao đề  
cập đến mức độ tham gia và tác động đến những thay đổi trong tổ chức, thuộc nhóm  
yếu tố lãnh đạo trong lý thuyết lãnh đạo sự thay đổi của Roger (1995). Sự tham gia  
của họ là một trong những yếu tố quan trọng cho quá trình thay đổi nói chung, và  
việc chấp nhận các công cụ quản lý nói riêng (Hambrick' D.C. và Mason'  
P.A,1984). Điều này cũng được áp dụng cho BSC. Do vậy, giả thuyết H1 là: mức  
11  
độ tham gia của cấp quản lý cao nhất ảnh hưởng tích cực đến việc việc chấp nhận  
BSC.  
- Sự quản lý tập trung: Việc quản lý tập trung đề cập đến số lượng các ủy  
quyền ra quyết định, các lĩnh vực được ủy quyền, số thành viên trong tổ chức được  
tham gia vào quá trình ra quyết định, thuộc nhóm yếu tố lãnh đạo trong lý thuyết  
khuếch tán sự đổi mới của Roger (1995). Việc quản lý tập trung được cho là có tác  
động rất lớn đến các quyết định chấp nhận thay đổi của tổ chức (Zaltman và Holbek'  
J, 1973). Kết quả nghiên cứu của Braam và Nijssen (2008) đã chỉ ra hai hướng tác  
động của yếu tố này: (1) Sự quản lý tập trung sẽ tác động vào yếu tố tham gia của  
quản lý cấp cao làm mạnh thêm yếu tố này trước khi nó tác động tích cực đến sự  
chấp nhận BSC; (2) Sự quản lý tập trung chính bản thân nó sẽ hạn chế việc khuyến  
khích sáng tạo, đổi mới cũng như đưa vào áp dụng các mô hình quản trị mới trong  
cán bộ nhân viên của công ty. Trong mô hình này, tác giả tập trung nghiên cứu  
hướng tác động trực tiếp của sự quản lý tập trung đến mức độ chấp nhận (theo  
hướng thứ 2 trong nghiên cứu của Braam và Nijssen (2008)). Nó có thể cản trở sự  
sáng tạo trong cán bộ nhân viên từ đó dẫn đến hạn chế sự chấp nhận sự đổi mới. Do  
đó, giả thuyết H2 là: Mức độ quản lý tập trung có ảnh hưởng tiêu cực đến việc chấp  
nhận mô hình BSC.  
- Quyền lực của bộ phận tài chính: Trong mô hình được hiểu là vai trò,  
tầm quan trọng của bộ phận tài chính so với các bộ phận khác trong công ty. Nếu bộ  
phận tài chính trong công ty đủ mạnh sẽ tạo ra quyền lực nhất định trong tổ chức do  
tính chất đặc biệt của nó là quản lý nguồn ngân sách, cũng như nắm bắt các thông  
tin quan trọng hàng đầu của công ty (Laurila' J. và Lilja' K., 2002). Quyền lực của  
bộ phận tài chính thuộc nhóm yếu tố nội bộ trong lý thuyết khuếch tán sự đổi mới  
của Roger (1995). Theo kết quả nghiên cứu của Braam và Nijssen (2008), quyền  
lực của bộ phận tài chính có tác động tích cực mức độ chấp nhận BSC như là một  
hệ thống quản trị chiến lược theo hai hướng. Đó là (1) tác động gián tiếp thông qua  
tác động tích cực lên mức độ chấp nhận BSC như là một hệ thống đo lường và (2)  
tác động trực tiếp. Trong các khía cạnh của BSC thì khía cạnh tài chính có vai trò  
12  
rất quan trọng và là mục tiêu hướng đến của nhiều khía cạnh khác. Việc vạch ra các  
mục tiêu, thước đo và chương trình hành động rõ ràng luôn nhận được sự ủng hộ  
mạnh mẽ từ bộ phận tài chính trong công ty. Vì vậy, quyền lực của bộ phận tài  
chính càng cao thì nhiều khả năng tổ chức đó dễ dàng chấp nhận áp dụng mô hình  
nhằm tạo điều kiện cho việc đo lường và thể hiện các thông số tài chính như BSC.  
Do vậy, giả thuyết H3 là: Mức độ ảnh hưởng của bộ phận tài chính ảnh hưởng  
tích cực đến việc việc chấp nhận mô hình BSC.  
- Sự chuẩn hóa: Sự chuẩn hóa đề cập đến mức độ mà các công việc trong  
tổ chức được tiêu chuẩn hóa. Nó thể hiện bằng hệ thống các quy trình, quy định  
trong tổ chức. Sự chuẩn hóa thuộc nhóm yếu tố nội bộ trong lý thuyết lãnh đạo sự  
thay đổi của Roger (1995). Nếu hệ thống này trở nên quá chặt chẽ, cứng nhắc thì  
khả năng tiếp cận với những thay đổi là rất hạn chế. Các nghiên cứu trước đây cho  
thấy rằng các công ty có sự chuẩn hóa cao sẽ hạn chế khả năng chấp nhận và thích  
ứng nhanh với mô hình quản trị (Aiken' M. và Hage' J., 1968). Do đó, giả thuyết H4  
là: Mức độ chuẩn hóa có ảnh hưởng tiêu cực đến việc chấp nhận mô hình BSC.  
- Truyền thông nội bộ: Trong mô hình này, truyền thông nội bộ được hiểu  
là mức độ mà các đơn vị, phòng ban trong một tổ chức được liên kết thông qua một  
mạng lưới truyền đạt thông tin xuyên suốt và thống nhất. Nó thuộc nhóm yếu tố nội  
bộ trong lý thuyết lãnh đạo sự thay đổi của Roger (1995). Mức độ cao của sự liên  
kết này trong tổ chức sẽ tạo thuận lợi khuếch tán những ý tưởng mới giữa các thành  
viên, và thúc đẩy quá trình thay đổi cũng như việc áp dụng những mô hình quản trị  
mới. Do đó, giả thuyết H5: Truyền thông nội bộ có ảnh hưởng tích cực đến việc  
chấp nhận BSC.  
- Sự năng động của sản phẩm – thị trường: Trong mô hình này đề cập đến  
môi trường kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoạt động, thuộc nhóm yếu tố bên  
ngoài trong trong lý thuyết lãnh đạo sự thay đổi của Roger (1995). Một môi trường  
kinh doanh cạnh tranh sẽ có tác động đến sáng kiến và năng động của doanh nghiệp  
thể hiện thông qua sự thay đổi về các hoạt động, sắp xếp lại các quá trình kinh  
doanh của mình cho phù hợp với môi trường (Meyer' A.D. và Goes' J.B., 1988). Kết  
13  
quả nghiên cứu thực nghiệm xác nhận một mối quan hệ tích cực giữa việc sử dụng  
BSC và biến động môi trường (Olson' E.M. và Slater' S.F., 2002). Do đó, giả thuyết  
H6 là: Sự năng động về sản phẩm - thị trường có ảnh hưởng tích cực đến việc chấp  
nhận BSC.  
2.3.3.Xây dựng thang đo  
Tất cả các biến được đo bằng cách sử dụng nhiều mục và các câu phát biểu  
dưới dạng Likert với thang điểm đánh giá là 5 (1 = Rất không đồng ý; 5 = Rất đồng  
ý), trừ khi có đề cập đến những vấn đề khác. Các thang đo này được các 2 chuyên  
gia tiếng anh có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh và nghiên cứu dịch xuôi và  
dịch ngược trở lại nhằm đảm bảo việc chuyển đổi về ngôn ngữ là chính xác và  
không làm thay đổi đáng kể ý nghĩa của những thang đo.  
2.3.4.Các giả thuyết của mô hình  
Căn cứ vào mô hình và những khái niệm có liên quan được trình bày ở trên,  
kết hợp với tổng quan các nghiên cứu trước đây cũng như những hiểu biết về môi  
trường, điều kiện đặc thù của các doanh nghiệp Việt Nam. Tác giả đưa ra các giả  
thuyết như sau:  
Bảng 2.3: Các giả thuyết nghiên cứu  
Giả thuyết  
Nội dung  
Tham gia của quản lý cấp cao có tác động tích cực (tác động  
dương +) đến mức độ chấp nhận BSC trong quản trị chiến lược  
Sự tập trung hóa có tác động tiêu cực (tác động âm -) đến mức  
độ chấp nhận BSC trong quản trị chiến lược  
H1  
H2  
H3  
H4  
H5  
Quyền lực của bộ phận tài chính có tác động tích cực (tác động  
dương +) đến mức độ chấp nhận BSC trong quản trị chiến lược  
Sự chuẩn hóa có tác động tiêu cực (tác động âm -) đến mức độ  
chấp nhận BSC trong quản trị chiến lược  
Truyền thông nội bộ có tác động tích cực (tác động dương +)  
đến mức độ chấp nhận BSC trong quản trị chiến lược  
Sự năng động của sản phẩm và thị trường có tác động tích cực  
(tác động dương +) đến mức độ chấp nhận BSC trong quản trị  
chiến lược  
H6  
14  
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
3.1. Thiết kế nghiên cứu  
3.1.1.Phương pháp nghiên cứu  
Sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.  
Bảng 3.1: Phương pháp nghiên cứu  
Bước Phương pháp  
Kỹ thuật  
Nghiên cứu sâu  
Phỏng vấn qua bảng  
câu hỏi  
Thời gian  
02 tháng (tháng 06 và 07/2011)  
07 tháng (tháng 08/2011 đến  
02/2012)  
1
Định tính  
2
Định lượng  
3.1.2.Quy trình nghiên cứu  
Quá trình nghiên cứu được thực hiện qua các bước: xây dựng mô hình, kiểm  
tra mô hình và thang đo, thu thập dữ liệu chính thức, phân tích nhân tố, kiểm định  
độ tin cậy, kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu.  
3.2. Nghiên cứu định tính  
Việc lựa chọn 2 công ty dựa trên tiêu chí là đã từng áp dụng BSC trong quản  
trị chiến lược, một công ty đại diện cho lĩnh vực sản xuất và một công ty đại diện  
cho lĩnh vực thương mại. Phương pháp nghiên cứu định tính được áp dụng tại 2  
công ty và tuần tự các bước triển khai là như nhau. Trước hết tác giả tiến hành thu  
thập những tài liệu, hồ sơ có liên quan đến quá trình ứng dụng BSC. Sau đó đã thực  
hiện các cuộc phỏng vấn sâu với 3 đối tượng (1) đại diện lãnh đạo công ty, (2)  
người trực tiếp triển khai mô hình BSC và (3) là người ứng dụng trực tiếp.  
3.2.1.Kết quả nghiên cứu định tính  
Quá trình nghiên cứu 2 công ty rút ra những điểm sau:  
(1) Nhóm yếu tố thuộc về đặc điểm của lãnh đạo: Trong cả hai tình huống  
đều cho thấy, vai trò của lãnh đạo công ty có tác động tích cực và rất quan trọng đến  
mức độ chấp nhận cũng như triển khai mô hình BSC. Bên cạnh đó, mức độ phân  
quyền cao đã tạo điều kiện cho việc hưởng ứng của các cấp quản lý trong trong việc  
quyết định ứng dụng một mô hình quản trị mới.  
(2) Nhóm yếu tố thuộc về đặc điểm nội bộ của tổ chức: Ở cả hai tình huống,  
vai trò của bộ phận tài chính với quyền lực cao trong công ty đã có tác động đến  
15  
việc xây dựng hệ thống đánh giá và điều đó đã ảnh hưởng tích cực đến sự chấp nhận  
mô hình BSC. Bên cạnh đó, quá trình tìm hiểu, đánh giá mức độ tác động của việc  
truyền thông rộng rãi và thông suốt giữa các phòng ban cũng tạo nhiều điều kiện  
thuận lợi cho việc chấp nhận mô hình. Ngược lại, trường hợp tại NKD cho thấy việc  
áp dụng một hệ thống quy trình quy định quá chặt chẽ, mức độ chuẩn hóa cao đã  
gây ra những khó khăn nhất định trong việc đưa vào áp dụng mô hình BSC.  
(3) Nhóm yếu tố thuộc về đặc điểm bên ngoài: Trong cả hai trường hợp được  
nghiên cứu đều cho thấy những yếu tố thuộc về đặc điểm bên ngoài như mức độ  
cạnh tranh, tính năng động của thị trường có những ảnh hưởng nhất định thúc đẩy  
công ty ứng dụng những mô hình quản trị mới.  
(4) Phát hiện mới: Trong khi tìm hiểu về các mức độ chấp nhận BSC trong  
quản trị chiến lược tại hai tình huống, tác giả đã nhận thấy rằng có sự khác biệt nhất  
định giữa mô hình được đề xuất từ lý thuyết và khảo sát thực tế tại doanh nghiệp.  
Theo đó, trong cả 2 trường hợp mức độ chấp nhận thể hiện ở 3 cấp độ đó là (1) áp  
dụng những ý tưởng của BSC trong quản trị chiến lược, (2) áp dụng một cách rộng  
rãi ở tất cả các phòng ban, đơn vị, cá nhân và (3) đã ứng dụng công nghệ thông tin  
vào hỗ trợ cho việc triển khai ứng dụng mô hình BSC.  
3.3. Các khái niệm nghiên cứu và thang đo  
Phần này tác giả sẽ trình bày khái niệm nghiên cứu và thang đo của các biến  
độc lập và biến phụ thuộc có trong mô hình nghiên cứu đã xây dựng. Đó là: (1) Sự  
tham gia của quản lý cấp cao – ký hiệu QLC; (2) Sự tập trung hóa – ký hiệu là  
TTH; (3) Quyền lực của bộ phận tài chính – ký hiệu là QTC; (4) Sự chuẩn hóa – ký  
hiệu là SCH; (5) Truyền thông nội bộ - ký hiệu là TTN; (6) Sự năng động của sản  
phẩm và thị trường – ký hiệu là NST và (7) Mức độ chấp nhận BSC trong quản trị  
chiến lược – ký hiệu là MCN. Các biến được trình bày dựa trên mô hình và thang  
đo được xây dựng từ cơ sở lý luận, các nghiên cứu trước đây và được chỉnh sửa  
từng biến qua bước nghiên cứu định tính.  
Thang đo sử dụng là các thang đo đa biến (multi-item scale) để đo các khái  
niệm chính. Các thang đo đa biến được áp dụng trong nghiên cứu này đã được  
16  
chứng minh là phù hợp với tiêu chuẩn về độ giá trị và độ tin cậy bởi những nghiên  
cứu trước đó. Các biến quan sát sử dụng cho các khái niệm trong mô hình được đo  
bằng thang đo Likert 5 điểm  
3.4. Nghiên cứu định lượng chính thức  
3.4.1.Thiết kế bảng câu hỏi trong nghiên cứu định lượng  
Bảng câu hỏi trong nghiên cứu này được thiết kế lần đầu dựa trên kết quả  
nghiên cứu thứ cấp. Cụ thể là cơ sở lý luận và những nghiên cứu trước đây. Sau đó  
tác giả đã đưa ra thảo luận trong nghiên cứu định tính và tiến hành chỉnh sửa lần 1.  
Trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức tác giả đã tiến hành thử (Pilot) trên mẫu  
nhỏ (15 mẫu) để kiểm tra lại lần cuối và tiến hành chỉnh sửa điều chỉnh lần 2.  
3.4.2.Thiết kế mẫu  
Mẫu trong nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu phi  
xác suất mà cụ thể là chọn mẫu theo phương pháp phán đoán. Theo phương pháp  
này, tác giả đã tập trung khảo sát các DNVN là thành viên của VCCI. Đây là tổ  
chức đại diện cho các DNVN, được tổ chức theo những chuẩn mực chung của các  
nước trên thế giới. Các thông tin về DNVN ở đây là khá đầy đủ và có độ tin cậy  
cao. Ngoài ra, các DNVN là thành viên của VCCI hội đủ các loại hình sở hữu, hình  
thứ kinh doanh, ngành nghề họat động và các vùng miền trong cả nước. Mỗi doanh  
nghiệp chỉ có 1 mẫu đại diện.  
3.4.3.Thu thập dữ liệu  
Việc thu thập dữ liệu được thực hiện bằng phương pháp khảo sát qua thư.  
Tác giả đã thiết kế bảng câu hỏi online với công cụ hỗ trợ nghiên cứu, điều tra  
Google Docs. Bảng câu hỏi được tác giả đưa lên mạng qua địa chỉ:  
Vk9FbDNOdDRfckE6MQ. Tổng số DNVN được khảo sát là 9.436. Tác giả đã gửi  
thư qua email, kèm theo những chỉ dẫn cụ thể để các doanh nghiệp dễ dàng trong  
việc trả lời. Ngoài ra, để tăng tỷ lệ trả lời, tác giả đã thực hiện một số phương thức  
bổ trợ như: điện thoại nhắc trực tiếp đến các doanh nghiệp, thông tin thông qua các  
cuộc hội thảo, đào tạo do VCCI tổ chức,…  
17  
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
4.1. Thống kê mô tả mẫu  
Kết quả thu thập phiếu điều tra được thể hiện ở bảng 4.1.  
Bảng 4.1: Kết quả thu thập phiếu điều tra  
Số lượng Số lượng Tỷ lệ  
Đối tượng  
Hình thức  
gửi đi  
phản hồi (%)  
Các DNVN là Gửi thư qua email, các doanh  
hội viên của  
VCCI  
nghiệp trả lời online bằng cách  
điền vào bảng câu hỏi.  
9.436  
259 2,74%  
Về kết quả sàng lọc phiếu điều tra, trong tổng số 259 phiếu thu thập được,  
sau khi kiểm tra, tác giả đã loại bỏ 53 bản trả lời không hợp lệ và giữ lại 206 bản để  
đưa vào xử lý (chiếm tỷ lệ 80%). 53 bản trả lời bị loại chủ yếu thuộc vào những  
trường hợp trùng lắp công ty hoặc thiếu thông tin ở những câu hỏi bắt buộc.  
Trên cơ sở tổng hợp các kết quả phản hồi từ phiếu khảo sát, luận án đã trình  
bày kết quả thống kê mô tả dựa trên các tiêu chí thống kê như: Tiêu chí phân theo  
loại hình hoạt động chính yếu, phân loại theo loại hình doanh nghiệp, phân theo vốn  
điều lệ, phân theo quy mô lao động,….  
4.2. Kiểm định dạng phân phối của các thang đo  
Kết quả thực hiện các phép tính thống kê cho thấy: các giá trị nhỏ nhất (Min)  
và lớn nhất (Max) của các thang đo nằm trong khoảng 1 đến 5, điều này hàm ý  
không có giới hạn về mặt biến động đối với các thang đo được sử dụng. Các giá trị  
này dao động quanh giá trị cân bằng 3.2. Giá trị sai số chuẩn xoay quanh 1.3. Cuối  
cùng, hai giá trị tuyệt đối của Skewness và Kurtosis nằm trong giới hạn cho phép,  
tương ứng là nhỏ hơn 3 và 5. Những kết quả này dẫn đến kết luận là các thang đo có  
phân phối chuẩn, đảm bảo yêu cầu thực hiện các kiểm định và phân tích tiếp theo ở  
các phần sau.  
4.3. Kiểm định giá trị của biến  
Do biến chấp nhận BSC_MCN’ được phát triển từ nghiên cứu định tính được  
đo bởi 3 thang đo khác với biến chấp nhận BSC_MCN được phát triển từ lý  
thuyết. Do vậy, trước khi tiến hành kiểm định giá trị của biến, chúng ta cần phải  
18  
kiểm định tính độc lập của 2 biến này, xem đó thực sự là 2 biến khác nhau hay chỉ  
là 1 biến nhưng được đo bởi 6 thang đo. Giá trị của các biến được kiểm định bằng  
thống kê cơ bản là Factor Loadings. Sáu thang đo được chiết xuất thành hai nhân  
tố với tổng giải thích biến động các thang đo đó là 82,47% và giá trị Eigenvalues  
>1. Giá trị KMO và Bertlett của kiểm định mức độ chấp nhận BSC_ MCN và  
BSC_MCN’ là 0.784 (>0.5) . Ngoài ra, các giá trị Factor Loadings đều lớn hơn  
0.5. Do vậy, hai biến mức độ chấp nhận BSC_MCN và BSC_MCN’ hoàn toàn độc  
lập với nhau, nói cách khác đây là 2 biến khác nhau.  
Tiến hành kiểm định giá trị của biến trong cả hai trường hợp đều cho thấy  
kết quả của các giá trị KMO và Bertlett đều đạt yêu cầu. Ngoài ra, các giá trị  
Factor Loadings đều lớn hơn 0.5. Các kết quả trên dẫn đến kết luận là các thang  
đo đều có giá trị cao khi được sử dụng để đo biến tương ứng, thỏa mãn các điều  
kiện để tiến hành thực hiện các bước tiếp theo.  
4.4. Đánh giá độ tin cậy của thang đo  
Kiểm định độ tin cậy là kiểm định liệu các thang đo có phù hợp với biến tương  
ứng không. Phương pháp thống kê được sử dụng để kiểm định độ tin cậy là hệ số  
Cronbach’Alpha. Kết quả kiểm định cho thấy tất cả giá trị Cronbach’s alpha đều  
lớn hơn giá trị yêu cầu là 0.7. Thêm vào đó hầu hết các giá trị về Cronbach’s Alpha  
of Item Deleted đều thấp hơn giá trị Cronbach’s Alpha và giá trị Corrected Item-  
Total Correlation đều lớn hơn 0.3. Do đó, các thang đo trong nghiên cứu này có độ  
tin cậy cao.  
4.5. Kiểm định hệ số tương quan  
Các giá trị hệ số tương quan được tính toán đều nằm trong khoảng từ 0 đến  
0.8. Do vậy, mối quan hệ giữa các biến có ý nghĩa và hầu hết không có dấu hiệu  
bất thường, có thể tiếp tục sử dụng những thống kê khác để kiểm định mối quan  
hệ này. Cụ thể, các biến ‘tập trung hóa’ và ‘ sự chuẩn hóa’ có quan hệ tỷ lệ nghịch  
với các biến khác. Trong khi các biến có quan hệ tỷ lệ thuận với nhau.  
4.6. Kiểm định giả thuyết  
Quá trình kiểm định sẽ được tiến hành lần lượt với hai biến độc lập khác  
nhau: Mức độ chấp nhận BSC_MCN được rút ra từ tổng quan lý thuyết và biến Mức  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 14040 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận mô hình thẻ điểm cân bằng trong quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_cac_yeu_to_anh_huong_den_muc_do_chap_nhan_mo.pdf