Tóm tắt Luận văn Thế giới nghệ thuật thơ Phạm Phú Thứ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƢƠNG THỊ MINH THỨC  
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ  
PHẠM PHÚ THỨ  
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam  
Mã ngành: 60 22 01 21  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ  
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  
Đà Nẵng - Năm 2015  
Công trình được hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN PHONG NAM  
Phản biện 1: TS. HÀ NGỌC HÒA  
Phản biện 2: TS. NGÔ MINH HIỀN  
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt  
nghiệp Thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn họp tại Đại học Đà Nẵng  
vào ngày 5 tháng 12 năm 2015  
Có thể tìm hiểu luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Phạm Phú Thứ là người học giỏi, liên tục đỗ đầu ở các kỳ thi  
Hương và thi Hội. Ông được giao giữ nhiều chức vụ dưới hai triều  
vua Thiệu Trị và Tự Đức. Con người tài hoa, đầy nghị lực và khí  
phách này của đất Quảng Nam đã để lại cho đời một di sản thơ văn  
đồ sộ, có nhiều giá trị.  
Thế nhưng do sự hạn chế về văn tự nên phần lớn tác phẩm  
của ông chưa được nghiên cứu có hệ thống và chiều sâu. Phải đến  
gần đây, khi NXB Đà Nẵng phát hành bộ sách “Phạm Phú Thứ toàn  
tập”, những người yêu mến thơ văn của ông mới có điều kiện tiếp  
xúc một cách khá đầy đủ.  
Thơ văn của Phạm Phú Thứ chứa đựng những giá trị lớn lao  
cả về mặt lịch sử, văn hóa và văn học. Đây là cơ sở để chúng tôi đi  
sâu tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ ca của Phạm Phú Thứ - người  
được học giới đánh giá là viết nhiều sách nhất ở thế kỷ XIX. Chúng  
tôi cũng muốn qua đây khẳng định vị thế của ông trong tiến trình  
văn học dân tộc buổi giao thời.  
2. Lịch sử vấn đề  
Phạm Phú Thứ là một học giả có tiếng, một trong những  
nho sĩ có tư tưởng tiến bộ nhất thời bấy giờ. Do vậy, tên ông  
được nhắc đến trong các tài liệu Hán văn và quốc ngữ khá sớm.  
Nhưng những nghiên cứu đánh giá về ông nhìn chung đều rất  
hạn chế.  
Chúng tôi nhận thấy tình hình nghiên cứu về Phạm Phú  
Thứ được chia thành hai hướng. Thứ nhất là hướng tìm hiểu,  
khảo cứu về văn bản tác phẩm của Phạm Phú Thứ mà Nguyễn  
2
Hoàng Thân là tác giả nghiên cứu nhiều nhất tính đến hiện tại và  
thứ hai là những nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp, nội dung  
thơ văn của ông. Mảng này khá đa dạng. Phạm Phú Thứ được đề  
cập ở nhiều phương diện khác nhau như cuộc đời, sự nghiệp  
chính trị; tác phẩm thơ văn với những đặc điểm về nội dung và  
nghệ thuật… Tuy nhiên khi nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có  
ba nhóm tài liệu liên quan đến Phạm Phú Thứ. Cụ thể:  
- Nhóm tài liệu giới thiệu về Phạm Phú Thứ trong các  
bộ sách, tài liệu có tính chất công cụ tra cứu: những tài liệu này  
cung cấp những thông tin khái quát, sơ giản về một danh nhân.  
Chính vì vậy mà nội dung chỉ giới hạn trong việc cung cấp  
những nét sơ lược về tiểu sử, sự nghiệp và trước tác của Phạm  
Phú Thứ.  
- Nhóm tài liệu phong phú hơn cả là các nghiên cứu triều  
Nguyễn hoặc liên quan đến triều Nguyễn (gồm chữ Hán và chữ  
quốc ngữ) trong đó tài liệu chữ quốc ngữ là chủ yếu, nhóm tài  
liệu này đưa ra những nhận định về Phạm Phú Thứ rất khác  
nhau.  
- Nhóm tài liệu, công trình có tính chất chuyên khảo về  
tác phẩm của Phạm Phú Thứ.  
Ngoài những tài liệu về Phạm Phú Thứ như đã kể trên  
còn có một số bài viết trên các báo, tạp chí liên quan đến cụ.  
Có thể thấy, nhìn chung tình hình nghiên cứu về Phạm  
Phú Thứ vẫn còn ít, thiếu hệ thống. Đa số những gì mà giới  
nghiên cứu quan tâm từ trước tới nay chủ yếu tập trung vào một  
vài mảng, một số vấn đề nổi trội trong cuộc đời, sự nghiệp chính  
trị của Phạm Phú Thứ; chẳng hạn như tư tưởng canh tân, nhà văn  
hóa, chính trị; những nhận định, đánh giá ông trên phương diện  
3
con người, lịch sử và văn hóa. Riêng lĩnh vực văn chương, di sản  
tác phẩm của Phạm Phú Thứ tuy có được đề cập nhưng chỉ ở  
một vài khía cạnh như vấn đề văn bản, nhận định chung chung  
chứ chưa có những nghiên cứu sâu sắc, đầy đủ. Đặc biệt là  
những giá trị độc đáo trong thơ Phạm Phú Thứ vẫn còn chưa  
được nghiên cứu. Đây sẽ là nhiệm vụ mà chúng tôi đặt ra để giải  
quyết trong luận văn này.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu  
Luận văn của chúng tôi đi sâu nghiên cứu thế giới nghệ thuật  
thơ Phạm Phú Thứ, bao gồm hệ thống các hình tượng; chủ thể trữ  
tình; các phương thức nghệ thuật mà tác giả sử dụng để thể hiện  
trong các tác phẩm.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Phạm Phú Thứ có một khối lượng tác phẩm rất đồ sộ, đa  
dạng. Ở đây chúng tôi chỉ giới hạn trong phạm vi các bài thơ chữ  
Hán trong Phạm Phú Thứ toàn tập do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn  
hành năm 2014.  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Để tiến hành nghiên cứu đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Phạm  
Phú Thứ, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:  
- Phương pháp phân tích, tổng hợp:  
- Phương pháp so sánh, đối chiếu  
- Phương pháp phân loại thống kê  
5. Bố cục của luận văn  
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được  
triển khai trong 3 chương; với các tiêu đề cụ thể như sau:  
4
Chương 1: Cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Phú Thứ.  
Chương này dành để giới thiệu về tiểu sử, sự nghiệp chính trị và sự  
nghiệp văn học của tác giả.  
Chương 2: Nét đặc sắc của hình tượng nghệ thuật trong thơ  
Phạm Phú Thứ. Đây là chương phân tích đặc điểm hình tượng nhà  
thơ, hình ảnh quê hương trong thơ Phạm Phú Thứ.  
Chương 3: Phương thức thể hiện thế giới nghệ thuật thơ  
Phạm Phú Thứ. Chương này đề cập đến một số phương thức, thủ  
pháp nghệ thuật chủ yếu mà tác giả đã sử dụng trong tác phẩm của  
mình.  
5
CHƢƠNG 1  
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA PHẠM PHÚ THỨ  
1.1. CUỘC ĐỜI PHẠM PHÚ THỨ  
1.1.1. Tiểu sử  
Theo các nhà nghiên cứu, tổ tiên Phạm Phú Thứ vốn là  
người miền Bắc, sau đó di cư vào xứ Quảng lập nghiệp. Dòng họ  
ông ban đầu chỉ là những người lao động bình thường, có tiếng  
đức hạnh. Về sau, nhờ siêng năng đèn sách dòng họ này có nhiều  
người đỗ đạt, giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình  
phong kiến.  
Phạm Phú Thứ sinh năm 1921, mất năm 1882 tuổi vì bệnh  
tật. Ông có các tên Hào (Hào Kiệt), tự Thúc Minh; Thứ (rộng  
lượng). Sau này, vua Thiệu Trị đổi lại chữ cho ông, vẫn là Thứ  
(nhưng có nghĩa là đông đúc), tên tự là Giáo Chi (dạy người). Ông  
có nhiều tên hiệu, biệt hiệu như Trúc Đường, Giá Viên, Trúc Ẩn,  
Giang Thụ Sào, Nông Giang Điếu Đồ. Khi mất ông được vua Tự  
Đức ban tên thụy là Văn Ý Công.  
Từ nhỏ ông đã thông minh, ham học, là một trong những  
học trò giỏi của Thương Sơn. Ông thi đỗ Tiến sĩ năm 21 tuổi. Do  
đỗ đầu hai kỳ thi nên ông được gọi là vị “song nguyên” của  
Quảng Nam. Sau khi đỗ đại khoa, con đường quan lộ mở ra trước  
mắt ông với đầy những thăng trầm. Ông có 18 lần thay đổi vị trí,  
4 lần bị giáng chức (trong đó 1 lần đi làm khổ sai). Thế nhưng  
trong công việc ông vẫn luôn hết lòng vững dạ, tận tụy, trung  
hiếu. Ông là người có đầu óc canh tân, khao khát được học hỏi  
và vận dụng kiến văn vào thực tế đời sống. Khi mất ông được  
6
vua Tự Đức truy phục thực thụ hàm nhất phẩm với tước Vinh  
Lộc đại phu Trụ quốc Hiệp biện Đại học sĩ.  
1.1.2. Sự nghiệp chính trị của một Nho thần  
Nửa cuối thế kỷ 19, đất nước ta rơi dần vào tay thực dân  
Pháp. Khi đó toàn bộ vua quan triều Nguyễn, trong đó có Phạm  
Phú Thứ bị coi là những kẻ có tội với đất nước, dân tộc. Nhận  
thức trên, đã dần trở thành quan điểm “chính thống” chi phối  
nhiều sách giáo khoa và giáo trình cho đến nay. Đây là một sự  
đánh giá không khách quan. Bởi trong hàng ngũ phong kiến triều  
Nguyễn vẫn có những con người nghĩa dũng như vua Hàm Nghi,  
như đại thần Tôn Thất Thuyết và phong trào Cần Vương do các  
thủ lĩnh là quan lại, sĩ phu phong kiến đứng đầu.  
Ông gởi gắm tâm sự của bản thân qua sự cảm thông với  
cụ Phan Thanh Giản. Ông cũng từng xin vua về quê theo cậu là  
tham tri Phạm Hữu Nghi tổ chức đánh Pháp. Nhưng cuối cùng  
ông vẫn theo chủ trương vị quân vương của mình bởi đạo lý  
trung quân mà ông đã thấm nhuần sâu sắc.  
Nay khi đã có một độ lùi nhất định của thời gian, chúng ta  
đã đủ bình tĩnh để đánh giá khách quan về triều Nguyễn. Ta chấp  
nhận nhiều cách hành xử và biểu hiện khác nhau về lòng yêu  
nước của một bộ phận Nho sĩ triều Nguyễn. Dám nhìn thẳng vào  
sự thật, mở lòng để đón nhận những luồng văn minh từ bên ngoài  
vào hướng đến việc canh tân đất nước. Ông luôn là người nhiệt  
tình ủng hộ và quảng giao với bạn bè đặc biệt là những người  
cùng chung chí hướng và hết lòng vì nước, vì dân.  
Thơ không chỉ là nơi ông truyền đạo l , nói chí, tỏ lòng,  
chia sẻ kiến thức mà ta còn thấy nơi đó hình ảnh một vị quan,  
gần gũi, giản dị, rất đời thường với muôn vàn lo toan.  
7
1.2. TÁC PHẨM CỦA PHẠM PHÚ THỨ  
Phạm Phú Thứ dụng bút ở rất nhiều thể loại: thơ, chương  
tấu, phú, biểu luận, bi minh, hành thuật.  
1.2.1. “Giá Viên văn thảo”  
Trong Phạm Phú Thứ toàn tập phần này có 13 tập văn được  
viết với nhiều thể loại khác nhau như tấu chương (Quyển  
14,15,16,17); Phú - Biểu - Luận (Quyển 18); Bi minh - Hành thuật  
(Quyển 19); Phúc duyệt - Ngự chế thi văn (Quyển 20); Đối liên  
(Quyển 21); Ký - Tự - Duyệt - Bình - Sách vấn - Di văn (Quyển 22);  
Kỳ tế văn (Quyển 23); Thư - Khải - Tự - Bạt (Quyển 24); Thư -  
Khải; Thư - Khải - Tự - Đề (Quyển 25).  
1.2.2. “Giá Viên thi thảo”  
Trong Phạm Phú Thứ toàn tập thì thơ chiếm gần 2 phần và  
được xếp trong 13 quyển với thứ tự thời gian, ứng với những chặng  
đường quan trường và cuộc sống của Phạm Phú Thứ.  
Tập thơ Ứng chế thi thảo gồm 68 bài, gồm các bài thơ mà  
Phạm Phú Thứ vâng mệnh họa thơ với nhà vua.  
Tập Bắc hành thi lục gồm 82 bài, là tập thơ tập hợp những  
bài được viết ghi lại cảm xúc dâng tràn trong thời gian làm quan nơi  
phương Bắc.  
Nông Giang thi lục gồm 29 bài, được viết khi Phạm Phú Thứ  
bị đày làm phu ở trạm Thừa Nông. Đây cũng là quãng thời gian  
Phạm Phú Thứ bị thất sủng, bị quở phạt vì trái ý vua.  
Tập thơ Đông hành thi lục gồm 89 bài, được viết khi Phạm  
Phú Thứ bước đầu quay trở lại quan trường. Trong chuyến đi công  
cán qua Quảng Đông, ông được giữ chân sai việc vặt trên thuyền.  
Trong tổng số 13 quyển của Giá Viên Thi thảo thì có đến 5  
quyển (5,7,9,10,11) được gộp dưới một tên gọi chung là Kinh hương  
8
thi lục với 314 bài. Nơi đây ghi lại nhiều kỷ niệm, cảm xúc, trải dài  
suốt quãng thời gian làm quan của Giá Viên.  
Nam hành thi lục là tập hợp 27 bài thơ được Phạm Phú Thứ  
sáng tác khi làm quan ở tỉnh Quảng Ngãi. Nội dung chính nói về sự  
kiện “đánh giặc Đá Vách”.  
Tập thơ Hàm thành thi lục gồm 88 bài, tập thơ nói nhiều đến  
sự kiện nước nhà mở cửa giao thương cùng Pháp qua cảng Hải  
Phòng. Tập thơ như một tập bút ký, ghi lại những diễn biến của một  
thời kỳ lịch sử.  
Tập Tĩnh hậu thi lục là những dòng thơ Phạm Phú Thứ viết  
lúc cuối đời. Tập thơ này gồm 89 bài. Trong tập thơ này, cái đau ốm,  
bệnh tật của ông lão vườn mía cứ như lặp đi lặp lại đến nao lòng  
người đọc, tạo nên một sự ám ảnh trong khắp không gian.  úc này,  
ông vẫn trăn trở, nghĩ suy về thời cuộc, về vận nước, người dân.  
1.2.3. “Giá Viên biệt lục”  
Giá Viên biệt lục (nguyên đề Tây hành nhật ký) là tập văn  
xuôi bằng chữ Hán ghi lại chuyến hành trình của sứ bộ nước ta sang  
Pháp và Tây Ban Nha để xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ  
mà Pháp đã chiếm đóng. Chuyến đi dài gần một năm. Đây là cuốn  
sách do Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản cùng  
viết, trong đó Phạm Phú Thứ giữ vai trò biệt lục (tức là sưu tập,  
chỉnh lý, cắt chọn để hoàn thiện tác phẩm).  
Ngoài Giá Viên văn tập, Giá Viên thi tập, Giá Viên biệt lục,  
Phạm Phú Thứ còn biên soạn một số sách phương Tây như Bác vật  
tân biên, Hàng hải kim châm, Khai môi yếu pháp, Vạn quốc công  
pháp…..  
9
1.3. ĐÓNG GÓP CỦA PHẠM PHÚ THỨ ĐỐI VỚI VĂN HỌC  
1.3.1. Một tác giả có bút lực dồi dào  
Thế kỷ XIX được coi là giai đoạn có những chuyển biến  
quan trọng, thời gian này cũng xuất hiện nhiều cây bút tài năng,  
có vị trí quan trọng trên văn đàn. Chẳng hạn như Đặng Huy Trứ,  
người có khối lượng tác phẩm rất đồ sộ với “12 tập thơ với hơn  
1200 bài, 4 tập văn và 1 tập hồi ký - đó là số lượng tác phẩm lớn  
bậc nhất của một tác gia trong lịch sử Văn học Việt Nam thời  
trung đại".  
Tuy vậy, căn cứ vào số liệu công bố trong sách “Phạm  
Phú Thứ toàn tập”, năm 2014 do Nhà  uất bản Đà Nẵng thực hiện  
thì di sản văn học của Phạm Phú Thứ cũng không kém. Ông có 13  
tập thơ (với 817 bài thơ), chương tấu 55 bài, Phú - Biểu - Luận:  
18 bài, Bi minh - Hành thuật: 8 bài, Phúc duyệt - Ngự chế thơ  
văn: 14 bài, Đối liên: 143 câu, Ký - Tự - Duyệt - Bình - Sách vấn  
- Di văn: 11 bài, Kỳ tế văn: 40 bài, Thư - Khải - Tự - Bạt: 64 bài,  
Thư - Khải: 34 bài, Thư - Khải - Tự - Đề: 48 bài. Bên cạnh đó  
Phạm Phú Thứ còn viết Giá Viên biệt lục (tức Tây hành nhật ký -  
3 quyển) và nhiều tác phẩm lẻ khác không đưa vào tập... Với dung  
lượng tác phẩm dồi dào như vậy, có thể thấy được sức lao động  
nghệ thuật miệt mài của cụ Giá Viên.  
Chúng ta có thể khẳng định cụ là một trong những tác giả  
có bút lực dồi dào nhất trong thế kỷ XIX và đấy cũng là điều đầu  
tiên cần nhắc đến khi đề cập đến vị thế của ông đối với lịch sử  
văn học dân tộc.  
1.3.2. Tác phẩm có giá trị trên nhiều phƣơng diện  
Có thể nói tác phẩm của Phạm Phú Thứ đã đề cập được  
nhiều mặt của đời sống, của lịch sử xã hội Việt Nam trong một  
10  
giai đoạn đặc biệt. Những gì mà ông đã ghi chép lại trong tác  
phẩm của mình cho thấy một khả năng bao quát, bám sát thực tế  
đáng kinh ngạc của ông  
Xét về phương diện thơ ca, đóng góp của của Phạm Phú  
Thứ cũng rất quan trọng. Ông có nhiều bài thơ hay, đề cập, phản  
ánh nhiều nội dung. Trong đó, mảng đề tài “ngôn chí”, “thù tạc”,  
“tống biệt” được coi là thành công hơn cả. Qua những bài thơ  
này, tấm lòng, tình cảm của ông đối với người thân, bằng hữu  
được bộc lộ rõ ràng.  
Ta thấy rằng, tác phẩm của Phạm Phú Thứ có rất nhiều giá  
trị, rất hữu ích cho đời sau trong việc tiếp cận với lịch sử và văn  
hóa dân tộc.  
1.3.3. Những cách tân trong văn thơ  
Nói đến Phạm Phú Thứ, một điều cần được khẳng định là  
sự nhạy bén với cái mới mẻ, tiến bộ của ông. Bên cạnh sự trung  
thành của mình với những quan niệm “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ  
ngôn chí” trau chuốt trong câu chữ, sử dụng kỹ thuật và lối viết  
của người  ưa thì trong tác phẩm của ông ta cũng nhận thấy  
những sự thay đổi rất quan trọng trong tư tưởng. Càng về sau, thơ  
văn của ông càng mang nhiều   nghĩa thực tiễn. Ông dùng thơ văn  
để tác động đến nhà vua, truyền bá tư tưởng canh tân của mình.  
Điều đặc biệt trong tác phẩm của Phạm Phú Thứ đó là lần  
đầu tiên người đọc bắt gặp tính chất nhật ký - công vụ ở cả thơ và  
văn. Phạm Phú Thứ có một tập thơ rất độc đáo có nhan đề là Tây  
phù thi lục và Tây hành nhật ký. Cả hai tập thơ văn viết bằng chữ  
Hán này là một cách ghi chép sự vụ hàng ngày của Phạm Phú Thứ  
thể hiện rất rõ cả ở nội dung và hình thức. Điều đó thể hiện ở  
nhan đề, các mốc thời gian, địa điểm, các sự kiện của sứ đoàn tất  
11  
cả đều gối tiếp nhau theo lối biên niên. Nó thể hiện đầy đủ những  
tính chất cơ bản của thể loại nhật ký - văn học.  
TIỂU KẾT  
Phạm Phú Thứ là một nhân vật lịch sử, một người nặng  
lòng với con đường canh tân đất nước. Trong vai trò một cận thần  
của nhà vua, ông đã kiên trì thuyết phục triều đình cải cách, đổi  
mới. Phạm Phú Thứ đã nhìn thấy được một cách rõ ràng thực  
trạng đất nước và quyết tâm theo đuổi con đường mà các quốc gia  
tiên tiến ở phương Tây đã đi. Có thể nói ông là người sớm nhận ra  
được vấn đề mấu chốt của thời đại mình. Đấy là người đã có cách  
hành xử đúng đắn trong việc kết hợp giữa tinh thần ái quốc và tư  
tưởng trung quân Nho giáo. Phạm Phú Thứ cũng là một nhà hoạt  
động thực tiễn rất có hiệu quả, sáng tạo trong điều kiện lịch sử  
dân tộc thế kỷ XIX.  
Đối với lịch sử văn học Việt Nam Phạm Phú Thứ cũng là  
một tác giả có vị trí rất đáng kể. Đóng góp của ông đối với nền  
văn học dân tộc thể hiện ở di sản văn chương đồ sộ, đa dạng về  
chủ đề, đề tài và thể loại văn học. Ông đã có những nỗ lực nhằm  
thoát ra khỏi sự bó buộc về tính quy phạm của văn chương trung  
đại. Phạm Phú Thứ cũng là nhà văn có đóng góp đáng kể về mặt  
thể loại văn học. Các tác phẩm mang tính chất nhật ký của ông đã  
góp phần làm nảy sinh các thể loại như nhật ký, du ký của văn  
học ở giai đoạn kế tiếp.  
12  
CHƢƠNG 2  
HÌNH TƢỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ  
PHẠM PHÚ THỨ  
2.1. HÌNH TƢỢNG NHÀ THƠ  
2.1.1. Nhà Nho theo đuổi lý tƣởng trung quân, ái quốc  
Lòng trung thành với đấng quân vương  
Tình yêu nước của ông trước hết chính là tấm lòng trung  
với vua. Bởi vậy thơ văn ca tụng nhà vua của ông rất nhiều. Ông  
luôn trách mình đã không thể giúp vua và tự dặn mình luôn gắng  
đền đáp ơn vua.. Có lẽ vì thế mà ông luôn được vua che chở bất  
chấp sóng gió giữa triều đình.  
Tình cảm gắn bó với quê hương, đất nước  
Cả tuổi trẻ bôn ba mọi nơi trên nước Việt, rồi cả qua  
phương Tây  a  ôi, nhưng dù ở đâu, ông vẫn nhớ, vẫn yêu cảnh  
sắc quê hương Quảng Nam, xứ Huế ân tình và những cảnh đẹp  
trên đường kinh lý. Hình ảnh đó càng rõ hơn khi ông đi  a quê  
hương.  
Tình yêu thương đồng bào  
Đọc thơ chữ Hán của Phạm Phú Thứ, người đọc dễ dàng  
nhận thấy tình cảm của ông đối với những người lao động bình  
thường. Tình cảm đó được thể hiện qua cách nhà thơ miêu tả họ.  
Ông thương người nông dân chân lấm tay bùn, lam lũ ngoài đồng.  
Ông thương cả những người lính ở chiến trường, ca ngợi những  
người bạn của mình hết lòng vì đất nước, nhân dân, công việc.  
Vui cùng cái vui của họ.  
Phạm Phú Thứ đã làm tròn trách nhiệm của kẻ ăn lộc vua  
không chỉ vì bổn phận mà còn chính bởi tấm lòng “yêu dân như  
 
13  
con”, luôn cảm thương và sẻ chia vất vả, khó khăn với những kiếp  
người lam lũ.  
2.1.2. Nhà Nho cƣơng trực, đầy cá tính  
Người Quảng Nam từ trước đến nay phần lớn tính cách  
cương cường, hay cãi, “rất bướng”. Và Phạm Phú Thứ, một người  
Quảng Nam, cũng có tính cách như vậy.  
Tính cách Quảng bộc lộ ngay khi ông bước chân vào quan  
trường khi thẳng thắn viết tấu can vua mãi ăn chơi buông lơi triều  
chính. Bởi vậy, ông bị cách chức và lưu đày làm phu ở trạm Thừa  
Nông. Nhưng khi trở lại quan trường ông vẫn thế. Phạm Phú Thứ  
không ngại nói ra chính kiến của mình, công khai ca ngợi những  
vị quan thanh liêm hết lòng vì nước.  
Đánh giá về nhân cách Phạm Phú Thứ, vua Tự Đức trong  
văn tế đã nói về ông rằng: “Nghĩ tới viên chức này văn học, biện  
luận đứng đầu văn sĩ Quảng Nam, ngày thường ai cũng thấy rõ.  
Mặc dù tính tình hơi thiên lệch, cố theo ý riêng của mình có trái  
với phép tắc bề tôi. Nhưng ngựa có cắn đá mới chạy được nghìn  
dặm. Đó cũng là điều khó tránh với những bậc tài…”.  
2.1.3. Nhà Nho ân nghĩa, thủy chung với bằng hữu  
Phạm Phú Thứ đi nhiều nơi và có nhiều bạn bè thân thiết.  
Bởi vậy, ông thường viết nhiều bài thơ cho bạn bè, bằng hữu.  
Thơ ông thường ghi lại kỷ niệm về những ngày được cùng  
bạn tâm tình, uống rượu, thưởng hoa. Bên cạnh đó, ông cũng có  
hàng trăm bài về đề tài tiễn biệt. Ông viết thơ cảm ơn bạn, ca ngợi  
những người bạn thanh liêm.  
Có thể thấy trong văn học trung đại, ít có nhà thơ nào lại  
viết về bạn nhiều như Phạm Phú Thứ.  
 
14  
2.2. HÌNH TƢỢNG QUÊ CẢNH TRONG THƠ PHẠM PHÚ  
THỨ  
2.2.1. Quảng Nam - quê hƣơng và nỗi nhớ  
Khi con đường quan trường mở ra, thì con đường về với  
quê hương với Phạm Phú Thứ như hẹp lại. Việc nhiều không thể  
bỏ dở để về quê nên quê hương trong ông luôn là nỗi nhớ thường  
trực.  
Ông tự hào về quê hương mình, nơi có những cảnh quan  
tuyệt đẹp và hùng vĩ. Đặc biệt là hình ảnh của hai đấng sinh  
thành, rồi người chú, cháu, em con cậu, cả những người xóm  
giềng thân thuộc. Với Phạm Phú Thứ, dù có đi đến nơi đâu, quê  
hương luôn là nơi lưu giữ những nỗi niềm thầm kín, đầy yêu  
thương.  
2.2.2. Huế - Đất kinh kỳ  
Rời mảnh đất quê hương ra làm quan ở chốn kinh kỳ, Huế  
luôn là điểm dừng chân của ông sau những lần kinh lý, bởi vậy  
nơi đây với ông cũng mang đầy kỷ niệm. Ngay trong tập thơ Ứng  
chế thi thảo, kinh thành Huế đã hiện lên, rồi cảnh Huế khi ông bị  
đày ở Thừa Nông, với cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, thời tiết gợi  
cảm  úc, dòng Hương Giang thơ mộng lững lờ trôi. Nơi đó còn có  
những người bạn với bao vui buồn. Nó như quê hương thứ hai của  
nhà thơ.  
Cả đến khi cuối đời, trở lại quê cũ, hình ảnh ngôi nhà nơi  
đất Huế đôi lúc lại hiện về đầy nhớ thương: “Thương châu nằm  
nghỉ thấy ba tháng  uân dài đằng đẵng/ Lại nhớ Giang Thụ Sào ở  
bên hàng tre ven sông”.  
15  
2.2.3. Những miền đất trên đƣờng kinh lý  
Có thể nói Giá Viên toàn tập là một tập nhật ký trải  
nghiệm trong cuộc đời Phạm Phú Thứ. Nó bắt đầu từ lúc nhà thơ  
còn là chàng thanh niên đầy ước mơ, khát vọng cho đến khi “ ục  
giáp bệnh thân thôi lão chí” (Thân bệnh hoạn 60 tuổi lại thúc đẩy  
cái già nua đến).  
Ngay từ tập Bắc hành thi lục, Phạm Phú Thứ đã có   thức  
ghi lại những tâm sự, cảm xúc của bản thân về những vùng đất  
mình đi qua. Rồi thời gian bị đày về Thừa Nông, dù sống trong  
cảnh cô đơn, bệnh tật nhưng ông vẫn luôn để   đến thiên nhiên và  
ca ngợi cái đẹp bình dị của vùng đất này. Trong thời gian bôn ba  
nhiều nơi, ông được chứng kiến nhiều khung cảnh lạ nơi đất bạn  
Trung Hoa, và cả phương Tây. Tiếp xúc với người Phương Tây,  
ông khâm phục những thành tựu khoa học kỹ thuật của họ, nhưng  
không vì thế mà cảm thấy tự ti mà luôn chú ý quan sát, học hỏi,  
tích lũy kiến văn.  
2.3. HÌNH TƢỢNG VẦNG TRĂNG TRONG THƠ PHẠM  
PHÚ THỨ  
2.3.1. Vầng trăng là biểu tƣợng  
Trong thơ Phạm Phú Thứ có một hình tượng rất đặc biệt  
là vầng trăng. Vầng trăng là một biểu tượng đẹp của thiên nhiên là  
minh chứng cho tình yêu, tuổi  uân, hạnh phúc.  
2.3.2. Trăng là chất   c tác cho cảm   c, hoài niệm  
Với Phạm Phú Thứ, vầng trăng vừa khơi nguồn cảm hứng  
vừa gợi lên những cảm  úc trong sáng đến lạ kỳ, có lúc lại là hiện  
thực với những khắc nghiệt của cuộc sống hiện tại.  
2.3.3. Trăng - một thực thể c  linh hồn  
16  
Trăng còn là người bạn chia sớt bao buồn vui trong cuộc  
sống còn nhiều bận rộn và lắm lo toan. Trăng cũng có cảm xúc  
giống như con người  
TIỂU KẾT  
Thơ ca chữ Hán của Phạm Phú Thứ đã thể hiện một cách  
chân thực, sinh động cả một thế giới hình tượng. Nổi bật trước hết  
là hình tượng nhà thơ, một con người trung nghĩa, chân chính.  
Con người đó có   thức một cách sâu sắc về sứ mệnh, vai trò của  
bản thân mình trong bối cảnh lịch sử đặc biệt. Trong thơ ca, Phạm  
Phú Thứ luôn khẳng định vị thế nho sĩ của mình qua lời nói và  
hành động. Đó là một nhà nho theo đuổi l  tưởng trung quân, ái  
nghĩa, thủy chung với bằng hữu.  
Trong thơ Phạm Phú Thứ, hình tượng quê hương - đất  
nước cũng được thể hiện một cách rõ nét với tình cảm mến yêu  
trân trọng. Thơ ông có rất nhiều trang viết về những vùng đất mà  
ông đã sống, đã trải nghiệm; những người thân, bạn hữu mà ông  
đã tiếp xúc. Những cảnh đẹp của quê hương đất nước, từ quê  
hương Quảng Nam, kinh thành Huế với vẻ đẹp tráng lệ của hoàng  
cung, cho đến các vùng miền khác của đất nước và cả những xứ  
sở  a  ôi cũng được ông ghi lại trong thơ. Thơ Phạm Phú Thứ còn  
có một hình tượng độc đáo khác là vầng trăng bè bạn. Hình tượng  
này cho thấy một tâm hồn lãng mạn, một sự tinh tế trong cảm  
nhận cuộc sống của ông lão vườn mía giữa cuộc đời.  
17  
CHƢƠNG 3  
PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN  
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ PHẠM PHÚ THỨ  
3.1. TÍNH QUY PHẠM TRONG THƠ PHẠM PHÚ THỨ  
Phạm Phú Thứ là một nhà Nho đỗ đạt cao, thơ văn của  
ông là thơ văn của bậc đại khoa. Đối với những người như ông,  
mọi tác phẩm đều mang tính quy phạm chặt chẽ.  
3.1.1. Quan niệm nghệ thuật  
Phạm Phú Thứ cho rằng “Thi thị thiên địa chi tâm, tại tâm  
vi chí, phát ngôn vi thi” (Thơ là tâm của trời đất, ở trong lòng là  
chí, phát ra lời là thơ). Với quan niệm như thế về văn chương cho  
nên dù thời đại có nhiều đổi thay nhưng Phạm Phú Thứ vẫn kiên  
trì với tư tưởng chính thống. Có thể tóm tắt quan niệm này bằng  
các công thức “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”, thơ văn phải đảm  
bảo tính uyên bác và hàm súc cao.  
3.1.2. Hình thức nghệ thuật  
Tính quy phạm của thơ ca Phạm Phú Thứ được thể hiện rõ  
nhất ở hình thức nghệ thuật với kết cấu cân đối, niêm luật chặt  
chẽ, thống nhất.  
Thể thơ  
Trong số hơn 800 bài thơ chữ Hán ông sử dụng nhiều thể  
thơ khác nhau. Chủ yếu có nguồn gốc từ thơ ca Trung Quốc, như  
thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, ngũ ngôn  
bát cú, thể trường thiên, hành, vịnh sử,  ướng họa … Thể thơ sở  
trường của ông là thất ngôn Đường luật. Thơ Đường luật của  
Phạm Phú Thứ có đặc điểm là rất chỉnh về thi pháp. Hầu như  
hiếm khi ông phải dùng đến ngoại lệ.  
18  
Sử dụng motip quen thuộc  
Trong tâm thức người Việt Nam, thiên nhiên luôn chiếm  
một vị trí quan trọng. Nó trở thành thi liệu quen thuộc để tác giả  
 ây dựng tác phẩm của mình.  
Motip thiên nhiên xuất hiện trong phần lớn tác phẩm của  
ông. Đó là cảnh núi sông, khoảnh khắc mùa vụ, thời tiết đặc biệt  
là mùa  uân, mùa thu và những thời khắc giao mùa. Hình tượng  
thiên nhiên được nhà thơ gắn cho những phẩm chất, những thuộc  
tính của con người, là phương thức ngụ tình, giáo huấn đạo đức  
của ông, như hình ảnh tùng, trúc…  
Giấc  ộng - điềm báo cũng là một motip hay được dùng  
trong thơ Phạm Phú Thứ. Ông nhắc lại các sự tích cũ, trong đó  
giấc mộng, điềm báo được sử dụng để diễn đạt ý tứ của mình. Đó  
có thể là niềm vui khi tỉnh dậy sau giấc mộng đẹp, nhưng cũng có  
lúc là cơn ác mộng làm nhà thơ giật mình tỉnh giấc. Ông rất tin  
tưởng vào giấc mộng, điềm báo, tin vào trực giác, linh cảm của  
mình.  
Từ những giấc mộng được thể hiện trong thơ của Phạm  
Phú Thứ, người đọc có thể nhận ra suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của  
một vị quan nặng lòng vì nước.  
3.2. THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG THƠ PHẠM PHÚ  
THỨ  
3.2.1. Cách sử dụng ngôn ngữ  
Các nhà thơ phải luôn dụng công để tạo ra một bài thơ  
hay, một   thơ đẹp. Có thể nói Phạm Phú Thứ đã rất đầu tư trong  
việc sử dụng ngôn ngữ để sáng tác văn chương.  
Ngôn ngữ giàu hình ảnh  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 25 trang yennguyen 10960 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Thế giới nghệ thuật thơ Phạm Phú Thứ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_the_gioi_nghe_thuat_tho_pham_phu_thu.pdf