Luận văn Tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương trường hợp tỉnh Long An

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
Lê Xuân Khang  
TÍNH BỀN VỮNG TÀI CHÍNH CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG-  
TRƢỜNG HỢP TỈNH LONG AN  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh-Năm 2016  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
Lê Xuân Khang  
TÍNH BỀN VỮNG TÀI CHÍNH CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG-  
TRƢỜNG HỢP TỈNH LONG AN  
Chuyên ngành: Quản lý Công  
Mã số: 60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS. TS. NGUYỄN HỒNG THẮNG  
TP. Hồ Chí Minh-Năm 2016  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn “Tính bền vững tài chính của chính quyền địa  
phƣơng - trƣờng hợp tỉnh Long An” là công trình nghiên cứu của chính tác giả.  
Nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và các kết quả nghiên cứu thực tiễn trong  
thời gian qua. Số liệu sử dụng là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng. Luận  
văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 3 năm 2016  
Tác giả luận văn  
Lê Xuân Khang  
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
Lời cam đoan  
Mục lục  
Danh mục các từ viết tắt  
Danh mục các hình vẽ, bảng biểu  
PHỤ LỤC  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
ANOVA: Phân tích phương sai (Analysis of Variance).  
EFA: Phân tích nhân tô khám phá (Exploratory Factor Analysis).  
GDP: tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product).  
KMO: Hệ số Kaiser - Mayer – Olkin.  
OLS: Phương pháp bình phương bé nhất (Ordinary Least Squares).  
SIG : Mức ý nghĩa quan sát (Observed significance level).  
SPSS: Phần mềm thống kê cho khoa học xã hội (Statistical Package for the  
Social Sciences).  
UNDP: Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (United Nations Development  
Programme).  
VIF: Hệ số nhân tố phóng đại phương sai (Variance inflation factor).  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU  
Bảng 4.1 Quy mô của chính quyền địa phương.  
Bảng 4.2 Cấu trúc dân cư.  
Bảng 4.3 Nền tảng kinh tế địa phương.  
Bảng 4.4 Năng lực quản lý tài chính của chính quyền địa phương.  
Bảng 4.5 Phân cấp ngân sách.  
Bảng 4.6 Cấu trúc nguồn thu ngân sách.  
Bảng 4.7 Thống kê mô tả chung cho các nhân tố ảnh hưởng.  
Bảng 4.8 Kiểm định trị trung bình cho các thang đo.  
Bảng 4.9 Kiểm định khác biệt về Giới tính.  
Bảng 4.10 Kiểm định khác biệt về vị trí nơi làm việc.  
Bảng 4.11 Kiểm định khác biệt về số lần chuyển vị trí làm việc trong khu vực  
nhà nước.  
Bảng 4.12 Kiểm định khác biệt về thời gian làm việc trong ngành tài chính.  
Bảng 4.13 Kiểm định khác biệt từng cặp về thời gian làm việc trong ngành tài  
chính.  
Bảng 4.14  
.
Bảng 4.15 Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho nhân tố độc lập lần 1.  
Bảng 4.16 Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho nhân tố độc lập sau cùng.  
Bảng 4.17 Phân tích độ tin cậy các thang đo sau EFA.  
Bảng 4.18 Các khái niệm nghiên cứu.  
Bảng 4.19 Phân tích mô tả và tương quan giữa các nhân tố sau EFA.  
Bảng 4.20 Kiểm định kết quả các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững tài  
chính của chính quyền địa phương.  
Bảng 4.21  
.
Bảng 5.1 Các loại thuế phân chia giữa trung ương và địa phương ở một số quốc  
gia.  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ  
Hình 1.1 Thu, chi ngân sách theo khu vực.  
Hình 2.1 Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững tài chính  
của chính quyền địa phương.  
Hình 2.2 Mức cung cấp hàng hóa công đạt hiệu suất Pareto.  
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu.  
Hình 4.1 Giới tính.  
Hình 4.2 Trình độ học vấn.  
Hình 4.3 Cơ quan làm việc.  
Hình 4.4 Vị trí tại cơ quan làm việc.  
Hình 4.5 Thời gian làm việc trong ngành Tài chính.  
Hình 4.6 Thời gian đã làm việc trong khu vực Nhà nước.  
Hình 4.7 Số lần chuyển vị trí làm việc trong khu vực nhà nước.  
Hình 4.8 Kinh phí nhận hàng năm.  
Hình 4.9 Cơ cấu đánh giá chung về các nhân tố tác động đến tính bền vững tài  
chính của chính quyền địa phương.  
Hình 4.10 Mô hình nghiên cứu.  
.
-P Plot.  
Hình 5.1 13 Địa phương điều tiết về ngân sách trung ương.  
1
CHƢƠNG 1.  
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU  
1.1. Động cơ nghiên cứu  
Tùy vào thể chế và cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính ở mỗi quốc gia mà hệ  
thống ngân sách chính phủ được chia là nhiều cấp với tên gọi khác nhau. Tại Việt  
Nam, hệ thống ngân sách nhà nước gồm hai cấp chính là ngân sách trung ương và  
ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân  
sách cấp huyện và ngân sách cấp xã.  
Bền vững ngân sách cấp quốc gia và bền vững ngân sách cấp địa phương là  
một mối quan tâm lớn của hầu hết các nhà nước. Chính phủ ở bất kỳ đất nước nào  
cũng hướng đến xây dựng một nền tài khóa bền vững để trước hết bảo vệ ngân sách  
nhà nước các cấp trước những cú sốc kinh tế nhằm cung cấp hiệu quả hàng hóa,  
dịch vụ công trong dài hạn. Như vậy, bền vững tài khóa gián tiếp thậm chí trực tiếp  
hỗ trợ tăng trưởng bền vững và nâng cao dần phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư.  
Cân đối bền vững ngân sách nhà nước sẽ không thể có được nếu thiếu bền  
vững tài khóa cấp địa phương. “Quản lý ngân sách Việt Nam đang có trục trặc về  
phân cấp. Chúng ta nói hằng năm bội chi ngân sách Việt Nam 5% GDP, nếu bóc  
tách phân cấp mức thâm hụt 5% này thì sẽ biết ngay địa chỉ đang gây thâm hụt là ở  
đâu. Và thực tế, bài toán thâm hụt ngân sách đang nằm chủ yếu từ các địa phương.  
Các địa phương nhận trợ cấp ngân sách được phân bổ xuống mà không có động lực  
cũng như phát huy hiệu quả hơn nguồn vốn nhận được. Việc phân cấp ngân sách  
diễn ra nhanh nhưng các điều kiện đi kèm như năng lực của bên được phân cấp,  
năng lực thực thi, giám sát, giải trình trách nhiệm... không theo kịp. Thực thi các  
quy định quá lỏng lẻo, chế tài kém”1.  
Thống kê số liệu quyết toán ngân sách nhà nước cho thấy sau 5 năm (từ năm  
2009 -2013), số chi bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương  
năm 2013 bằng 1,74 lần năm 2009. Loại trừ yếu tố lạm phát, sau 5 năm ngân sách  
trung ương phải chi trợ cấp nhiều hơn cho các địa phương. Vùng Bắc Trung bộ và  
1 Đỗ Thiên Anh Tuấn (2015). Cần truy địa chỉ gây thâm hụt ngân sách. Báo Tuổi trẻ thứ Sáu 30-10-2015  
   
2
duyên hải miền Trung, vùng miền núi phía Bắc và vùng đồng bằng sông Cửu Long  
là khu vực nhận trợ cấp nhiều nhất từ ngân sách trung ương. Ngược lại, Vùng Đông  
Nam bộ đang là khu vực có tổng thu ngân sách trên địa bàn lớn nhất với 4/6 địa  
phương tự cân đối ngân sách và điều tiết nguồn thu phân chia về ngân sách trung  
ương (xem hình 1.1)2.  
Hình 1.1: Thu, chi ngân sách theo khu vực  
(Nguồn: Số liệu quyết toán ngân sách nhà nước năm 2013)  
Long An, một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong gần 80%  
địa phương ở Việt Nam thường xuyên nhận bổ sung từ ngân sách trung ương dưới  
cả hai hình thức là bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu, nhưng vẫn có kết dư.  
Vào năm 2004 lần đầu tiên và có thể coi là duy nhất cho đến nay, Long An lọt vào  
danh sách 15 địa phương tự cân đối được thu chi cùng với Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh  
Phúc, Đà Nẵng, Khánh Hòa, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Tây  
Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ. Nhiều năm trở lại đây,  
Long An không còn nằm trong danh sách này nữa. Trong giai đoạn 2011-2015,  
2http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/tinh-thanh-dang-ngon-nhieu-ngan-sach-trung-uong-nhat  
20151031143233692.chn  
3
ngân sách tỉnh Long An thường xuyên nhận bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu  
từ ngân sách trung ương. Khoản bổ sung từ ngân sách trung ương đạt đỉnh điểm  
2.486 tỷ đồng năm 2013 sau đó giảm còn 1.765 tỷ đồng vào năm 2015 (xem hình  
1.2). Tuy nhiên có một dấu hiệu đáng mừng tại Long An, đó là số bổ sung trong cân  
đối từ ngân sách trung ương ổn định ở mức 697,9 tỷ đồng mỗi năm trong thời kỳ ổn  
định ngân sách 2012-2015, phần còn lại là bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung  
ương.  
Hình 1.2: Tổng thu ngân sách địa phƣơng tỉnh Long An giai đoạn 2011-  
2015.  
(Nguồn: Tổng hợp thu, chi ngân sách giai đoạn 2011-2015 và dự báo giai đoạn  
2016-2020, Sở Tài chính Long An).  
Xuất phát từ hiện trạng ngân sách tỉnh Long An vẫn còn phụ thuộc vào khoản  
trợ cấp cân đối từ ngân sách trung ương, tôi chọn đề tài “Tính bền vững tài chính  
của chính quyền địa phương - trường hợp tỉnh Long An” để làm luận văn tốt nghiệp  
bậc cao học với hy vọng nhận diện và định lượng những nhân tố có thể tác động  
đến tính bền vững tài chính của một chính quyền địa phương cụ thể Vùng Đồng  
bằng sông Cửu Long. Từ đó đưa ra các hàm ý về mặt chính sách góp phần tạo ra và  
duy trì tính bền vững tài chính của những địa phương tương tự.  
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu  
 
4
Luận văn hướng đến hai mục tiêu sau đây:  
- Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến bền vững tài chính tỉnh Long An.  
- Đề xuất được giải pháp xây dựng tính bền vững tài chính của chính quyền  
địa phương.  
Để đạt hai mục tiêu nêu trên, Luận văn xuất phát từ hai câu hỏi:  
- Tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương theo thông lệ quốc tế  
được hiểu như thế nào?  
- Giải pháp khả thi nhằm nâng cao tính bền vững tài chính của chính quyền  
tỉnh Long An là gì?  
1.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững tài chính của  
chính quyền địa phương, lấy tỉnh Long An là một tình huống điển hình.  
Tài chính của chính quyền địa phương trong khuôn khổ nghiên cứu này bao  
gồm tổng thể những hoạt động liên quan đến thu, chi và vay nợ trong phạm vi một  
vùng lãnh thổ cấp tỉnh của Việt Nam. Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi, song khái  
niệm tài chính của chính quyền địa phương trong luận văn này có thể sử dụng  
tương đương với khái niệm ngân sách địa phương.  
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Luận văn sử dụng phương pháp nhân tố khám phá (EFA) để nhận diện những  
nhân tố và định lượng mức tác động của chúng đến tính bền vững tài chính của  
chính quyền địa phương.  
1.5. Nguồn dữ liệu  
Dữ liệu sử dụng trong Luận văn là thông tin sơ cấp thông qua điều tra tại tỉnh  
Long An và các thông tin về tình hình phát triển kinh tế xã hội của các xã trên địa  
bàn tỉnh Long An, số liệu thống kê về thu - chi ngân sách, … từ báo cáo quyết toán,  
dự toán về ngân sách nhà nước hàng năm, các báo cáo tổng kết, sách báo, tạp chí,  
các công trình nghiên cứu có liên quan về ngân sách nhà nước và ngân sách cấp địa  
phương.  
       
5
CHƢƠNG 2.  
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
Chương này trình bày lý thuyết nền về tính bền vững tài chính của chính  
quyền địa phương. Phần đầu chương mô tả vai trò kinh tế của chính quyền địa  
phương. Tiếp theo là trình bày về tài chính của chính quyền địa phương và những  
góc tiếp cận khác nhau về tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương. Sau  
đó là phần lược khảo những công trình nghiên cứu liên quan để hình thành khung lý  
thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến bền vững tài chính của chính quyền địa phương.  
2.1. Tài chính chính quyền địa phƣơng  
Tổ chức bộ máy quản lý hành chính ở các quốc gia có nhiều kiểu nhưng tựu  
trung ở hai hình thức phổ biến là tổ chức theo kiểu liên bang và tổ chức phi liên  
bang. Điển hình cho mô hình liên bang là Mỹ, Đức, India, Malaysia, Myanmar,  
Thụy Sỹ,…. Điển hình cho tổ chức phi liên bang là Pháp, Anh, Việt Nam, Thái  
Lan,…. Tuy nhiên, kiểu nào cũng có cấp chính quyền địa phương. Theo Hội đồng  
Địa phương của New-Zeland, chính quyền địa phương là “hệ thống những thành  
viên được bầu cử từ địa phương đại diện cho cộng đồng dân cư trong địa hạt và ra  
quyết định nhân danh họ”3 . Địa phương ở đây được hiểu là một vùng lãnh thổ có  
giới hạn địa lý và cùng chung môi trường tự nhiên, điều kiện kinh tế và/hoặc truyền  
thống, tập tục văn hóa. Cấp chính quyền địa phương là cấp gần cộng đồng cư dân  
nhất. Trong khuôn khổ Luận văn này, địa phương được hiểu là cấp tỉnh trong mô  
hình hành chính như Việt Nam.  
2.1.1. Vai trò kinh tế của chính quyền địa phƣơng  
Nhìn từ góc độ kinh tế học, cũng như khu vực tư nhân, chính quyền các cấp là  
đơn vị sản xuất hàng hóa công và cung cấp dịch vụ công. Chính quyền trung ương  
sản xuất hàng hóa, dịch vụ công phạm vi cả nước, còn chính quyền địa phương  
cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cấp địa phương. Hàng hóa, dịch vụ công địa  
3 “Local government is the system of locally elected members representing their communities and making  
Local-Government-in-New-Zealand-Index)  
   
6
phương chỉ phục vụ người dân trên một địa bàn nhất định nên mang tính đặc trưng  
của vùng, miền.  
Hàng hóa, dịch vụ công cấp địa phương có thể kể ra dưới đây:  
- Công viên, cổng chào, công trình kiến trúc, quảng trường, vỉa hè, cây xanh,  
đèn đường, bồn hoa,…;  
- Trường mầm non, trường phổ thông, trường dạy nghề công lập;  
- Thư viện, khu văn hóa, vui chơi cộng đồng;  
- Đường giao thông địa phương;  
- An ninh, trật tự, phòng cháy, chữa cháy địa phương;  
- Khu thể thao địa phương;  
- Viện dưỡng lão, viện trẻ em cơ nhỡ;  
- Cấp nước, thoát nước;  
- Y tế cộng đồng;  
- Hệ thống kênh, rạch nội thị,…  
Hàng hóa, dịch vụ công địa phương trước hết được cung cấp nhằm thỏa mãn  
nhu cầu của người dân trên địa bàn, nhưng không thể vì tính địa phương mà bỏ qua  
tính quốc gia. Mặt khác, mức thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ công cũng khác nhau  
giữa những cư dân nên việc phân tích hiệu quả cung cấp hàng hóa, dịch vụ công  
gặp nhiều khó khăn.  
2.1.2. Tài chính của chính quyền địa phƣơng  
Để sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ trong suốt thời gian tồn tại, chính  
quyền địa phương phải thực hiện ba hoạt động liên quan đến đồng tiền: (1) thu thuế  
và phí, (2) chi vận hành và đầu tư để tạo hàng hóa, dịch vụ công (3) vay nợ (khi thu  
không bằng chi). Ba hoạt động này hợp thành tài chính của chính quyền địa  
phương, thường gọi tắt là tài chính địa phương. Như vậy, tài chính của chính quyền  
địa phương là tổng thể những hoạt động liên quan đến thu, chi và vay nợ trong  
phạm vi một vùng lãnh thổ được xác định bởi địa giới hành chính. Tùy theo đặc  
điểm ở mỗi quốc gia mà nguồn thu cụ thể và nhiệm vụ chi cụ thể của địa phương sẽ  
khác nhau.  
 
7
Ở Việt Nam, chính quyền địa phương có ba nguồn thu chính:  
(1) Các khoản thu địa phương hưởng 100% gồm các khoản thuế, lệ phí, phí và  
thu thuộc địa phương (thu từ giao quyền sử dụng đất, bán tài sản công,…). Tùy mỗi  
quốc gia mà tên gọi cụ thể những khoản thu này sẽ khác nhau;  
(2) Các khoản thu địa phương hưởng theo tỷ lệ phần trăm cùng với ngân sách  
trung ương, thường được gọi tắt là thu phân chia;  
(3) Trợ cấp từ ngân sách trung ương gồm trợ cấp cân đối (subsidy) và trợ cấp  
theo mục tiêu (intergovernmental transfers).  
Ở Việt Nam, chính quyền địa phương có các khoản chi chủ yếu như sau:  
(1) Chi đầu tư phát triển cho các dự án do địa phương quản lý; đầu tư và hỗ  
trợ vốn cho các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt  
hàng, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của địa phương theo quy định của  
pháp luật;  
(2) Chi thường xuyên cho (i) hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ  
chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội, (ii) hoạt động sự nghiệp các loại,  
(iii) bảo đảm xã hội, bao gồm cả chi thực hiện các chính sách xã hội, và (iv) hỗ trợ  
hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã  
hội - nghề nghiệp;  
(3) Chi trả nợ lãi các khoản do chính quyền địa phương vay;  
(4) Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương.  
Ở Việt Nam, theo Luật Ngân sách Nhà nước 2015, chính quyền địa phương  
cấp tỉnh được bội chi để để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn  
đã được hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định. Bội chi ngân sách địa phương được  
bù đắp bằng các nguồn vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính quyền địa  
phương, vay lại từ nguồn Chính phủ vay về cho vay lại và các khoản vay khác trong  
nước.  
2.1.3. Quản lý tài chính của chính quyền địa phƣơng  
Chính quyền địa phương thu thuế và phí nhằm tài trợ các khoản chi thường  
xuyên và đầu tư, qua đó cung cấp hàng hóa, dịch vụ công trong suốt thời gian tồn  
 
8
tại của chính quyền địa phương. Muốn vậy, một trong nhiều nhiệm vụ quan trọng  
của chính quyền địa phương là quản lý tốt tài khóa.  
Theo PWC (2011), quản lý tài chính (financial governance) là quá trình xây  
dựng và thực thi các quyết định liên quan đến đồng tiền nhằm đạt mục đích tài  
chính và phi tài chính của một đơn vị. Quản lý tài chính của chính quyền địa  
phương thể hiện qua quá trình xây dựng và thực thi kế hoạch tài khóa trung hạn, kế  
hoạch ngân sách trung hạn4 và dự toán ngân sách hàng năm. Kế hoạch tài khóa  
trung hạn bao gồm dự báo trung hạn về các đại lượng kinh tế vĩ mô cùng với dự báo  
trung hạn về khả năng thu, phân tích tính bền vững của nợ, các gói chi ngân sách  
cứng, kỷ luật tài khóa và rủi ro tài khóa … ở cấp địa phương. Kế hoạch ngân sách  
trung hạn là những dự báo về các khoản chi trung hạn thuộc chính sách hiện hành  
của cơ quan tham mưu cho chính quyền địa phương và chương trình mục tiêu trên  
địa bàn. Dự toán ngân sách hàng năm chính là kế hoạch thu, chi để thực hiện nhiệm  
vụ của chính quyền địa phương.  
Quản lý tài chính dù ở khu vực tư hay khu vực công cũng phải chứa đựng  
những thuộc tính như hiệu suất (efficiency), hiệu quả (effectiveness) và minh bạch  
(transparency). Trong khu vực công, những thuộc tính này được hình thành từ hoặc  
chịu chi phối của hệ thống luật pháp và giám sát của cộng đồng. Hiệu quả quản lý  
tài chính của chính quyền địa phương được thể hiện ở số lượng và chất lượng dịch  
vụ công do địa phương cung cấp trong mối tương quan với ngân sách cho trước.  
Chất lượng của dịch vụ công thể hiện thông qua mức đáp ứng những đòi hỏi của  
người dân trong khuôn khổ trách nhiệm pháp quy của chính quyền. Quản lý tài  
khóa hiệu quả sẽ góp phần gia tăng niềm tin của cộng đồng dân cư trên địa bàn đối  
với chính quyền và hoàn thiện những giá trị của bộ máy (value of organization).  
Tuy nhiên quản lý hiệu quả tài chính của chính quyền địa phương bị ảnh  
hưởng tiêu cực của một loạt tồn tại khách quan. Thứ nhất là địa phương không quan  
tâm xây dựng kế hoạch ngân sách trung hạn, tức là khuôn khổ ngân sách cho  
4 Luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam 2015 gọi là Kế hoạch Tài chính 5 năm và Kế hoạch Tài chính – Ngân  
sách 3 năm.  
9
khoảng thời gian từ 03 đến 05 năm. Thứ hai, mục tiêu tài chính và phi tài chính tại  
địa phương chưa toàn diện và dễ bị thay đổi bởi những sự kiện mang tính chính trị.  
Thứ ba, tính minh bạch của các báo cáo giải trình, báo cáo quyết toán ngân sách  
chưa dễ tiếp cận có nguy cơ làm giảm sút hiệu lực giám sát của cộng đồng.  
Những tồn tại tiêu cực này được hình thành từ những nguyên nhân có thể kể  
ra như sau. Thứ nhất, người lãnh đạo địa phương là một chính khách xuất thân từ  
dân cử hoặc điều động của tổ chức chính trị chứ không phải chuyên gia về kinh tế  
hay tài chính công. Thứ hai, đại biểu hội đồng nhân dân không phải 100% là cán bộ  
chuyên trách. Thứ ba, cả người đứng đầu chính quyền địa phương lẫn đại biểu hội  
đồng địa phương đều làm việc theo nhiệm kỳ. Thứ tư, ngân sách cho các hoạt động  
giám sát thường rất eo hẹp nên không trang trải đủ chi phí.  
Nếu các tồn tại này không kiểm soát được thì quản lý tài khóa không những  
không thể có hiệu quả mà còn phải đương đầu với nhiều rủi ro. Đầu tiên là rủi ro là  
các quyết định tài khóa được đưa ra không dựa trên nền tảng kỹ năng tài chính căn  
bản. Thứ hai là nguy cơ không đảm bảo đủ kinh phí cho những cam kết trung và dài  
hạn. Thứ ba là rủi ro về tính hữu dụng của những công trình mang tính nhiệm kỳ,  
tức là chúng chỉ phát huy thậm chí chưa kịp phát huy tác dụng trong nhiệm kỳ. Thứ  
tư, có thể để lại gánh nặng tài chính kéo dài cho thế hệ tương lai.  
2.2. Tính bền vững tài chính của chính quyền địa phƣơng  
Ở lĩnh vực nhà nước và theo cách gọi tại Việt Nam, bền vững tài chính nhà  
nước còn có thể được gọi là bền vững tài khóa hoặc bền vững ngân sách nhà nước.  
Trong Luận văn này, những cách gọi đó là tương đương nhau.  
Trước hết, tính từ “bền vững" trong cụm từ “phát triển bền vững” được Ủy  
ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (World Commission on Environment and  
Development, 1987) giải thích như sau: một sự phát triển được coi là bền vững nếu  
nó thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng  
nhu cầu của các thế hệ tương lai. Đầu thập niên 90 của Thế kỷ XX, tính bền vững  
trong các dự án thuộc chính sách công được đề cập. Các tổ chức lớn của thế giới  
như Liên Hợp Quốc với UNDP, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á,  
 
10  
… gợi ý chính phủ ở các quốc gia đang phát triển lồng tính bền vững vào những dự  
án phát triển.  
Từ năm 1990, Ngân hàng Thế giới bắt đầu tài trợ nghiên cứu về tính bền vững  
tài khóa quốc gia. Trong công trình hợp tác của Burnside (2003) với Ngân hàng Thế  
giới, ông lưu ý rằng tính bền vững tài khóa quốc gia có nhiều khía cạnh song nó  
thường liên quan đến chính sách tài khóa của chính phủ. Cụ thể, thuộc tính cơ bản  
minh họa bền vững tài khóa cấp quốc gia là khả năng thanh toán (solvency). Nó  
được thể hiện ở hai khía cạnh. Một là “khả năng của chính phủ để thực hiện nghĩa  
vụ trả nợ của mình một cách vĩnh viễn mà không tuyên bố vỡ nợ”. Hai là, “khả  
năng tài chính để chính phủ duy trì những chính sách hiện hành mà vẫn đảm bảo  
thanh khoản” (Gorina, 2013).  
Vấn đề bền vững tài khóa cấp quốc gia đã được nhiều chính phủ trên thế giới  
quan tâm và chú trọng thời gian gần đây, nhất là trước yêu cầu đảm bảo tính ổn  
định nguồn thu của ngân sách nhà nước, hạn chế thâm hụt ngân sách và kiểm soát  
gia tăng nợ công. Ở cấp địa phương, một trong những thách thức lớn nhất chính  
quyền địa phương phải đối mặt là bền vững tài khóa (financial sustainability). Vì  
nếu không đạt được trạng thái này thì mọi cam kết phát triển và năng lực cạnh tranh  
của địa phương cũng như việc xây dựng Chỉ số Kết quả Lõi (Key Performance  
Indicators, KPIs) cấp địa phương đều vô nghĩa.  
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Công Quốc tế (IPSASB) xem bền vững tài khóa  
như là “khả năng của một chủ thể trong việc đáp ứng nghĩa vụ và cam kết tài chính  
ở hiện tại và tương lai”. IPSASB thừa nhận rằng việc đánh giá tính bền vững tài  
khóa đòi hỏi nhiều loại dữ liệu. “Những dữ liệu này bao gồm các thông tin tài chính  
và phi tài chính về các điều kiện kinh tế và nhân khẩu học hiện tại, giả định về xu  
thế quốc gia và xu thế toàn cầu như năng suất, khả năng cạnh tranh tương đối của  
nền kinh tế quốc gia hay nền kinh tế địa phương và thay đổi dự kiến trong các biến  
nhân khẩu học như tuổi tác, tuổi thọ, giới tính, thu nhập, trình độ học vấn và bệnh  
tật” (IPSASB, 2011: 6).  
11  
Đó là bền vững tài khóa cấp quốc gia. Bền vững tài khóa cấp địa phương cũng  
có nhiều cách tiếp cận.  
Gorina (2013) dẫn Chapman (2008) định nghĩa bền vững tài khóa ở địa  
phương là “khả năng dài hạn của chính quyền trong việc luôn đáp ứng các trách  
nhiệm tài chính của mình” và xác định ba loại áp lực mà chính quyền địa phương  
tại các quốc gia phải đối mặt khi duy trì bền vững tài khóa cấp mình: (i) tính chu kỳ  
của kinh tế địa phương, (ii) cơ cấu dân số, khuynh hướng tiêu dùng và cơ cấu nguồn  
thu ngân sách trên địa bàn, và (iii) mức độ phân cấp giữa các cấp chính quyền.  
IPSASB (2011) phân biệt ba phương diện mở rộng của tính bền vững tài khóa:  
năng lực tài chính (fiscal capacity), năng lực dịch vụ (service capacity), và độ nhạy  
cảm (sensitiveness or vulnerability). Năng lực tài chính là khả năng trả nợ của chính  
quyền địa phương “…liên tục suốt thời gian dự kiến mà không gia tăng mức thuế”  
(IPSASB, 2011: 8). Năng lực dịch vụ là mức độ mà: (a) chính quyền địa phương có  
thể duy trì cung cấp dịch vụ theo khối lượng và chất lượng ít nhất không đổi đến cư  
dân hiện tại hoặc tương lai và (b) đáp ứng các nghĩa vụ liên quan đến các chương  
trình quyền lợi cho người thụ hưởng hiện tại và tương lai (IPSASB, 2011: 8). Độ  
nhạy cảm hay khả năng dễ bị thương tổn là mức phụ thuộc tài chính vào các nguồn  
tài trợ nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền địa phương (ví dụ trợ cấp từ chính  
quyền trung ương) và năng lực của địa phương gia tăng mức thu và/hoặc tạo nguồn  
thu mới (IPSASB, 2011: 8).  
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Chính phủ (GASB) đã xem bền vững tài khóa  
như là “tầm nhìn tương lai của điều kiện kinh tế” (the forward-looking aspect of  
economic condition) và định nghĩa là “trách nhiệm và sự sẵn lòng của chính quyền  
trong việc tạo ra các dòng vào của nguồn lực cần thiết (inflows of resources  
necessary) để vừa thực thi những cam kết cung cấp dịch vụ ở hiện tại vừa đáp ứng  
được nghĩa vụ tài chính trong tương lai khi chúng đáo hạn mà không đẩy nghĩa vụ  
tài chính sang thế hệ tương lai”. (GASB, 2011: x). Sự sẵn lòng của chính quyền tạo  
ra các dòng vào của nguồn lực cần thiết là đặc điểm nổi bật trong định nghĩa của  
GASB. GASB (2011) đề nghị Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp nên  
12  
thực hiện 4 dự báo trong phần báo cáo tài chính: dự báo dòng vào của nguồn lực, dự  
báo dòng tiền ra, dự báo về cam kết tài chính và dự báo thực thi nghĩa vụ nợ (hoàn  
gốc và trả lãi).  
Dollery và Grant (2011) xem xét sáu nghiên cứu về tính bền vững tài khóa  
trong ở các địa phương nước Úc và kết luận rằng hầu hết nghiên cứu này đều thiên  
về “kế toán”, có nghĩa là họ đang tập trung một cách rất hạn hẹp vào kế toán và chỉ  
tiêu tài chính. Dollery & Grant (2011) bàn luận phương pháp tiếp cận hiện tại để  
phát triển bền vững tài khóa từ 2 phương diện.  
Trước tiên, họ thừa nhận rằng các cuộc thảo luận về bền vững tài khóa không  
nên đem lồng với các cuộc thảo luận về khả năng tài chính. Chính quyền địa  
phương Australia luôn luôn có khả năng tài chính, bởi vì họ có quyền đánh thuế, và  
vì Luật Chính quyền địa phương liên kết với người dân để đáp ứng các nghĩa vụ  
chưa thanh toán. Chính phủ không thể “tách khỏi doanh nghiệp” như các thực thể  
thương mại làm. Nhưng chính phủ có thể hoặc không thể đạt bền vững tài khóa  
trong khi có khả năng tài chính.  
Thứ hai, Dollery & Grant (2011) tin rằng các khuôn khổ hiện tại cần kết hợp  
phân tích các mục tiêu xã hội và môi trường, và các chức năng của chính phủ. Các  
nhà nghiên cứu tài chính cần nhìn nhận rằng tính bền vững tài khóa là phụ thuộc  
vào các nguồn tài trợ cho các chương trình môi trường và xã hội. “Nếu không có  
nhu cầu kinh tế theo quy định để đáp ứng các mục tiêu phát triển bền vững môi  
trường và xã hội ở chính quyền địa phương, do đó hầu như không có ý nghĩa để sử  
dụng bền vững tài khóa dài hạn độc lập”. (Dollery và Grant, 2011: 44)  
Gorina (2013) cho rằng Hagist và Vatter (2009) tiếp nối Chapman (2008) khi  
họ nêu bật tầm quan trọng của những thay đổi về nhân khẩu học và sự dịch chuyển  
dân số. Theo quan điểm của họ, ngân sách thành phố là bền vững về tài chính nếu  
nó cho phép chính phủ duy trì “bộ quy tắc hiện hành về các đầu ra và đầu vào của  
các sản phẩm công cộng (hàng hoá, dịch vụ, thuế và các khoản thu khác)…và mức  
cân bằng đô thị có liên quan đến tiềm năng sản xuất thành phố.” (Hagist và Vatter,  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 98 trang yennguyen 14500 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương trường hợp tỉnh Long An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_tinh_ben_vung_tai_chinh_cua_chinh_quyen_dia_phuong.pdf