Luận văn Xét hỏi của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm từ thực tiễn Viện Kiểm sát Nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN HÀ NGỌC CHÂU  
XÉT HỎI CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ  
SƠ THẨM TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN  
QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ  
HÀ NỘI, năm 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN HÀ NGỌC CHÂU  
XÉT HỎI CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA  
HÌNH SỰ SƠ THẨM TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT  
NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự  
Mã số: 8 38 01 04  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN ĐIỆP  
HÀ NỘI, năm 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn “Xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa  
hình sự sơ thẩm từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành  
phố Hồ Chí Minh” là công trình do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học  
của Tiến sĩ Nguyễn Văn Điệp. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung  
thực.  
Tác giả luận văn  
Trần Hà Ngọc Châu  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
BLHS  
: Bộ luật hình sự  
BLTTHS  
HĐXX  
: Bộ luật tố tụng hình sự  
: Hội đồng xét xử  
TAND  
: Tòa án nhân dân  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU  
Bảng 2.1: Biểu đồ so sánh số vụ án bị hủy của TAND quận Tân Phú giai  
đoạn 2013 – 2017............................................................................................ 40  
 
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Hiến pháp năm 2013 cũng như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân  
năm 2014 đã quy định Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện các chức  
năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Sự tham gia của  
Viện kiểm sát đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực thi đúng pháp  
luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cũng như đảm bảo Tòa án xét xử  
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.  
Hiện nay, nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển, từng bước đổi  
mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì càng đòi hỏi một xã hội với nền pháp  
chế xã hội chủ nghĩa được chú trọng. Chính vì vậy, Bộ chính trị đã ban hành  
nhiều Nghị quyết để nâng cao chất lượng hoạt động của nền tư pháp, từ Nghị  
quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công  
tác tư pháp trong thời gian tới” trong đó có nội dung: “Viện kiểm sát các cấp  
thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong  
hoạt động tư pháp” đến Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2015 về  
“Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm  
2010, định hướng đến năm 2020” và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005  
về: “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, trong đó có nội dung chỉ rõ:  
“Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành  
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện Kiểm sát nhân dân được  
tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án nhân dân”.  
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa  
thì việc cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư  
pháp, trong đó có Viện kiểm sát là một đòi hỏi mang tính cấp bách trong giai  
đoạn hiện nay nhất là trong hoạt động tố tụng hình sự.  
1
Qua thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm  
2003, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 hiện hành nói riêng và pháp luật tố  
tụng hình sự nói chung trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bên cạnh  
những chuyển biến tích cực thì vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế: Kiểm  
sát viên tham gia phiên tòa hình sự chưa chủ động xét hỏi, tranh luận, việc đối  
đáp còn mang nặng tính hình thức, thậm chí có nhiều vụ án Kiểm sát viên  
không tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác,  
tình trạng Viện kiểm sát truy tố nhưng Tòa án tuyên không phạm tội hay cấp  
sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội nhưng đến cấp phúc thẩm lại tuyên bố bị  
cáo không phạm tội vẫn còn xảy ra, gây oan sai, bỏ lọt tội phạm, làm mất lòng  
tin của nhân dân, không thể hiện tính công bằng của pháp luật.  
Nhằm góp phần đảm bảo cho việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đúng  
quy định của pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội,  
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và của Nhà  
nước, cần tăng cường các kỹ năng nghiệp vụ của những người tiến hành tố  
tụng nói chung và của Kiểm sát viên nói riêng, đặc biệt là kỹ năng xét hỏi.  
Cho nên, tác giả chọn đề tài “Xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự  
sơ thẩm từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ  
Chí Minh”.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
Nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Viện  
kiểm sát, những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, nhiều  
bài viết liên quan đến vấn đề này. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và  
bài viết chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề chính như sau:  
Nghiên cứu về việc đổi mới, tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân  
dân như: tác giả Khuất Văn Nga với bài viết: “Những chủ trương của Đảng  
và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát  
2
nhân dân trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Kiểm sát, số 15/2005; tác giả Đỗ  
Văn Đương với bài viết: “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư  
pháp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 79 tháng 07/2006;  
tác giả Nguyễn Đức Mai với bài viết: “Tổ chức và hoạt động của Viện công  
tố ở Việt Nam trong giai đoạn cải cách tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp  
luật số 10/2007; tác giả Nguyễn Thái Phúc với bài viết: “Viện kiểm sát hay  
Viện công tố”, Tạp chí khoa học pháp lý số 02/2007; tác giả Lê Hữu Thể với  
bài viết:“Tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến  
trình cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát, số 16/2008.  
Nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ, vai trò của Viện kiểm sát nhân  
dân như: tác giả Nguyễn Tất Viễn với bài viết: “Một số suy nghĩ về cơ quan  
Công tố ở Việt Nam trong thời kỳ cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát số  
14/2007; tác giả Phạm Hồng Hải với bài viết:“Đổi mới tổ chức và hoạt động  
của cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu  
cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát số 14 (Tháng 7/2007); Tác giả Mai Văn  
Thùy với Luận văn thạc sỹ: “Chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn  
xét xử vụ án hình sự, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội năm 2012” …  
Đối với vấn đề về việc xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự  
sơ thẩm, sơ thẩm thì chưa có nhiều công trình khoa học, các bài viết đề cập  
đến. Đây cũng là một vấn đề cần quan tâm trong việc thực hiện chức năng  
công tố của Viện kiểm sát.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
Mục đích nghiên cứu:  
Việc nghiên cứu của luận văn nhằm góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận  
về chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự  
nhất là việc xét hỏi nhằm làm sáng tỏ nội dung vụ án và đưa ra các giải pháp  
nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về chức năng của Viện kiểm sát  
3
nhân dân cũng như chất lượng trong việc xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên  
toà trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu của cải  
cách tư pháp.  
Nhiệm vụ nghiên cứu:  
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: Phân tích và làm rõ  
khái niệm thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm; để  
làm sáng tỏ bản chất pháp lý và những nội dung cơ bản của nguyên tắc này  
theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự.  
Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng nguyên tắc thực hành quyền công tố  
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong phiên tòa hình sự sơ thẩm. Nhiệm  
vụ của Kiểm sát viên khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự, lập hồ sơ kiểm sát,  
chuẩn bị câu hỏi, dự kiến tình huống để xét hỏi khi tham gia phiên tòa hình sự  
sơ thẩm. Chỉ ra nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong việc xét hỏi  
của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ phẩm hình sự, từ đó đề ra những giải pháp  
nâng cao kỹ năng xét hỏi của Kiểm sát viên.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu:  
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các vấn đề lý luận và  
thực tiễn áp dụng nguyên tắc thực hành quyền công tố trong hoạt động  
xét xử hình sự sơ thẩm, cụ thể là: khái niệm, nội dung, phạm vi, chủ thể  
của hoạt động thực hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.  
Nghiên cứu những vấn đề thực tiễn về việc xét hỏi trong phiên tòa  
hình sự sơ thẩm của Kiểm sát viên. Từ thực trạng đó xây dựng các giải  
pháp nhằm nâng cao kỹ năng xét hỏi của Kiểm sát viên.  
Phạm vi nghiên cứu:  
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguyên  
tắc thực hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự sơ thẩm dưới góc độ  
4
của BLTTHS, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, đồng thời, luận văn cũng  
có đề cập đến một số quy phạm pháp luật có liên quan nhằm hỗ trợ cho việc  
giải quyết nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu.  
Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp  
luật tố tụng hình sự Việt Nam có liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc thực  
hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, việc xét hỏi của Kiểm sát  
viên tại Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú trong giai đoạn từ năm 2013-  
2017.  
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
Cơ sở lý luận:  
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ  
Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống  
tội phạm, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như:  
lịch sử pháp luật, lý luận về Nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật  
hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự và triết học những luận điểm khoa  
học trong các công trình nghiên cứu, sách tham khảo và các bài viết đăng trên  
tạp chí pháp lý Việt Nam.  
Tổng hợp những số liệu thống kê về một số chỉ số hoạt động nghiệp vụ  
được tổng kết hàng năm trong các báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân quận  
Tân Phú, cũng như những thông tin trên mạng internet để phân tích, tổng hợp  
các tri thức khoa học luật tố tụng hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng  
được nghiên cứu trong luận văn.  
Phương pháp nghiên cứu:  
Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, so  
sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê; v.v... tổng hợp kết hợp với phương pháp  
khảo sát thực tiễn để kế thừa và chọn lọc những ưu khuyết điểm trong việc xét  
hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm  
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn  
Trên cơ sở đánh giá kỹ năng xét hỏi của Kiểm sát viên tham gia xét xử  
tại các phiên tòa hình sự sơ thẩm, để tìm ra nguyên nhân, hạn chế, đồng thời  
rút ra các kinh nghiệm hoạt động nghiệp vụ, xác định các giải pháp nhằm góp  
phần nâng cao kỹ năng xét hỏi của Kiểm sát viên, nâng cao chất lượng tranh  
tụng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và thực hiện BLHS, BLTTHS.  
7. Kết cấu của luận văn  
Luận văn có kết cấu gồm 03 chương bên cạnh phần mở đầu, kết luận và  
danh mục tài liệu tham khảo như sau:  
Chương 1: Những quy định về hoạt động xét hỏi của Kiểm sát viên tại  
phiên tòa hình sự sơ thẩm.  
Chương 2: Thực trạng hoạt động xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên  
tòa hình sự sơ thẩm từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành  
phố Hồ Chí Minh.  
Chương 3: Những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xét hỏi của  
Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.  
6
Chương 1  
NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT HỎI CỦA KIỂM SÁT  
VIÊN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM  
1.1. Mối quan hệ giữa hoạt động xét hỏi với thực hành quyền công  
tố của Viện kiểm sát nhân dân  
1.1.1. Khái niệm chức năng và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân  
* Về chức năng:  
Trước hết, có nhiều quan niệm định nghĩa chức năng chính là những  
phương diện hoạt động mang tính chất cơ bản, xuất phát từ bản chất của sự  
vật, hiện tượng, có ý nghĩa xã hội của việc giải quyết các nhiệm vụ được đặt  
ra, là phương diện hoạt động để thực hiện nhiệm vụ của mình.  
Chức năng của cơ quan nhà nước là những phương diện hoạt động chủ  
yếu có tính chất cơ bản và lâu dài của riêng cơ quan đó nhằm thực hiện những  
mục tiêu nhất định trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn luật định để phục vụ  
việc thực hiện chức năng chung của bộ máy nhà nước. Cũng như nhiều cơ  
quan nhà nước khác ở từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội khác nhau thì Nhà  
nước cũng giao cho chức năng khác nhau.  
Hiến pháp 1946, quy định cơ quan công tố nằm trong hệ thống tổ chức  
của tòa án. Các công tố viên có thẩm quyền tư pháp cảnh sát (điều tra hình  
sự). Chức năng chính của cơ quan công tố là nhân danh công quyền để buộc  
tội đối với người phạm tội. Khi tham gia phiên tòa, các công tố viên có phải  
thi hành mọi phương thức để chứng tỏ sự thật của vụ án.  
Đến Hiến pháp năm 1959, hệ thống cơ quan Công tố được tách dần  
khỏi hệ thống cơ quan Tòa án và sự ra đời của của tên gọi Viện kiểm sát nhân  
dân. Tiếp sau đó, năm 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh công bố Luật tổ  
chức Viện kiểm sát nhân dân. Đây là hệ thống cơ quan nhà nước chịu sự lãnh  
7
     
đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Độc lập với hệ thống cơ  
quan xét xử và các cơ quan hành chính khác. Viện kiểm sát có nhiệm vụ thực  
hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự như cơ quan Công  
tố trước đây, đồng thời kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan  
thuộc Hội đồng chính phủ, cơ quan nhà nước ở địa phương, các nhân viên  
Nhà nước và công dân.  
Tiếp đó tại các bản Hiến pháp 1980 và 1992 từng bước có quy định rõ  
ràng hơn về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát. Đó là Viện kiểm sát  
nhân dân có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà  
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên  
Nhà nước, công dân; thực hành quyền công tố và bảo đảm cho pháp luật được  
chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất còn gọi là kiểm sát chung.  
Điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, quá trình hội nhập  
kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi chức năng của các cơ quan nhà  
nước cũng phải thay đổi cho phù hợp với hoạt động trong tình hình mới.  
Trong đó hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân. Điều đó được thể hiện  
qua Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội  
về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, tại Điều 2 Hiến  
pháp năm 1992 có ghi nhận: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân  
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền  
lập pháp, hành pháp và tư pháp". Trong đó chức năng của Viện kiểm sát được  
điều chỉnh theo hướng đề cao chức năng công tố so với giai đoạn trước đây và  
thu hẹp chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà  
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân bằng chức  
năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Theo đó, tại điều 137 Hiến pháp 1992  
(sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: Viện kiểm sát nhân dân có chức năng  
"thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp". Từ quy định  
8
của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 có nội dung  
thể hiện “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các  
hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật”.  
Theo tiến trình cải cách tư pháp của Bộ Chính trị trong đó cải cách cải  
cách các cơ quan tư pháp nhằm mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền  
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với việc ban hành Nghị quyết số 08/2002 của Bộ  
Chính trị về những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian  
tới. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm  
2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nêu rõ: “Trước  
mắt, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành  
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” [2, tr. 6]. Nội dung này lại  
tiếp tục được quy định trong Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 107) và Luật  
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (Điều 2).  
Hoạt động “Thực hành quyền công tố” của Viện kiểm sát là một hoạt  
động mang tính quyền lực nhân danh nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự  
đối với người phạm tội ra trước Tòa án và hoạt động thực hành quyền công tố  
tại phiên tòa là giai đoạn trung tâm thể hiện rõ nhất, đầy đủ nhất bản chất của  
chức năng thực hành quyền công tố, được thể hiện bằng bản cáo trạng truy tố  
bị cáo trước Tòa án. trách nhiệm của Kiểm sát viên là phải bảo vệ và chứng  
minh sự buộc tội đó, thông qua đó Viện kiểm sát giáo dục những người tham  
dự phiên tòa.  
Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát, là một hoạt động Thông  
qua hoạt động thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án  
hình sự, Viện kiểm sát giáo dục những người tham dự phiên tòa.  
Trong tố tụng hình sự Việt Nam, hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình  
sự của Tòa án, được coi là giai đoạn trung tâm của quá trình tố tụng, bởi:  
Theo quy định tại Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được  
9
coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có  
bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Trình tự luật định ở đây  
chính là việc xét xử của Tòa án và bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.  
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động mà trong đó có bao gồm kiểm  
sát hoạt động xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án “Kiểm sát việc tuân theo  
pháp luật trong hoạt động xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án”. Đây là một  
hoạt động mang tính đặc trưng thuộc chức năng của Viện kiểm sát nhân dân  
để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét  
xử hình sự sơ thẩm của Tòa án nhằm đảm bảo cho pháp luật hình sự được  
thực hiện nghiêm minh, công bằng và khách quan.  
Quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay,  
Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội giao thực hiện chức năng kiểm sát  
hoạt động xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án, để phát hiện các hành vi vi  
phạm pháp luật trong hoạt động xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án, xử lý  
những vi phạm đó.  
Nhà nước ta hiện đang thực hiện ba chức năng gồm lập pháp, hành  
pháp và tư pháp được tổ chức không phân lập nhưng lại có sự phân công  
phối hợp để cùng thực hiện quyền lực Nhà nước. Vì vậy, Đảng và Nhà nước  
ta giao cho Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện đồng thời  
hai chức năng theo hiến định là hoàn toàn hợp lý, phù hợp tình hình thực tế.  
Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền  
xã hội chủ nghĩa ở đất nước ta hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân cần phải  
nâng cao vai trò trách nhiệm, cụ thể là chức trách, vài trò, địa vị pháp lý của  
Kiểm sát viên, đảm bảo cho Kiểm sát viên đủ thực quyền chủ động, độc lập  
khi làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp  
luật trong hoạt động xét xử của Tòa án.  
10  
Hiểu đúng chức năng Nhà nước của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ  
máy Nhà nước, là cơ sở lý luận hết sức quan trọng, để chúng ta hoàn thiện  
chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước cũng như  
trong tố tụng hình sự.  
Quan điểm của tác giả, Nhà nước tiếp tục giao chức năng thực hành  
quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật cho Viện kiểm  
sát nhân dân trong đó bao gồm kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm của Tòa án  
như quy định của Bộ luật tố tụng hiện hành. Vì Viện kiểm sát là cơ quan nắm  
rõ tình hình, diễn biến của vụ án từ khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm đến  
điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử đến khi chấp hành xong abrn án, nên việc  
kiểm sát sẽ được thực hiện có hiệu quả hơn.  
* Về nhiệm vụ:  
Nhiệm vụ có thể được hiểu là những công việc phải làm, phải gánh vác,  
hay nói cách khác là những việc phải làm vì một mục đích trong một thời gian  
nhất định. Dó đó, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân chính là những hoạt  
động nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của cả bộ máy nhà nước trên cơ sở quy  
định của Hiến pháp và pháp luật cụ thể là Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân  
dân.  
Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật tổ chức VIỆN KIỂM SÁTND  
năm 2014: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp  
luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ  
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá  
nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống  
nhất”. Nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật xuất phát từ chức năng của  
Viện kiểm sát nhân dân sẽ được đặt lên hàng đầu cũng là nhiệm vụ chủ yếu  
của Viện kiểm sát nhân dân và là cơ sở thực hiện các nhiệm vụ khác.  
11  
Viện kiểm sát nhân dân phải đảm bảo mọi hành vi xâm phạm đến lợi  
ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều bị  
phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật. Để làm được điều này thì Viện  
kiểm sát trước tiên phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, không được tha  
thứ cho hành vi vi phạm pháp luật với bất kỳ lý do gì.  
1.1.2. Thực hành quyền công tố trong pháp luật tố tụng hình sự Việt  
Nam  
Trong khoa học tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay chưa có sự thống  
nhất về khái niệm “quyền công tố”. Cụm từ “quyền công tố” xuất hiện lần đầu  
trong Hiến pháp 1980 (Điều 138). Sau đó, được tiếp tục ghi trong Hiến pháp  
1992 (Điều 137) và các đạo luật liên quan về sau như Bộ luật Tố tụng hình sự  
năm 1988, 2003; Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân các năm 1981, 1992,  
2002; Pháp lệnh Kiểm sát viên… Trong thực tế, việc thực hiện quyền công tố  
đã được Nhà nước thống nhất giao cho Viện công tố sau này đổi tên thành  
Viện kiểm sát đảm nhiệm từ năm 1945 đến nay.  
Trong cuốn từ điển luật học của Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm  
2006 có định nghĩa quyền công tố là “quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối  
với người phạm tội”. Khái niệm này đã đưa ra phác họa chung nhất về quyền  
công tố. Tuy nhiên, ngành luật vẫn còn đang được bàn luận với nhiều quan  
điểm tập trung ở các khía cạnh sau:  
Quan điểm thứ nhất cho rằng “Quyền công tố là quyền đại diện cho  
Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để  
bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật”, phạm vi thực hành quyền  
công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và được tiến hành trong khi thực hiện các  
công tác kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát tạm giữ, tạm  
giam và thi hành án hình sự. Đây là quan điểm chung của ngành Kiểm sát từ  
trước năm 1980, với khái niệm này thì phạm vi quyền công tố rất rộng, nó  
12  
không chỉ bao gồm hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự mà còn cả hoạt  
động kiểm sát hoạt động tư pháp. Quan điểm nêu trên cho thấy có sự không  
hợp lý, vì nó có phạm vi quá rộng, xóa nhòa ranh giới giữa thực hành quyền  
công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật.  
Quan điểm thứ hai, tác giả Lê Cảm cũng đưa ra một khái niệm về quyền  
công tố như sau: “Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện các  
chức năng do luật TTHS quy định” [5, tr. 1]. Khái niệm này có phạm vi giới  
hạn hơn quan điểm thứ nhất, là chỉ trong phạm vi tố tụng hình sự nhưng cũng  
chưa phân định giữa ranh giới của thực hành quyền công tố và kiểm sát điều  
tra, kiểm sát xét xử của Viện kiểm sát nhân dân, đã đồng nhất chức năng thực  
hành quyền công tố vào trong chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật,  
coi quyền công tố chỉ là một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo  
pháp luật, hai chức năng này là khác nhau của Viện kiểm sát nhân dân, chúng  
tồn tại độc lập với nhau tuy rằng có liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho  
nhau, nhưng hoàn toàn không phải là một.  
Sau này, Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 đã có sự phân biệt khi quy định  
thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thành hai điều luật riêng biệt.  
Điều 112 nói về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền  
công tố trong giai đoạn điều tra, còn Điều 113 nói về nhiệm vụ, quyền hạn  
của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra đã góp phần chứng minh cho sự tồn  
tại độc lập của hai chức năng này.  
Quan điểm thứ ba, tác giả Lê Hữu Thể đưa ra định nghĩa “Quyền công tố  
là quyền của Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở Việt Nam là cơ  
quan Viện kiểm sát nhân dân truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người  
phạm tội”. [27, tr.3].  
Tác giả Trần Văn Độ cũng đưa ra một khái niệm tương tự “Quyền công  
tố là quyền của cơ quan nhà nước được Nhà nước ủy quyền thực hiện việc  
13  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 72 trang yennguyen 22720 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Xét hỏi của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm từ thực tiễn Viện Kiểm sát Nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_xet_hoi_cua_kiem_sat_vien_tai_phien_toa_hinh_su_so.pdf