Tóm tắt Luận án Quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN  
****************  
PHAN HỒNG MAI  
QUẢN LÝ TÀI SẢN TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN  
NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM  
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng  
Mã số: 62.31.12.01  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ  
Hà Nội - 2012  
2
CHƯƠNG 1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ TÀI SẢN TẠI  
CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM  
1.2 Phương pháp nghiên cứu định tính  
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng trong luận án nhằm tìm hiểu nội  
dung hay cách thức quản lý tài sản đang được tiến hành tại các đơn vị này, được mô tả chi  
tiết, không thể đo lường hay lượng hóa hoàn toàn, như mô hình dự báo dòng tiền/nhu cầu  
nguyên vật liệu, cách thức theo dõi công nợ, hàng tồn kho, TSCĐ... Đồng thời, cung cấp  
thêm những thông tin cụ thể để giải thích (hay tìm nguyên nhân) cho thực trạng này, liên  
quan tới nhận thức của ban lãnh đạo, cách thức quản lý vốn, mô hình tổ chức doanh nghiệp,  
cơ chế chính sách của Nhà nước… Nguồn thu thập dữ liệu chủ yếu từ doanh nghiệp, bao  
gồm hệ thống sổ sách, báo cáo, website hay ý kiến của cán bộ trong doanh nghiệp... sử  
dụng 3 cách thu thập dữ liệu: Phỏng vấn sâu; Quan sát trực tiếp và Nghiên cứu tại bàn . Mẫu  
nghiên cứu gồm 15 doanh nghiệp, được lựa chọn ngẫu nhiên theo cụm.  
1.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng  
Thông qua các biến số được định lượng rõ ràng, nghiên cứu sinh có thể tìm kiếm  
những quy luật chung về cơ cấu tài sản, khả năng quản lý từng loại tài sản riêng biệt, cơ cấu  
vốn... tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam. Từ đó rút ra những kết  
luận, đánh giá khách quan về thành công và hạn chế của quản lý tài sản tại các công ty này.  
Nguồn số liệu chính là báo cáo tài chính đã kiểm toán của 104 công ty cổ phần ngành xây  
dựng niêm yết từ năm 2006 đến 2010, kết hợp dữ liệu ngành từ Tổng cục thống kê, Bộ xây  
dựng và Ủy ban chứng khoán nhà nước. Khi có đầy đủ biến số, nghiên cứu sinh áp dụng kỹ  
thuật phân tích là thống kê mô tả và phân tích hồi quy tương quan.  
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN TẠI DOANH NGHIỆP  
NGÀNH XÂY DỰNG  
2.1 Khái quát về tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng  
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, các tài sản được tập trung quản lý dựa trên  
hình thái tồn tại của tài sản, bao gồm Tiền, Phải thu, Hàng tồn kho và TSCĐ hữu hình. Mỗi  
loại tài sản trên có những đặc điểm riêng biệt, gắn liền với đặc thù về sản phẩm và tổ chức  
sản xuất của doanh nghiệp ngành xây dựng.  
2.2 Khái niệm và mục tiêu quản lý tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng  
Tập hợp từ các quan điểm về quản lý, có thể hiểu: “quản lý tài sản tại doanh nghiệp  
ngành xây dựng là quá trình tổ chức, điều hành việc hình thành và sử dụng tài sản của  
3
doanh nghiệp ngành xây dựng nhằm đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ  
sở hữu doanh nghiệp”.  
2.3 Nội dung quản lý tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng  
2.3.1 Quản lý tiền tại doanh nghiệp ngành xây dựng  
Trên phương diện khoa học, quản lý tiền có thể hiểu rộng hơn là quản lý ngân quỹ  
(quỹ tiền) của doanh nghiệp, bao gồm các công việc cụ thể Dự báo dòng tiền, Xác định  
ngân quỹ tối ưu, Theo dõi và duy trì ngân quỹ tối ưu. Trong đó, việc xác định ngân quỹ tối  
ưu có thể thiết lập theo mô hình Baumol hoặc Miller – Orr.  
2.3.2 Quản lý khoản phải thu tại doanh nghiệp ngành xây dựng  
Để doanh nghiệp được thanh toán đầy đủ, đúng hạn, phù hợp với tiến độ thi công,  
giảm bớt áp lực căng thẳng về vốn, quản lý các khoản phải thu kết hợp với quản lý tiền có ý  
nghĩa đặc biệt quan trọng. Nội dung chính của hoạt động này gồm: Lựa chọn chủ đầu tư,  
thỏa thuận hình thức thanh toán; Theo dõi/thu hồi công nợ và Tìm kiếm nguồn tài trợ đối  
ứng với khoản phải thu. Việc thỏa thuận hình thức thanh toán và lựa chọn các biện pháp thu  
hồi công nợ hữu hiệu giữ vai trò quyết định tới kết quả của hoạt động này.  
2.3.3 Quản lý hàng tồn kho tại doanh nghiệp ngành xây dựng  
Để quản lý hàng tồn kho tại doanh nghiệp ngành xây dựng cần Dự báo nhu cầu sử  
dụng nguyên vật liệu; Xác định lượng đặt hàng tối ưu và Theo dõi duy trì hàng tồn kho. Đối  
với hàng tồn kho là nguyên vật liệu, có thể lựa chọn lượng đặt hàng tối ưu theo mô hình  
EOQ hoặc JIT. Với công trình xây dựng dở dang, cần chú ý xác định giá thành và kết  
chuyển chi phí hợp lý.  
2.3.4 Quản lý tài sản cố định tại doanh nghiệp ngành xây dựng  
Các vấn đề được tập trung phân tích bao gồm Lựa chọn cách thức hình thành TSCĐ;  
Đánh giá hiệu quả tài chính của quyết định đầu tư; Định giá, khấu hao TSCĐ và Thay thế,  
thanh lý TSCĐ. Với đặc thù ngành nghề, cần chú ý đến hoạt động thuê TSCĐ và phương  
pháp khấu hao theo công suất, năng suất máy móc.  
2.4. Chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng  
Kết quả quản lý tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng có thể được đánh giá bằng một số  
chỉ tiêu chủ yếu sau:  
Tài sản ngắn hạn  
Khả năng thanh toán ngắn hạn = --------------------------  
Nợ ngắn hạn  
(1.25)  
4
Khoản phải thu bình quân trong kỳ  
Kỳ thu tiền bình quân = ---------------------------------------------------  
Doanh thu bán chịu bình quân 1 ngày  
(1.27)  
Giá vốn hàng bán (hoặc doanh thu thuần) trong kỳ (1.30)  
----------------------------------------------------------  
Hàng tồn kho bình quân trong kỳ  
Vòng quay hàng tồn kho  
trong kỳ  
=
Hiệu suất sử  
Doanh thu (hoặc doanh thu thuần) trong kỳ  
(1.36)  
=
dụng TSCĐ  
trong kỳ  
TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ  
Hệ số sinh lời  
TSCĐ trong  
kỳ  
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ  
(1.37)  
=
TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ  
Doanh thu (hoặc doanh thu thuần) trong kỳ  
Tổng tài sản sử dụng bình quân trong kỳ  
(1.38)  
Hiệu suất sử dụng tổng tài  
sản trong một kỳ  
=
Lợi nhuận sau thuế cộng lãi vay  
(1.39)  
Hệ số sinh lời tổng tài  
=
sản trong một kỳ (ROA)  
Tổng tài sản sử dụng bình quân trong một kỳ  
2.5 Nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài sản tại các doanh nghiệp ngành xây dựng  
Có nhiều nhân tố thuộc về doanh nghiệp ngành xây dựng ảnh hưởng tới hoạt động  
quản lý tài sản. Cụ thể: Nhận thức và trình độ quản lý của ban lãnh đạo doanh nghiệp, Quản  
lý vốn của doanh nghiệp, Phương tiện quản lý của doanh nghiệp và Bộ máy quản lý của  
doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tồn tại hai nguyên nhân bên ngoài doanh nghiệp là quy định của  
nhà nước về quản lý tài sản và mức độ phát triển của thị trường.  
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN  
NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM  
3.1 Giới thiệu về tổng thể nghiên cứu  
Việc lựa chọn các công ty cổ phần xây dựng niêm yết, nghiên cứu sinh không căn cứ  
vào tên giao dịch, thay vào đó, lấy tiêu chí doanh thu của hoạt động xây lắp (bao gồm xây  
dựng và lắp đặt) trong tổng doanh thu của doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng cao hơn doanh thu  
5
từ các hoạt động khác (như kinh doanh bất động sản, sản xuất vật liệu xây dựng, thương mại,  
cấp nước…) trong phần lớn thời gian từ năm 2006 đến 2010. Đồng thời, loại bỏ những công  
ty mới bắt đầu niêm yết từ năm 2010 do không đảm bảo đủ số liệu để phân tích. Danh sách  
104 công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết được sử dụng làm tổng thể nghiên cứu được  
trình bày tại phụ lục 02. Tính đến hết ngày 31/3/2011, số lượng công ty cổ phần ngành xây  
dựng đã niêm yết cổ phiếu tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội  
bằng 104 công ty, chiếm tỷ lệ bình quân 5% số doanh nghiệp xây ngành dựng thực tế sản  
xuất – kinh doanh hàng năm. Nguồn gốc hình thành các công ty công ty cổ phần ngành xây  
dựng niêm yết gắn liền với lịch sử phát triển của ngành xây dựng Việt Nam, 78% được cổ  
phần hóa từ các doanh nghiệp nhà nước, trong đó có nhiều công ty lớn như Tổng công ty  
lắp máy (Lilama), Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng (Licogi), Tổng công ty Dầu  
khí (PVX), Tổng công ty sông Đà và Tổng công ty xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam  
(Vinaconex)… 82% các công ty này có quy mô tài sản từ 200 tỷ VND trở lên. Theo quy  
định hiện hành của Việt Nam, các công ty niêm yết nói chung (trong đó có các công ty  
thuộc ngành xây dựng) phải thực hiện một số nghĩa vụ: Duy trì các tiêu chuẩn niêm yết (quy  
định tại điều 8 và điều 9 của Nghị định 14/2007/NĐ-CP); Ban hành điều lệ công ty theo  
mẫu quy định tại quyết định số 15/2007/QĐ – BTC; Tuân thủ Quy chế quản trị công ty ban  
hành tại Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC và thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin theo quy  
định tại Thông tư số 38/2007/TT-BTC.  
Bảng 3.6 Giá trị trung bình cơ cấu tài sản của các công ty cổ phần xây dựng niêm yết từ  
năm 2006 đến năm 2010  
Đơn vị tính: %  
Phải thu/tổng tài  
sản  
Hàng tồn  
kho/tổng tài sản  
28,72  
TSCĐ/tổng tài  
sản  
Tiền/tổng tài sản  
Năm 2006  
Năm 2007  
Năm 2008  
Năm 2009  
Năm 2010  
6,93  
7,78  
5,70  
6,86  
6,08  
33,79  
21,88  
31,69  
27,86  
17,77  
27,59  
32,55  
17,37  
28,09  
29,11  
17,93  
32,07  
26,63  
17,53  
Nguồn: [31] và tính toán của tác giả  
Như vậy, trong cơ cấu tài sản của các công ty cổ phần xây dựng niêm yết, khoản phải  
thu chiếm tỷ trọng lớn nhất (trừ năm 2008), tiếp theo tới Hàng tồn kho, TSCĐ và Tiền. Cơ  
cấu tài sản như trên mặc dù xuất phát từ đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp  
song tiềm ẩn nhiều rủi ro thanh khoản (không thu được tiền mặc dù đã ghi nhận kết quả  
6
kinh doanh) và ảnh hưởng tới khả năng hoàn thành hợp đồng đúng tiến độ, đảm bảo chất  
lượng như thỏa thuận ban đầu (do bị ứ đọng vốn).  
3.2 Thực trạng quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết  
3.2.1 Thực trạng quản lý tiền tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết  
3.2.1.1 Dự báo dòng tiền  
Căn cứ vào phương án thi công (bao gồm cả dự toán kinh phí chi tiết) được chủ đầu  
tư phê duyệt, kế toán viên tính toán chi tiết nhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp trong từng  
giai đoạn. Sau đó, dựa trên phương án tài trợ cho dự án và điều kiện thanh toán đã thỏa  
thuận với bên A, có thể xác định độ lớn và thời điểm xuất hiện nguồn tiền đối ứng. Theo  
điều 9, NĐ112/2009/NĐ – CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, tổng dự toán  
của 1 công trình là tổng số tiền dự kiến về chi phi xây dựng, thiết bị, quản lý dự án, tư vấn  
đầu tư, dự phòng… Ngoài ra, nhà quản lý cũng ước lượng số tiền cần thiết phải ký quỹ để  
bảo đảm dự thầu (thực hiện theo quy định tại điều 27 của luật Đấu thầu 2005) và bảo đảm  
thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng khi tham gia từng dự án. Theo nghị định số  
48/2010/NĐ – CP của Chính phủ về Hợp đồng trong hoạt động xây dựng, doanh nghiệp xây  
dựng bắt buộc phải bảo đảm thực hiện hợp đồng (bằng hình thức đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp  
thư bảo lãnh) trước thời điểm hợp đồng có hiệu lực, được bên giao thầu chấp nhận và kéo  
dài đến khi chuyển sang thực hiện nghĩa vụ bảo hành. Giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng  
được quy định trong hồ sơ mời thầu hoặc hồ sơ yêu cầu và tối đa bằng 10% giá hợp đồng.  
Theo kết quả khảo sát thực tế, con số này thông thường là 5%. Đồng thời, theo điều 16 và  
17 của nghị định trên, nếu chủ đầu tư yêu cầu, doanh nghiệp ngành xây dựng phải nộp bảo  
lãnh tiền tạm ứng với giá trị tương đương khoản tiền tạm ứng. Số tiền tạm ứng của chủ đầu  
tư, đối với hợp đồng thi công xây dựng công trình tối thiểu bằng 10% giá hợp đồng (với hợp  
đồng có giá trị trên 50 tỷ đồng), 15% giá hợp đồng (với hợp đồng có giá trị từ 10 tỷ đồng  
đến 50 tỷ đồng) và 20% giá hợp đồng (đối với các hợp đồng có giá trị dưới 10 tỷ đồng).  
Không những vậy, ngay cả khi bàn giao toàn bộ công trình, công ty cổ phần ngành xây  
dựng niêm yết chưa được thanh toán 100% giá trị hợp đồng do phải bảo hành công trình,  
bảo hành thiết bị theo đúng các thỏa thuận trong hợp đồng. Việc bảo hành công trình được  
quy định tại điều 45, nghị định 48/2010/NĐ – CP.  
Việc dùng tiền để ký quỹ, đặt cọc (trực tiếp cho chủ đầu tư hoặc cho ngân hàng để  
được phát hành thư bảo lãnh) để bảo đảm thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng, bảo  
đảm bảo hành sẽ gây ứ đọng vốn, buộc nhà quản lý phải chú ý trong quá trình cân đối thu,  
chi, đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp.  
7
3.2.1.2 Xác định ngân quỹ tối ưu  
Theo đánh giá chủ quan của 15 người được phỏng vấn, trong các công ty cổ phần  
ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam, không có đơn vị nào áp dụng hoàn toàn các mô hình  
trên. Thông thường, kế toán trưởng xác định mức tồn quỹ tối thiểu cho từng giai đoạn ngắn  
hạn dựa trên kế hoạch chi tiêu của doanh nghiệp và kinh nghiệm quản lý (yếu tố này khá  
quan trọng – được 100% đối tượng được phỏng vấn tán thành). Khoản tiền trên được cất trữ  
dưới dạng tiền mặt tại két ở doanh nghiệp và tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, nhằm đáp  
ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên như trả lương công nhân viên, dịch vụ điện/nước/điện  
thoại/thuê văn phòng…, mua sắm công cụ/dụng cụ/nguyên vật liệu phụ… và một phần dự  
phòng cho các sự cố bất ngờ trong quá trình xây lắp. Tại 15 công ty cổ phần ngành xây  
dựng niêm yết, tiền mặt và tiền gửi thanh toán tại ngân hàng chiếm tỷ lệ tuyệt đối (trên 75%)  
tại 9/15 doanh nghiệp. Tại các đơn vị còn lại, khoản mục tương đương tiền bao gồm ủy thác  
quản lý vốn tại công ty tài chính của tập đoàn hoặc gửi tiết kiệm ngân hàng, được dùng để  
thế chấp cho các khoản vay và bảo lãnh.  
3.2.1.3 Theo dõi, duy trì ngân quỹ tối ưu  
- Thay đổi chính sách thanh toán: khi ngân quỹ dồi dào, các công ty cổ phần ngành  
xây dựng niêm yết có thể có thể cho phép bên A giảm tỷ lệ ứng trước trên giá trị công trình  
(đây cũng được coi là một yếu tố làm tăng cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp – 70%  
người được phỏng vấn đồng ý), cho bên thuê nợ tiền thuê máy móc, gia hạn cho các khoản  
nợ cũ… ứng trước lương cho công nhân viên, tăng % thanh toán ngay nguyên vật liệu sản  
xuất, trả nợ trước hạn… và thực hiện ngược lại khi ngân quỹ thiếu hụt tạm thời.  
- Bù đắp thâm hụt ngân quỹ: nếu việc thiếu hụt diễn ra lâu dài, kế toán trưởng đề  
xuất với giám đốc các phương án bù đắp thâm hụt. Về lý thuyết, có thể dùng nhiều biện  
pháp như bán chứng khoán thanh khoản, rút tiết kiệm, thu hồi các khoản ủy thác đầu tư…  
tuy nhiên, hầu hết câu trả lời từ cán bộ được phỏng vấn là “vay ngân hàng”. Khiến cho dư  
nợ của doanh nghiệp tăng cao, kéo theo rủi ro về khả năng thanh toán.  
- Đầu tư thặng dư ngân quỹ: Phương án đầu tư phổ biến là gửi tiết kiệm tại ngân  
hàng hoặc cho doanh nghiệp khác trong ngành vay. Việc nắm giữ chứng khoán chỉ diễn ra  
vào năm 2006, 2007 do sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường.  
3.2.2 Thực trạng quản lý phải thu tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết  
3.2.2.1 Lựa chọn chủ đầu tư và dự án  
8
Thứ nhất, năng lực của chủ đầu tư. Hiện nay, các chủ đầu tư đều thiết lập website  
riêng, trong đó tự giới thiệu chi tiết về lịch sử hình thành/phát triển, năng lực nhân sự/tài  
chính, các dự án đã triển khai… Tuy nhiên, để hạn chế rủi ro, nhân viên phòng dự án (hoặc  
kinh tế - kế hoạch) vẫn xác minh lại các thông tin trên (đặc biệt về ý thức thanh toán) thông  
qua những doanh nghiệp đã từng tham gia dự án của chủ đầu tư hoặc một số tổ chức khác  
như ngân hàng, bộXây dựng, cục thuế...  
Thứ hai, tính pháp lý của dự án. cán bộ phòng dự án sẽ kiểm tra tính chính xác của  
các quyết định phê duyệt đầu tư (được giải trình rõ trong hồ sơ mời thầu), đối chiếu với quy  
hoạch vùng, lãnh thổ (cung cấp bởi Sở Quy hoạch – kiến trúc hoặc cơ quan chức năng được  
phân cấp như Ủy ban nhân dân) để lựa chọn.  
Thứ ba, nguồn vốn tài trợ cho dự án. Hiện tại, các dự án xây dựng khu đô thị phức  
hợp thường sử dụng vốn ứng trước của khách hàng mua nhà dưới hình thức hợp tác đầu tư.  
Cách này tạo nên nguồn vốn ổn định song đôi khi vẫn xảy ra tranh chấp giữa chủ đầu tư và  
khách hàng (về thời hạn và giá trị đóng góp, chất lượng sản phẩm, thời điểm bàn giao...) ảnh  
hưởng tới dòng tiền của dự án, từ đó nhà thầu xây dựng bị trì hoãn thanh toán. Bên cạnh đó,  
các dự án đầu tư công tài trợ bằng ngân sách Chính phủ thường xuyên xảy ra việc chậm trễ  
thanh toán cho nhà thầu xây lắp.  
3.2.2.2 Thỏa thuận hình thức thanh toán  
Thứ nhất, về giá trị thanh toán. Thông thường, chủ đầu tư sẽ tạm ứng một hoặc  
nhiều lần (từ 10% đến 30%) giá trị toàn bộ công trình, phần còn lại thanh toán nốt sau khi  
nghiệm thu, bàn giao. Đối với các dự án sử dụng trên 30% vốn nhà nước, việc thanh toán  
hợp đồng xây dựng phải tuân thủ theo các quy định hiện hành, phù hợp từng loại hợp đồng  
(Theo điều 49, 50 của luật Đấu thầu 2005).  
Thứ hai, về thời hạn thanh toán, nhà thầu và chủ đầu tư thỏa thuận dựa trên kế  
hoạch xây dựng lắp cụ thể đã được phê duyệt, đảm bảo cung ứng vốn kịp thời cho doanh  
nghiệp ngành xây dựng. Đối với các dự án sử dụng trên 30% vốn nhà nước, theo điều 18,  
nghị định 48/2010/NĐ – CP, thời hạn thanh toán do các bên thỏa thuận nhưng không quá 14  
ngày làm việc kể từ ngày bên giao thầu nhận đủ hồ sơ thanh toán hợp lệ theo thỏa thuận  
trong hợp đồng.  
Thứ ba, về điều khoản thay đổi. Trong các bản hợp đồng xây dựng do công ty cổ  
phần ngành xây dựng niêm yết ký kết với chủ đầu tư đều đề cập tới những trường hợp có  
thể thay đổi dự toán xây dựng, đòi hỏi phải điều chỉnh thỏa thuận thanh toán trước đó.  
9
Thứ tư, về biện pháp bảo đảm thanh toán. Thông thường, để bảo vệ quyền lợi của  
chủ đầu tư và nhà thầu, các yêu cầu về bảo đảm thanh toán được quy định cụ thể trong hợp  
đồng. Như đã trình bày ở trên, theo các quy định hiện hành, nhà thầu phải thực hiện bảo  
đảm dự thầu, bảo đảm thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng… nhằm đền bù thiệt hại  
cho chủ đầu tư do tất cả các lỗi của nhà thầu trong quá trình xây dựng. Hình thức bảo đảm  
là đặt cọc, ký quỹ hoặc được bảo lãnh (thường bởi ngân hàng thương mại) với số tiền do  
chủ đầu tư quy định nhưng không vượt quá 10% giá trị hợp đồng.  
Ngược lại, nhà thầu có thể đề nghị chủ đầu tư thuê bảo lãnh thanh toán nhằm đề  
phòng các trường hợp chủ đầu tư mất tích/phá sản, vi phạm hợp đồng, trây ì không thanh  
toán… Tuy nhiên, theo kết quả điều tra bằng phỏng vấn sâu, các doanh nghiệp ngành xây  
dựng (trong đó có các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết) không đủ vị thế để yêu  
cầu chủ đầu tư thực hiện bảo đảm thanh toán, phải dựa vào các quy định pháp luật hiện  
hành để sự bảo vệ quyền lợi khi phát sinh những tình huống nêu trên.  
3.2.2.3 Theo dõi, thu hồi công nợ  
Theo bảng 3.3, khoản mục phải thu chiếm tỷ lệ bình quân 34,27% giá trị tổng tài sản,  
trong đó, chủ yếu là “Phải thu khách hàng” (60,5% - ngoại trừ tổng công ty cổ phần xây  
dựng điện Việt Nam và công ty cổ phần Sông Đà – Thăng Long), còn lại là “Trả trước cho  
người bán” (tạm ứng cho nhà thầu phụ, nhà cung cấp nguyên vật liệu, công nhân viên…) và  
“Phải thu khác”.  
Thứ nhất, theo dõi và tất toán công nợ. Công nợ được theo dõi chi tiết theo từng  
chủ đầu tư, từng dự án, từng tháng/quý… Phân loại nợ quá hạn theo thời gian 30 ngày, 60  
ngày, 90 ngày và hơn 90 ngày với các cấp độ theo dõi, đốc thúc, thu hồi tăng dần. Theo điều  
53, nghị định 85/2009/NĐ – CP hướng dẫn thi hành Luật Đầu thầu (2005, 2009) và lựa  
chọn nhà thầu theo luật Xây dựng (2003), hồ sơ thanh toán bao gồm: Biên bản nghiệm thu  
khối lượng thực hiện trong giai đoạn thanh toán có xác nhận của đại diện nhà thầu, chủ đầu  
tư và tư vấn giám sát (nếu có); Bản xác nhận khối lượng điều chỉnh tăng hoặc giảm so với  
hợp đồng có xác nhận của đại diện nhà thầu, chủ đầu tư và tư vấn giám sát (nếu có); Bảng  
tính giá trị đề nghị thanh toán trên cơ sở khối lượng công việc hoàn thành đã được xác nhận  
và đơn giá ghi trong hợp đồng; Đề nghị thanh toán của nhà thầu, trong đó nêu rõ khối lượng  
đã hoàn thành và giá trị hoàn thành, giá trị tăng (giảm) so với hợp đồng, giá trị đã tạm ứng,  
giá trị đề nghị thanh toán trong giai đoạn thanh toán.  
10  
Thứ hai, trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, theo quy định tại thông tư  
13/2006/TT – BTC hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng nợ khó đòi  
như sau: 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 3 tháng đến dưới 1 năm; 50% giá trị  
đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm và 70% giá trị đối với khoản nợ  
phải thu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm. Đối với nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán  
nhưng tổ chức kinh tế đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người  
nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi  
hành án ... công ty dự kiến mức tổn thất không thu hồi được để trích lập dự phòng.  
Thứ ba, giải quyết tranh chấp phát sinh. Thông thường, nếu chủ đầu tư gặp khó  
khăn nhất thời về tài chính và có thể giải quyết ổn thỏa sau vài tháng, các công ty cổ phần  
ngành xây dựng niêm yết sẽ gia hạn nợ cho chủ đầu tư trong vòng 30 đến 90 ngày và áp  
dụng mức lãi phạt nhất định. Trong trường hợp chủ đầu tư đồng ý sử dụng dịch vụ bảo lãnh  
thanh toán, doanh nghiệp sẽ chuyển hồ sơ, chứng từ cho ngân hàng để được thanh toán theo  
đúng cam kết. Khi chủ đầu tư cố tình chậm trễ trả tiền sau nhiều lần nhắc nhở hoặc bị phá  
sản, bỏ trốn, mất tích, các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết sẽ ngừng thi công đến  
khi nhận đủ tiền hoặc khởi kiện ra tòa để cơ quan pháp luật giải quyết. Theo điều 39, nghị  
định 48/2010/NĐ – CP, các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết được quyền tạm  
ngừng thực hiện công việc trong hợp đồng xây dựng khi bên giao thầu không thanh toán  
cho bên nhận thầu quá 28 ngày kể từ ngày hết hạn thanh toán. Ngoài ra, theo điều 44 của  
nghị định trên, các bên có trách nhiệm thương lượng giải quyết trên cơ sở nội dung hợp  
đồng đã ký kết. Thời gian qua, các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ưu tiên lựa  
chọn giải pháp thương lượng, nếu không đạt được kết quả sẽ khởi kiện lên tòa án, không sử  
dụng trọng tài thương mại.  
3.2.2.4 Tìm kiếm nguồn tài trợ, đối ứng với khoản phải thu  
Tìm kiếm nguồn tài trợ, đối ứng với khoản phải thu là công việc cần thiết, thậm chí  
bức bách đối với các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết. Do trong thực tế, theo kết  
quả khảo sát, 15 công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết đều kinh doanh có lãi (lợi nhuận  
sau thuế > 0) nhưng kết quả đó chưa được hiện thực hóa bằng tiền. Ngoại trừ công ty cổ  
phần Xây lắp dầu khí Nghệ An và công ty cổ phần xây dựng số 9 có giá trị lưu chuyển tiền  
thuần từ kinh doanh lớn hơn lợi nhuận sau thuế, các công ty còn lại đều có tiền tăng thêm ít  
hơn so với lãi kinh doanh. Cá biệt có 8/15 công ty có lưu chuyển tiền thuần từ kinh doanh  
nhỏ hơn 0, chứng tỏ dòng tiền thu không đủ bù đắp nhu cầu chi tiêu mặc dù kinh doanh có  
11  
lãi. Sau khi thực hiện các hoạt động đầu tư và tài trợ, lưu chuyển tiền thuần cả năm 2010  
của các công ty mới được cải thiện.  
Trong ngắn hạn, nếu bên A không thanh toán đầy đủ, đúng hạn, kế toán trưởng hoặc  
giám đốc của công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết có thể thương lượng với các đối tác  
chính như công nhân viên, nhà cung cấp nguyên vật liệu, chủ cho thuê máy móc… để kéo  
dài thời hạn của khoản phải trả cho đến khi nhận được tiền. Ngoài ra, nhà quản lý có thể  
điều chuyển vốn của dự án khác (chưa có nhu cầu sử dụng) sang những dự án đang cần thiết.  
Khi việc thanh toán bị trì hoãn lâu hơn 1 tháng, kế toán trưởng có thể quyết định bán chứng  
khoán thanh khoản, rút tiết kiệm hoặc vay ngắn hạn ngân hàng, tùy theo điều kiện cụ thể  
của doanh nghiệp. Tất yếu phát sinh chi phí lãi vay hoặc chi phí cơ hội.  
3.2.3 Thực trạng quản lý hàng tồn kho tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết  
3.2.3.1 Dự báo nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu  
Cán bộ phòng vật tư (với sự hỗ trợ của nhân viên kỹ thuật) căn cứ vào kế hoạch tiến  
độ thi công của từng dự án đã được các bên phê duyệt, để tính toán chi tiết số m2 sàn, cầu  
thang, sân chơi, số km đường giao thông, đường ống… cần hoàn thành trong kỳ. Kết hợp  
với bảng phân bổ kết cấu (thể hiện yêu cầu kỹ thuật của từng hạng mục) và lượng vật tư tiêu  
hao trung bình, có thể ước lượng được tổng hao phí nguyên vật liệu nói chung và nhu cầu cụ  
thể đối với từng chủng loại hàng hóa (cát, sỏi, gạch, đá, xi măng, sắt, thép, nhựa đường, dây  
điện, đường ống…). Từ đó, lập các danh sách chi tiết nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu theo  
chủng loại vật tư, thời gian phát sinh theo từng dự án/gói thầu và bảng tổng hợp chung toàn  
đơn vị.  
3.2.3.2 Xác định lượng đặt hàng tối ưu  
Theo sự đánh giá của các nhà quản lý được phỏng vấn, mua vật tư theo tiến độ xây  
dựng (không xác định lượng đặt hàng tối ưu chung) cũng là cách đảm bảo hiệu quả kinh tế  
cho các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết, phù hợp với đặc thù ngành nghề kinh  
doanh. Tuy nhiên, không tích trữ nguyên vật liệu cũng khiến nhiều công ty cổ phần ngành  
xây dựng niêm yết lâm vào tình cảnh khó khăn khi giá vật liệu tăng đột biến.  
3.2.3.3 Theo dõi, duy trì hàng tồn kho  
Đối với hàng tồn kho là nguyên vật liệu, do được nhập theo nhu cầu thực tế nên giá  
xuất kho sử dụng là giá đích danh hoặc giá bình quân gia quyền. Nhân viên phòng quản lý  
vật tư – thiết bị cơ giới và phòng kinh tế - kỹ thuật (hoặc kế hoạch) phối hợp để theo dõi  
tiến độ thi công và nhu cầu sử dụng vật tư tại từng hạng mục công trình để lập báo cáo tình  
12  
hình biến động vật tư, tình hình dự trữ theo tiến độ sản xuất, trình ban giám đốc quyết định  
thời điểm và quy mô đặt hàng tiếp theo.  
3.2.3.4 Xác định giá thành, kết chuyển chi phí sản xuất kinh doanh dở dang  
Riêng đối với hàng tồn kho là chi phí xây dựng cơ bản dở dang, dựa trên bảng kiểm  
kê khối lượng dở dang, tập hợp và phân bổ các chi phí sản xuất như nguyên vật liệu, chi phí  
nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí máy thi công công trình, chi phí quản lý,  
chi phí bán hàng – giao dịch... Định kỳ, kế toán xác định khối lượng công việc hoàn thành  
để tính toán doanh thu và giá vốn hàng bán của đơn vị. Theo nghị định 112/2009/NĐ – CP  
về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, Bộ Xây dựng hướng dẫn phương pháp lập  
định mức xây dựng và công bố định mức xây dựng, cách thức xác định và quản lý giá xây  
dựng cho từng công trình.  
3.2.4 Thực trạng quản lý TSCĐ tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết  
3.2.4.1 Lựa chọn cách thức hình thành tài sản cố định  
Hiện nay, các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam thường chỉ sở hữu một  
số thiết bị phổ thông (cần thiết cho mọi công trình), giá trị nhỏ, dễ di chuyển, bao gồm vận  
thăng (tương tự thang máy để vận chuyển nguyên vật liệu và công nhân lên tầng cao), máy  
xúc, máy ủi, máy đào, máy đầm, máy khoan, máy tiện, trạm trộn bê tông, máy bơm, máy  
phát điện, các loại xe vận chuyển, xe cẩu… và các công cụ, dụng cụ như dàn giáo, cốp pha,  
cột chống, tấm mảng, thiết bị đo đạc… Các tài sản này được hình thành bằng cách mua sắm.  
từ Nhật Bản (28% đến 58%), Nga, Đức, Trung Quốc (5% đến 17%), Việt Nam do chất  
lượng tốt, tiết kiệm nhiên liệu, phù hợp với kỹ thuật xây lắp trong nước.  
3.2.4.2 Đánh giá hiệu quả tài chính của quyết định đầu tư  
Hai yếu tố chủ yếu được xem xét khi quyết định mua sắm TSCĐ tại các công ty cổ  
phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam là nhu cầu sử dụng (thường xuyên/không  
thường xuyên) và chi phí tiết kiệm được do không phải đi thuê (so với giá mua mới TSCĐ).  
Sau đó, tài sản nào (mẫu mã, chủng loại, nhà cung cấp…) được lựa chọn dựa trên sự tư vấn  
của nhân viên bán hàng, ngân sách của doanh nghiệp và thậm chí, tỷ lệ chiết khấu cho  
người ra quyết định. Đối với hoạt động thuê thầu phụ, hiệu quả kinh tế được đo bằng chênh  
lệch giữa tỷ lệ sinh lời của doanh nghiệp khi tự xây lắp công trình với tỷ lệ phần trăm thu  
được khi giao thầu lại cho đối tượng khác. Việc lựa chọn nhà thầu phụ chủ yếu dựa trên mối  
quan hệ hợp tác truyền thống, thành viên liên kết (phụ thuộc hoặc độc lập trong cùng một  
tập đoàn, tổng công ty) và tỷ lệ hoa hồng nhà thầu phụ chấp nhận thanh toán.  
13  
3.2.4.3 Định giá, khấu hao tài sản cố định  
Theo điều 4, quyết định 206/2003/QĐ – BTC quy định chế độ quản lý, sử dụng, trích  
khấu hao TSCĐ, nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm (kể cả mua mới và cũ) là giá mua  
thực tế phải trả cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các  
chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng  
sử dụng như: lãi tiền vay đầu tư cho tài sản cố định; chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí  
nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ... Có 3 phương pháp khấu hao để các  
công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết lựa chọn nhưng 100% công ty tiến hành khấu hao  
đều, với số năm sử dụng của TSCĐ tuân theo quy định 206/2003/QĐ – BTC, kế toán trưởng  
chủ động tính toán phù hợp thời gian khấu hao cho từng TSCĐ tại công ty.  
3.2.4.4 Thay thế, thanh lý TSCĐ  
Thông thường, đầu năm, cán bộ phòng Thiết bị - vật tư tập hợp thông tin theo dõi về  
tình hình TSCĐ từ các tổ, đội, công trường xây dựng, kho thiết bị… kết hợp với khối lượng  
xây lắp dự kiến trong năm để lập kế hoạch thay thế, thanh lý, đầu tư bổ sung TSCĐ cho  
doanh nghiệp.  
3.3 Đánh giá thực trạng quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm  
yết ở Việt Nam  
3.3.1 Kết quả đạt được  
Bảng 3.15 Giá trị trung bình một số chỉ tiêu đánh giá quản lý tài sản tại các công ty cổ  
phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam  
Chỉ tiêu  
2006 2007 2008 2009 2010  
Khả năng thanh toán ngắn hạn (lần)  
Khả năng thanh toán tức nhanh (lần)  
Vòng quay hàng tồn kho (vòng/năm)  
Hệ số sinh lời tổng tài sản - ROA (%)  
1,23  
0,81  
3,66  
4,75  
1,29  
0,69  
3,44  
5,25  
16,8  
1,26  
0,69  
3,01  
4,82  
14,7  
1,19  
0,79  
3,92  
4,77  
16,2  
1,32  
0,76  
3,55  
4,45  
13,8  
Hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu – ROE (%) 21,3  
Nguồn: [31] và tính toán của tác giả  
Khả năng thanh toán ngắn hạn bình quân khá ổn định giữa các năm và đều xoay  
quanh giá trị 1, chứng tỏ các công ty cổ phần xây dựng niêm yết nhìn chung có giá trị tài  
sản ngắn hạn đủ để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. So với các công ty cổ phần niêm yết  
thuộc ngành khác, chỉ tiêu này không quá chênh lệch (theo dõi bảng 3.10). Khả năng thanh  
toán nhanh có giá trị trung bình hàng năm từ 0,7 lần tới 0,8 lần chứng tỏ năng lực thanh toán  
14  
của công ty cổ phần xây dựng niêm yết không phụ thuộc nhiều vào hàng tồn kho. Không  
bán dự trữ, các doanh nghiệp có thể thanh toán tới 80% tổng số nợ ngắn hạn.  
ROA bình quân bằng 4,67 % chứng tỏ từ 100 đồng vốn đầu tư vào tổng tài sản nói  
chung tại công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết, được khai thác hợp lý, đem lại 4,67  
đồng (lợi nhuận sau thuế và lãi). Xét trong năm 2010, tỷ lệ này cao hơn các công ty cổ phần  
niêm yết thuộc ngành công nghiệp, dịch vụ công cộng, tài chính và viễn thông.  
ROE trung bình bằng 16,5% (trong 5 năm) nghĩa là nếu chủ sở hữu đầu tư 100 đồng  
vào các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam, sau 1 năm thu được bình  
quân 16,5 đồng lợi nhuận (hoặc cổ tức). Năm 2010, ROE của các công ty cổ phần ngành  
xây dựng niêm yết bằng 13,8%, cao hơn ngành công nghiệp, dịch vụ công cộng, dịch vụ  
tiêu dùng và viễn thông.  
3.3.2 Hạn chế  
Bảng 3.16 Giá trị trung bình một số chỉ tiêu đánh giá quản lý tài sản của các công ty cổ  
phần xây dựng niêm yết ở Việt Nam  
Chỉ tiêu  
2006  
2007  
2008  
2009  
2010  
Khả năng thanh toán tức thời (lần)  
Kỳ thu tiền bình quân (ngày)  
Hiệu suất sử dụng TSCĐ (lần)  
Hệ số sinh lời TSCĐ (lần)  
0,13  
0,14  
0,14  
0,18  
0,15  
136,3 166,4 163,9 170,7 187,9  
8,91  
0,39  
9,91  
0,58  
8,31  
0,42  
7,13  
0,41  
6,18  
0,41  
/Nguồn: [31] và tính toán của tác giả  
Thứ nhất, khả năng thanh toán có xu hướng giảm và thấp hơn các công ty cổ  
phần niêm yết thuộc ngành nghề khác, đặc biệt, khả năng thanh toán tức thời giảm hẳn so  
với Khả năng thanh toán nhanh, chỉ đạt mức bình quân 0,15 lần trong 5 năm. Tức là, nếu  
không thu hồi các khoản nợ, dùng tiền sẵn có chỉ trả được 15% nợ ngắn hạn, nếu chủ đầu tư  
không thanh toán nợ đúng hạn, thanh khoản của doanh nghiệp sẽ bị đe dọa.  
Thứ hai, kỳ thu tiền bình quân quá dài, trung bình từ 4 tháng đến 6 tháng ghi nhận  
doanh thu (theo khối lượng công việc hoàn thành), công ty cổ phần xây dựng niêm yết mới  
được thanh toán đầy đủ.  
Thứ ba, hiệu suất sử dụng TSCĐ cao, xấp xỉ 8 lần song thực tế không phản ánh  
đúng khả năng khai thác TSCĐ trong sản xuất – kinh doanh vì còn một lượng lớn máy  
móc, thiết bị được thuê ngoài theo từng hạng mục công trình (thuê riêng máy móc hoặc thuê  
thầu phụ), góp phần tạo nên doanh thu cho doanh nghiệp nhưng không được tính vào giá trị  
15  
TSCĐ trên bảng cân đối kế toán. Chính vì vậy, giá trị Hệ số sinh lời TSCĐ nhỏ hơn nhiều  
(từ 15 đến 30 lần) do chi phí thuê ngoài đã được khấu trừ để xác định lợi nhuận sau thuế.  
Thứ tư, hệ số sinh lời tổng tài sản ROA và hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu ROE đều  
có xu hướng giảm, cho thấy những nỗ lực trong việc quản lý tài sản thời gian qua đã không  
đem lại hiệu quả như mong muốn.  
Thứ năm, xét riêng trong năm 2010, ROA bình quân bằng 4,45% (ở mức bình  
quân so với các ngành nghề khác ) song chỉ có 43/104 công ty công ty cổ phần ngành xây  
dựng niêm yết có ROA cao hơn mức bình quân. Cá biệt, có 7 công ty có ROA < 1% nghĩa  
là từ 100 đồng tổng tài sản của doanh nghiệp, sau 1 năm, chỉ tạo được ít hơn 1 đồng lợi  
nhuận sau thuế và lãi vay. Đồng thời, đây là những công ty có ROE thấp (nhỏ hơn mức bình  
quân 13,8%). Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới thu nhập trong năm của chủ sở hữu và  
chủ nợ, đòi hỏi phải có biện pháp cải thiện tình hình.  
3.3.3 Nguyên nhân của hạn chế  
3.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan  
Những hạn chế trong quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm  
yết xuất phát từ nhiều nguyên nhân như Nhận thức và trình độ của cán bộ, công nhân viên  
tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết còn hạn chế; Quản lý vốn chưa hợp lý  
trên cả hai khía cạnh: cơ cấu vốn và cách thức huy động vốn; Phương tiện quản lý chưa hiện  
đại, thiếu đồng bộ và Bộ máy quản lý chưa phù hợp. Trong đó, nguyên nhân về quản lý vốn  
có tác động lớn nhất.  
Từ năm 2006 đến năm 2010, cơ cấu vốn của các công ty cổ phần ngành xây dựng  
niêm yết được duy trì ổn định (chênh lệch giữa các năm từ 1% đến 2% - trừ năm 2006) với  
tỷ lệ nợ trong tổng nguồn vốn luôn ở ngưỡng 66% trở lên, cá biệt có một số công ty như  
Xây dựng Sông Đà – Thăng Long, Xây lắp và đầu tư Sông Đà, Xây dựng số 21, Sông Đà 27  
thường xuyên huy động nợ tới 90% tổng nguồn vốn. Tỷ lệ nợ ngắn hạn xấp xỉ 60% trong  
tổng nợ của công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết.  
Bảng 3.19 Cơ cấu tài trợ của các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam  
Đơn vị tính: %  
Năm  
2006  
77,84  
64,96  
2007  
66,92  
58,22  
2008  
67,32  
58,20  
2009  
69,41  
58,88  
2010  
66,70  
54,62  
Nợ/tổng Nguồn vốn  
Nợ ngắn hạn/ tổng nợ  
Nguồn: [31] và tính toán của tác giả  
16  
Về lý thuyết, sử dụng nợ tạo nên khoản tiết kiệm thuế, khuyếch đại thu nhập của chủ  
sở hữu thông qua cơ chế đòn bẩy tài chính. Tuy nhiên, khi đó, nhu cầu thanh toán của doanh  
nghiệp tăng lên (cả ngắn hạn lẫn dài hạn), gây áp lực (thậm chí làm thay đổi hành vi) của  
nhà quản lý trong quá trình ra quyết định. Không chỉ duy trì cơ cấu vốn đem lại nhiều điều  
bất lợi, cách thức huy động vốn của các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết cũng  
chưa hợp lý với 4 hình thức chính: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, vốn góp ban  
đầu (phát hành cổ phiếu lần đầu) và lợi nhuận chưa phân phối (hình thành các quỹ từ lợi  
nhuận sau thuế để bổ sung vốn chủ sở hữu). Đây là những hình thức truyền thống, được áp  
dụng phổ biến tại 75% các doanh nghiệp Việt Nam (dù tổ chức theo mô hình công ty Nhà  
nước, trách nhiệm hữu hạn hay cổ phần).  
3.3.3.2 Nguyên nhân khách quan  
Ngoài các nguyên nhân chủ quan nêu trên, còn tồn tại những nguyên nhân khách  
quan dẫn tới các hạn chế trong quản lý tài sản tại các doanh nghiệp ngành xây dựng nói  
chung và công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết nói riêng. Nổi bật là các dịch vụ hỗ trợ  
quản lý công nợ của doanh nghiệp ngành xây dựng chưa phát triển.  
Hiện tại, cả nước có khoảng 7.000 luật sư [40], làm việc tại các Đoàn luật sư, Văn  
phòng luật sư, công ty luật… tập trung tại những thành phố lớn, chủ yếu tham gia tư vấn  
hoặc bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp tại tòa án khi có vấn đề phát sinh hơn là tư vấn xây  
dựng quy trình hoạt động để phòng tránh rủi ro (đặc biệt ở khâu soạn thảo quy chế, điều lệ  
hay hợp đồng). Ngoài giới luật sư, tính đến hết năm 2010, cả nước có 207 trọng tài viên,  
làm việc tại 6 trung tâm trọng tài thương mại [40]. Từ năm 2004 đến 2009, các trung tâm  
này giải quyết được 283 vụ việc nhưng không có vụ việc nào liên quan tới công nợ giữa nhà  
thầu xây dựng và chủ đầu tư [40]. Đồng thời, hoạt động tuyên truyền, quảng bá để thay đổi  
nhận thức của cộng đồng dân cư và doanh nghiệp chưa được chú trọng. Ngoài ra, đến năm  
2010, luật Trọng tài thương mại mới chính thức được ban hành, thay thế cho Pháp lệnh  
Trọng tài thương mại, góp phần nâng cao tính pháp lý của hoạt động này.  
Ngoài tư vấn pháp lý, để nhanh chóng thu hồi công nợ, các công ty cổ phần ngành  
xây dựng niêm yết rất cần dịch vụ mua, bán nợ hay đòi nợ thuê. Nhưng đến nay, trên thị  
trường Việt Nam chỉ có duy nhất Công ty mua bán nợ và tài sản tồn động của doanh nghiệp  
(trực thuộc bộ Tài chính) được thành lập từ năm 2003 với mục đích chính là thúc đẩy quá  
trình sắp xếp, cổ phần hóa, giao, bán, khoán và cho thuê doanh nghiệp nhà nước. Hơn nữa,  
17  
sản phẩm xây dựng có tính cá biệt cao, tại Việt Nam cũng chưa có tiền lệ nhà thầu bán nợ  
của bên A cho công ty mua/bán nợ để thu hồi vốn đầu tư vào công trình.  
Hiện tại, chỉ có một số ít công ty đòi nợ thuê được cấp phép thành lập và hoạt động  
hiệu quả như công ty thu nợ Dân An, công ty Song Bảo, công ty cổ phần thu nợ Minh  
Tín…. hoặc các công ty luật (được cấp phép kinh doanh dịch vụ này) như công ty Phú và  
luật sư, văn phòng luật Giải Phóng……. Với các khoản nợ có đầy đủ căn cứ pháp lý, con nợ  
không bỏ trốn, mất tích, phá sản…, tỷ lệ đòi nợ thành công tới 85%. Tuy nhiên, mức phí cao  
(dao động từ 20 đến 50% giá trị khoản nợ đòi được) [44], sau khi thu nợ, các công ty cổ  
phần ngành xây dựng niêm yết sẽ không còn lợi nhuận.  
Hoạt động đấu thầu và quy hoạch xây dựng còn nhiều bất cập về pháp lý và tổ  
chức thực hiện. Các quy định của Nhà nước được thay đổi một cách nhanh chóng (sau 1 tới  
2 năm) đã làm sai lệch kế hoạch tham gia đấu thầu, phân bổ tài chính và quản lý tài sản tại  
các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết. Dẫn tới tình trạng không còn đủ năng lực để  
tham gia đấu thầu khi quy định mới ban hành, có tác dụng mở rộng cơ hội kinh doanh cho  
doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện đầu thầu, vẫn tồn tại hành vi gian lận từ phía chủ  
đầu tư và nhà thầu như thông thầu (chủ đầu tư hoặc các doanh nghiệp tham gia đầu thầu tạo  
điều kiện cho 1 doanh nghiệp xác định trước thắng thầu); Chia tách các gói thầu không hợp  
lý thành các gói thầu quá lớn (khiến các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết nhỏ  
không đủ năng lực dự thầu) hoặc gói thầu quá nhỏ để áp dụng hình thức chỉ định thầu;  
Không thông báo công khai thông tin mời thầu theo quy định của Nhà nước; Kê khai sai  
lệch thông tin dự thầu; Dựa vào năng lực của tổng công ty hoặc tập đoàn để thắng thầu, sau  
đó giao lại cho các công ty con dưới hình thức thầu phụ; Phá giá dự thầu để trúng thầu, sau  
đó tìm lý do để ký phụ lục bổ sung vốn; Trích tỷ lệ hoa hồng cao (từ 15% đến 30% giá trị  
hợp đồng) cho đại diện chủ đầu tư và hội đồng đấu thầu [45]…  
Ngoài ra, việc quy hoạch xây dựng tổng thể, vùng, lãnh thổ thiếu thống nhất đã làm  
gia tăng công nợ của nhiều công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết.  
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI SẢN TẠI CÁC CÔNG TY  
CỔ PHẦN NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM  
4.2 Các giải pháp trực tiếp nhằm tăng cường quản lý tài sản tại các công ty cổ phần  
ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam  
4.2.1 Đánh giá tác động của quản lý tài sản tới ROA, ROE và chỉ số Z của các công ty cổ  
phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam  
18  
Bảng 4.1  
Tác động của quản lý tài sản và hệ số nợ tới ROA, ROE và Z của công ty cổ phần ngành  
xây dựng niêm yết ở Việt Nam  
Chỉ tiêu  
Hệ số tác động  
tới ROA  
0,171  
Hệ số tác động  
tới ROE  
0,268  
Hệ số tác động  
tới Z  
Khả năng thanh toán ngắn hạn  
Kỳ thu tiền bình quân  
0,490  
- 0,301  
- 0,263  
- 0,417  
0,284  
Vòng quay hàng tồn kho  
0,256  
0,295  
Không có ý nghĩa Không có ýnghĩa  
Hiệu suất sử dụng TSCĐ HH  
0,268  
thống kê  
Không có ý nghĩa  
thống kê  
thống kê  
Khôngcóýnghĩa  
thống kê  
Hệ số sinh lời TSCĐ HH  
Hệ số nợ  
0,422  
-0,519  
0,378  
- 0,325  
Không có ý nghĩa Không có ýnghĩa Không có ý nghĩa  
Tổng tài sản  
thống kê  
thống kê  
thống kê  
Khả năng giải thích sự thay đổi  
của biến phụ thuộc  
47%  
43%  
60,4%  
Nguồn: [39] và tính toán của tác giả  
Từ bảng tổng hợp trên, có thể thấy với bộ số liệu năm 2010, chưa đủ căn cứ để thừa  
nhận tác động của quy mô tổng tài sản tới ROA, ROE và chỉ số Z. Dựa vào kết quả ước  
lượng khách quan và khoa học, có thể khẳng định chắc chắn khi các tài sản được quản lý  
chặt chẽ, khoa học, cả ROA, ROE và chỉ số Z đều tăng, nghĩa là nâng cao khả năng sinh lời  
trong khi hoạt động của doanh nghiệp vẫn an toàn, không có nguy cơ phá sản. Mức độ tác  
động của khả năng thanh toán ngắn hạn và kỳ thu tiền bình quân khá lớn nên đòi hỏi nhà  
quản lý cần ưu tiên quản lý dòng tiền và công nợ. Hệ số nợ mặc dù có khả năng khuyếch đại  
ROE nhưng làm giảm giá trị ROA và tăng chỉ số Z, nghĩa là sử dụng đòn bẩy tài chính đem  
lại cho chủ sở hữu tỷ lệ sinh lời cao hơn nhưng không xuất phát từ năng lực sản xuất – kinh  
doanh thực sự của doanh nghiệp, đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro thanh khoản.  
4.2.2 Ứng dụng mô hình Miller – Orr vào quản lý ngân quỹ, nghiên cứu tại công ty cổ  
phần Sông Đà Thăng Long  
- Bước 1: Xác định số dư ngân quỹ tối thiểu: dựa vào số dư tài khoản Tiền và tương  
đương tiền cuối kỳ của 12 quý gần nhất, kết hợp với ý kiến phỏng vấn cán bộ kế toán,  
19  
số dư ngân quỹ tối thiểu đảm bảo an toàn cho công ty được xác định bằng 73,177 tỷ  
VND.  
- Bước 2: Xác định khoảng dao động ngân quỹ d  
3
Cb x Vb  
1/3  
d = 3 x ------ x ---------------  
( 4.13 )  
4
i
Do sông Đà Thăng Long chỉ gửi tiết kiệm có kỳ hạn tại ngân hàng, không nắm giữ  
chứng khoán thanh khoản nên i được xác định bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm, kỳ hạn 12  
tháng. Dựa trên số liệu công bố của Ngân hàng Nhà nước và tính toán của tác giả, lãi suất  
tiết kiệm bình quân trong 3 năm từ 2009 đến 2011 là 12,33%/năm.  
Cb được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm bị mất đi khi công ty rút tiền trước hạn.  
Với lãi suất tiền gửi không kỳ hạn 3%/năm, nếu rút tiền trước hạn, chi phí cơ hội bằng  
9,33%/năm. Ngoài ra, còn một số khoản chi phí khác khi rút tiền như chi phí đi lại, phí rút  
tiền ngoài hệ thống... nhưng theo ý kiến của cán bộ quản lý là không đáng kể.  
Phương sai thu chi ngân quỹ (Vb) được tính toán dựa trên số liệu dòng tiền ròng theo  
ngày của năm 2010 do phòng kế toán cung cấp, bằng 14527,04 tỷ VND.  
Áp dụng công thức (4.13), tính được d = 97,079 tỷ VND.  
- Bước 3: Xác định tồn quỹ tối ưu và tối đa  
M* = M min + d/3 = 105,54 tỷ VND.  
Mmax = M min + d = 170,25 tỷ VND.  
Ngân quỹ tỷ VND  
170,25  
M max  
105,54  
73,177  
0
M*  
M min  
Thời gian  
Hình 4.2 Mô hình Miller – Orr áp dụng tại công ty cổ phần sông Đà Thăng Long  
20  
Dựa vào kết quả trên, tiến hành điều chỉnh ngân quỹ năm 2010 bằng cách rút 44,415 tỷ  
VND tiền gửi tiết kiệm trong quý 2 và trả nợ gốc vay 107,206 tỷ VND trong quý 3, số dư  
ngân quỹ cuối quý đều nằm trong khoảng dao động tiền mặt. Sau khi ứng dụng mô hình  
Miller – Orr, kết quả kinh doanh của công ty cổ phần Sông Đà Thăng Long đã tăng thêm  
2,238 tỷ lợi nhuận sau thuế. Mặc dù quy mô tài sản giảm 104,222 tỷ VND, song nợ ngắn  
hạn cũng giảm tương ứng, sẽ giảm bớt rủi ro thanh khoản cho công ty.  
Bảng 4.8 Tỷ số tài chính của công ty cổ phần Sông Đà Thăng Long trước và sau khi ứng  
dụng mô hình Miller – Orr  
Trước khi ứng dụng  
Sau khi ứng dụng  
mô hình M – O  
Chênh lệch  
Khoản mục  
mô hình M – O  
Khả năng thanh  
toán ngắn hạn  
hệ số nợ  
1,0788  
1,0827  
0,0040  
-0,13%  
95,24%  
95,10%  
Doanh lợi doanh  
thu  
ROA  
3,90%  
1,46%  
30,60%  
4,01%  
1,53%  
31,18%  
0,11%  
0,07%  
0,58%  
ROE  
Một lần nữa, có thể khẳng định, việc ứng dụng mô hình Miller – Orr trong quản lý  
ngân quỹ tại công ty cổ phần Sông Đà Thăng Long đã đem lại tác dụng tích cực: tăng khả  
năng thanh toán và khả năng sinh lời, giảm hệ số nợ. Nghĩa là, các giải pháp xử lý ngân quỹ  
thích hợp, một mặt, củng cố khả năng thanh toán, mặt khác, tận dụng khả năng sinh lời. Nói  
cách khác, việc quản lý ngân quỹ chặt chẽ, khoa học góp phần đạt mục tiêu tối đa hóa giá trị  
tài sản của chủ sở hữu trong điều kiện an toàn (không gia tăng áp lực trả nợ)…..  
4.2.3 Sử dụng kết hợp phần mềm quản lý và kế toán công nợ, hàng tồn kho và TSCĐ tại  
các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết  
Ngoài những tính năng thông thường như gắn mã số, theo dõi, phân loại, kiểm kê,  
quản lý chứng từ giao dịch một cách khoa học, những phần mềm này hỗ trợ cán bộ quản lý  
lập kế hoạch, báo cáo tổng kết, dự kiến các kết quả tương ứng khi thay đổi thông số đầu vào  
(hữu hiệu trong việc lựa chọn phương án khấu hao, đầu tư hay tài trợ ngân quỹ). Các phần  
mềm hiện đại có thể bổ sung tính năng gửi thông báo tự động (theo lịch trình thiết kế từ ban  
đầu) tới hòm thư điện tử của cán bộ quản lý để nhắc nhở/cảnh báo về tiến độ xây dựng,  
công nợ phát sinh, nguy cơ thiếu hụt vật tư hay đến hạn sửa chữa, bảo dưỡng máy móc…  
Với sự hỗ trợ đặc lực của phương tiện quản lý hiện đại, năng suất và hiệu quả lao động của  
cán bộ quản lý sẽ được cải thiện đáng kể.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 25 trang yennguyen 18300 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_quan_ly_tai_san_tai_cac_cong_ty_co_phan_ngan.pdf