Luận văn Nghiên cứu phương pháp cải tiến giao thức định tuyến AOMDV nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ cho mạng MANET

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
Hà Mạnh Huy  
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP CẢI TIẾN GIAO THỨC  
ĐỊNH TUYẾN AOMDV NHẰM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG  
DỊCH VỤ CHO MẠNG MANET  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH  
Thái Nguyên - 2020  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
Hà Mạnh Huy  
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP CẢI TIẾN GIAO THỨC  
ĐỊNH TUYẾN AOMDV NHẰM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG  
DỊCH VỤ CHO MẠNG MANET  
Ngành: Khoa học máy tính  
Mã số: 8480101  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
TS. ĐỖ ĐÌNH CƯỜNG  
Thái Nguyên - 2020  
LỜI CẢM ƠN  
Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài luận văn: “Nghiên cứu phương  
pháp cải tiến giao thức định tuyến AOMDV nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ  
cho mạng MANET” tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các  
thầy, cô giáo thuộc Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông –  
Đại học Thái Nguyên để hoàn thành luận văn này.  
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban giám  
hiệu, phòng Đào tạo, Khoa Công nghệ thông tin, các thầy giáo, cô giáo thuộc  
Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên  
đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,  
nghiên cứu.  
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đặc biệt đến Thầy TS. Đỗ Đình Cường - người  
đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về kiến thức, tài liệu và phương pháp để tôi  
hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ này.  
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động  
viên, cổ vũ, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.  
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, song có  
thể còn có những mặt hạn chế, thiếu sót. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng  
góp và sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn  
được hoàn thiện.  
Thái Nguyên, ngày … tháng …. năm 2020  
Học viên  
Hà Mạnh Huy  
MỤC LỤC  
1
MỞ ĐẦU  
Được hình thành bởi các kết nối tạm thời giữa các nút mạng di động không  
có sự hỗ trợ của cơ sở hạ tầng mạng cố định, mạng MANET có nhiều những  
đặc điểm khác biệt so với mạng không dây và có dây truyền thống làm nảy sinh  
nhiều thách thức và các hướng nghiên cứu khác nhau Định tuyến trong mạng  
MANET đã và đang là một vấn đề rất cần được quan tâm giải quyết trong những  
nghiên cứu cải tiến hiệu năng mạng MANET.  
Đã có nhiều cải tiến nghiên cứu được đề xuất nhằm cải tiến các giao thức  
định tuyến cho mạng MANET. Có thể phân nhóm các nghiên cứu này theo mục  
tiêu của chúng bao gồm: Tăng độ bền vững của đường được chọn, nâng cao  
hiệu quả định tuyến, đảm bảo an ninh trong định tuyến, định tuyến hỗ trợ QoS,  
định tuyến với cơ chế tiết kiệm năng lượng. Trong từng ngữ cảnh triển khai  
mạng MANET với các yêu cầu cụ thể, cần lựa chọn, cải tiến và sử dụng giao  
thức định tuyến một cách phù hợp.  
Đối với vấn đề định tuyến hỗ trợ QoS, các giao thức định tuyến phải có  
khả năng chọn đường phù hợp với yêu cầu QoS của dữ liệu cần truyền. Tại mỗi  
nút mạng, các luồng dữ liệu có yêu cầu QoS khác nhau có thể truyền theo các  
con đường khác nhau. Do các giao thức định tuyến đơn đường chỉ hỗ trợ tìm  
một đường duy nhất sau tiến trình định tuyến nên không thể chọn được các  
đường khác nhau theo các luồng dữ liệu có yêu cầu QoS khác nhau. Do đó, các  
giao thức định tuyến đa đường là lựa chọn thích hợp để tích hợp cơ chế định  
tuyến QoS.  
Các giao thức định tuyến đa đường có khả năng tìm và sử dụng nhiều  
đường đồng thời từ một nút nguồn tới một nút đích. Trong thời gian qua, đã có  
nhiều giao thức định tuyến đa đường được đề xuất. Tuy nhiên trong các giao  
thức định tuyến đa đường đã được đề xuất này, vấn đề định tuyến theo yêu cầu  
 
2
chất lượng dịch vụ của các lớp chương trình ứng dụng phân loại theo chuẩn  
ITU-T G.1010 vẫn chưa được giải quyết.  
Mục tiêu chính của đề tài này là nghiên cứu phương pháp cải tiến cho giao  
thức đa đường AOMDV trên cơ sở các đề xuất về phương pháp phân lớp các  
ứng dụng theo yêu cầu chất lượng dịch vụ theo chuẩn ITU-T G1010, phương  
pháp tính trọng số cho các tham số chất lượng dịch vụ, kỹ thuật dự đoán chất  
lượng liên kết tại tầng MAC, phương pháp triển khai cải tiến giao thức  
AOMDV theo cách tiếp cận liên tầng đảm bảo yêu cầu QoS, kiểm nghiệm và  
đánh giá kết quả của các cải tiến đã đề xuất trên cơ sở mô phỏng.  
Luận văn có bố cục như sau: Sau phần mở đầu, Chương 1 của luận văn  
là nội dung giới thiệu tổng quan về mạng MANET, giao thức định tuyến đa  
đường AOMDV và một số kỹ thuật cải tiến giao thức định tuyến AOMDV. Chi  
tiết của phương pháp cải tiến giao thức định tuyến AOMDV nhằm đảm bảo  
chất lượng dịch vụ cho mạng MANET được trình bày trong Chương 2. Kết quả  
của các thực nghiệm nhằm kiểm nghiệm, đánh giá hiệu quả của phương pháp  
cải tiến so với phương pháp ban đầu được trình bày trong Chương 3. Cuối cùng  
là phần kết luận đưa ra những nội dung tổng kết và hướng phát triển của luận  
văn.  
3
CHƯƠNG 1. ĐỊNH TUYẾN ĐA ĐƯỜNG TRONG MẠNG MANET  
1.1. Tổng quan về mạng MANET  
1.1.1. Định nghĩa mạng MANET  
Mạng ad hoc di động (MANET) [5] là một mạng được hình thành bởi  
một tập các nút (máy/thiết bị) không dây, di động mà không hề có bất cứ sự trợ  
giúp nào của một trạm quản lý tập trung, một cơ sở hạ tầng truyền thông có  
trước hoặc sự can thiệp của người dùng. Việc truyền thông giữa các nút được  
thực hiện nếu như hai nút là đủ gần nhau để trao đổi các gói tin.  
Hình 1.1. Ví dụ về một mạng MANET  
Có thể hình dung mạng MANET như một đồ thị, trong đó các nút mạng  
được biểu diễn bởi các đỉnh của đồ thị. Nếu hai nút có thể truyền thông trực  
tiếp với nhau, liên kết đó được biểu diễn bởi đường nối giữa hai nút. Đồ thị  
biểu diễn này là một đồ thị tùy ý, có thể thay đổi hình dạng tại bất cứ thời điểm  
nào.  
Mạng MANET có thể là một mạng độc lập, hoặc cũng có thể được kết  
nối với một mạng khác lớn hơn, ví dụ mạng Internet.  
     
4
Trong Hình 1.1 là một ví dụ về một mạng MANET gồm 7 nút. Phạm vi  
truyền thông của mỗi nút được biểu diễn bằng một hình tròn. Các nút nằm trong  
phạm vi truyền thông của nhau có thể truyền thông trực tiếp được với nhau.  
Kết nối giữa các nút mạng được đặc trưng bởi khoảng cách giữa các nút  
và tính sẵn sàng hợp tác để tạo thành mạng mặc dù là tạm thời. Các tính chất  
đặc trưng của kết nối trong mạng MANET bao gồm:  
(1) Khoảng cách giữa các nút: Khoảng cách giữa các nút hoặc trạng thái ở  
gần nhau của chúng định nghĩa ranh giới mạng. Chỉ cần hai hoặc nhiều nút  
chuyển động trong một bán kính nhất định là tạo thành một mạng ad-hoc. Chính  
sự chuyển động làm cho khoảng cách giữa các nút thay đổi gây ra bản chất đặc  
biệt (ad-hoc) của mạng.  
(2) Tính sẵn sàng hợp tác: (1) chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện  
đủ để thành lập mạng ad-hoc. Các nút ở trong khoảng cách đủ gần phải sẵn  
sàng hợp tác để tạo thành mạng. Nói cách khác, tự bản thân nút quyết định  
“online” hay “offline”.  
(3) Mạng ngang hàng tạm thời: Tại bất cứ một thời điểm nào, mạng ad-hoc  
được xác định bởi các nút đang “online” và ở trong một khoảng cách nhất định.  
Một nút luôn có xu hướng tham gia hay biến mất khỏi mạng. Do đó, mạng được  
coi là tạm thời. Hơn nữa, do không có một cơ sở hạ tầng mạng cho trước, các  
nút trong mạng phải truyền thông theo kiểu ngang hàng (peer-to-peer).  
1.1.2. Đặc điểm của mạng MANET  
Do ad hoc là một mạng không dây hoạt động không cần sự hỗ trợ của hạ  
tầng mạng cơ sở trên cơ sở truyền thông đa chặng giữa các thiết bị di động vừa  
đóng vai trò là thiết bị đầu cuối, vừa đóng vai trò là bộ định tuyến nên mạng ad  
hoc di động còn có một số đặc điểm nổi bật sau [4]:  
 
5
Các nút mạng có tài nguyên hạn chế: Mỗi nút di động trong mạng có thể là  
một bộ cảm biến, một điện thoại thông minh hoặc một máy tính xách tay.  
Thông thường các thiết bị này có tài nguyên hạn chế so với các máy tính  
trong mạng có dây và không dây truyền thống về tốc độ xử lý, dung lượng  
bộ nhớ và năng lượng nguồn pin nuôi sống hoạt động của nút.  
Chất lượng liên kết hạn chế: Các liên kết không dây thường có băng thông  
nhỏ hơn so với các liên kết có dây. Ngoài ra, do ảnh hưởng của cơ chế đa  
truy cập, vấn đề suy giảm tín hiệu, nhiễu và các yếu tố khác, băng thông  
thực của các liên kết không dây thường thấp hơn nhiều so với tốc độ truyền  
tối đa theo lý thuyết của môi trường truyền không dây.  
Cấu trúc động: Do tính chất di chuyển ngẫu nhiên của các nút mạng nên cấu  
trúc của loại mạng này cũng thường xuyên thay đổi một cách ngẫu nhiên ở  
những thời điểm không xác định trước. Trong khi thay đổi, cấu trúc của  
mạng có thêm hoặc mất đi các kết nối hai chiều hoặc kết nối một chiều.  
Độ bảo mật thấp ở mức độ vật lý: Mạng không dây di động thường chịu tác  
động về mặt vật lý từ các nguồn gây nguy hại về an ninh nhiều hơn so với  
mạng có dây. Về khía cạnh vật lý, các kỹ thuật gây mất an ninh và bảo mật  
trong mạng như nghe lén, giả mạo và tấn công từ chối dịch vụ thường dễ  
triển khai trong mạng ad ho di động hơn là trong mạng có dây truyền thống.  
Có thể thấy những đặc điểm này là các yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến  
hiệu năng của mạng ad hoc di động. Để có thể triển khai được mạng ad hoc di  
động trong thực tế, các thiết kế mạng phải giải quyết được những thách thức  
sinh ra do những đặc điểm đã nêu trên của mạng. Những thách thức này gồm  
các vấn đề kỹ thuật như khả năng truyền dữ liệu và định tuyến hiệu quả khi  
kích thước mạng thay đổi; đảm bảo chất lượng dịch vụ (QoS) cho các chương  
trình ứng dụng; cơ chế chuyển đổi một số dịch vụ từ mô hình client-server; tiết  
6
kiệm năng lượng pin để kéo dài thời gian hoạt động của các nút mạng riêng lẻ  
và của toàn mạng; đảm bảo an ninh mạng; khả năng hợp tác giữa các nút mạng  
và khả năng tự tổ chức của mạng;  
1.1.3. Ứng dụng của mạng MANET  
Các công nghệ của mạng không dây kiểu không cấu trúc đem lại rất nhiều  
lợi ích so với các mạng truyền thống (cả không dây và có dây) trong những ngữ  
cảnh khó có thể triển khai được một cơ sở hạ tầng mạng cố định hoặc việc triển  
khai là không khả thi do những lý do về mặt thực hành (địa hình,…) hoặc do  
những lý do về kinh tế (chi phí cáp trong một không gian lớn, chi phí thiết lập  
nhiều điểm truy cập). Phần dưới đây sẽ giới thiệu các ứng dụng của mạng  
MANET.  
1.1.3.1. Ứng dụng trong quân đội  
Những thành tựu mới của công nghệ thông tin thường được áp dụng trong  
quân sự đầu tiên, và mạng không dây kiểu không cấu trúc cũng không phải là  
một ngoại lệ. Nhiều năm nay, quân đội đã sử dụng các mạng “packet radios” –  
một nguyên mẫu đầu tiên của mạng chuyển mạch gói không dây ngày nay.  
Giải pháp mạng MANET cho quân đội có những đặc điểm khác so với  
mạng MANET thuần túy [1]  
Mạng MANET thuần túy thường tuân theo một mô hình điểm ngẫu  
nhiên, các nút tự do di chuyển theo bất cứ hướng nào, với bất cứ tốc độ nào.  
Trong mô hình mạng MANET cho quân đội, các nút phân nhóm theo bản chất  
tự nhiên của chúng khi chúng cùng thực hiện một nhiệm vụ cụ thể. Xu hướng  
di động ở đây là theo nhóm. Hình 1.2 minh hoạ sự khác nhau về mô hình di  
động của mạng MANET thuần tuý và mạng MANET trong quân đội.  
   
7
Mạng MANET thuần túy  
Mạng MANET quân đội  
Hình 1.2. Mô hình di động mạng MANET thuần túy và mạng MANET quân  
đội  
Do đó, nếu đưa ra được một mô hình chuyển động theo nhóm, các vấn  
đề của mạng MANET sẽ trở nên cụ thể hơn (ví dụ: định tuyến, sử dụng các ứng  
dụng thời gian thực như tiếng nói, video,…), cho phép phát triển một giải pháp  
tối ưu.  
1..1.3.2. Các ứng dụng trong cuộc sống  
Mạng MANET là rất lý tưởng trong các trường hợp không có sẵn một cơ  
sở hạ tầng thông tin, tuy nhiên lại cần phải thành lập một mạng tạm thời nhằm  
trao đổi thông tin và hợp tác cùng làm việc.  
Tại các vùng bị thiên tai, thảm họa, khó có thể có được một cơ sở hạ tầng  
về thông tin vững chắc. Hệ thống có trước đó rất có thể bị hỏng hoặc bị phá  
hủy hoàn toàn.  
Tại vùng có thảm họa, tất cả các phương tiện và hệ thống truyền thông  
đều bị phá hủy hoàn toàn. Mỗi chiếc xe của cảnh sát, cứu hỏa, cứu thương,…  
đều được trang bị như một thiết bị đầu cuối di động – là một phần của mạng  
ad-hoc. Mỗi nhân viên cũng mang theo một thiết bị đầu cuối di động. Các thiết  
bị đầu cuối này đều liên kết với nhau, hình thành nên một mạng tạm thời nhằm  
 
8
trao đổi thông tin. Cấu hình mạng thay đổi theo những thời điểm khác nhau.  
Ngoài ra, các thiết bị đầu cuối di động không chỉ cung cấp chức năng gửi và  
nhận thông tin mà còn có thể chuyển tiếp thông tin – đóng vai trò như router  
trên Internet.  
Đối với ứng dụng trong hội thảo, khác với cách làm truyền thống khi  
những người tham gia hội thảo muốn chia sẻ tài liệu cho nhau là gửi file đính  
kèm qua email hoặc sao chép qua các thiết bị lưu trữ thứ cấp có khả năng di  
động, tất cả những người tham dự hội thảo đều có thể sử dụng thiết bị di động  
để tạo thành một mạng ad-hoc trong suốt thời gian đó. Các thiết bị có thể truyền  
thông với nhau, truyền/nhận các tài liệu được sử dụng trong hội thảo. Khi hội  
thảo kết thúc, các thiết bị được tắt nguồn, mạng tự bị hủy bỏ.  
Mạng MANET cũng có thể ứng dụng trong cuộc sống. Chẳng hạn như  
mạng động được hình thành từ hai thiết bị cầm tay thông minh của các em học  
sinh để chơi game. Môi trường mạng ở đây là một mạng không dây kiểu không  
cấu trúc thuần túy, tức là không có cơ sở hạ tầng về cáp, các thiết bị đầu cuối  
tự cấu hình để thành lập mạng, mà không có sự quản lý tập trung. Mạng này có  
thể tự chia nhỏ thành các mạng con: một mạng riêng giữa em học sinh và bạn  
của em, một mạng “chung” được khởi tạo bởi người muốn chia sẻ các chương  
trình trò chơi điện tử trên máy của anh ta. Hai mạng này được trộn lẫn vào nhau  
một cách linh động.  
1.3.1.3. Mạng cảm biến  
Cảm biến là các thiết bị nhỏ, phân tán, giá thành thấp, tiết kiệm năng  
lượng, có khả năng truyền thông không dây và xử lý cục bộ. Mạng cảm biến là  
mạng gồm các nút cảm biến (sensor) – các nút này hợp tác với nhau để cùng  
thực hiện một nhiệm vụ cụ thể, ví dụ như: giám sát môi trường (không khí, đất,  
 
9
nước), theo dõi môi trường sống, hành vi, dân số của các loài động, thực vật,  
dò tìm động chấn, theo dõi tài nguyên, thực hiện trinh thám trong quân đội,...  
Trước đây mạng cảm biến thường bao gồm một lượng nhỏ các nút cảm  
biến được kết nối bằng cáp tới một trạm xử lý tập trung. Ngày nay, các nút  
mạng cảm biến thường là không dây, phân tán để vượt qua các trở ngại vật lý  
của môi trường, tiết kiệm năng lượng và do trong nhiều trường hợp không thể  
có được một hạ tầng có sẵn về năng lượng và truyền thông.  
Công nghệ mạng không dây kiểu không cấu trúc thường được áp dụng  
để triển khai mạng cảm biến do:  
Các nút cảm biến được phân tán trong vùng không có sẵn cơ sở hạ tầng  
về truyền thông và năng lượng. Các nút phải tự hình thành kết nối.  
Các nút phải tự tự cấu hình, tự hoạt động trong bất cứ trường hợp nào  
Cấu hình mạng luôn có thể thay đổi (các nút cảm biến bị hỏng, các nút  
mới được thêm vào,…), mạng cảm biến phải tự thích nghi với những  
thay đổi này.  
1.3.1.4. Mạng Rooftop  
Là một công nghệ đang bùng nổ để cung cấp truy cập mạng băng thông  
rộng tới các gia đình, một cách để thay thế ADSL (Asymmetric Digital  
Subscriber Line) và các công nghệ tương tự khác. Mạng rooftop sử dụng công  
nghệ mạng ad-hoc để mở rộng phạm vi của một số điểm truy cập – các điểm  
này được nối với nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP). Mỗi người truy cập được  
trang bị một router ad-hoc cho phép chuyển tiếp lưu lượng thay mặt những  
người truy cập khác.  
Từ khía cạnh ad-hoc, những mạng MANET như vậy là tương đối tĩnh –  
cấu hình của mạng hiếm khi thay đổi.  
 
10  
Hình 1.3. Một ví dụ về mạng Rooftop  
1.3.1.5. Mở rộng phạm vi của điểm truy cập  
Trong các mạng không dây được sử dụng rộng rãi ngày nay, các nút mạng  
di động được kết nối với các điểm truy cập theo cấu hình hình sao. Để được kết  
nối vào mạng, người sử dụng phải ở trong phạm vi truy cập của mạng. Do phạm  
vi truy cập này là giới hạn và cơ sở hạ tầng một chặng (one-hop) của cấu hình  
này, các điểm truy cập phải được trải rộng trong toàn bộ vùng, bao phủ khắp  
những nơi muốn kết nối với nhau.  
Sử dụng mạng không dây kiểu không cấu trúc, nhu cầu cần các điểm truy  
cập sẽ giảm – người sử dụng bên ngoài phạm vi truy cập sẽ vẫn có thể được  
“tiếp sóng” thông qua một hoặc nhiều nút trung gian để truy cập được vào  
mạng.  
1.2. Giao thức định tuyến đa đường AOMDV  
1.2.1. Tổng quan về giao thức AOMDV  
Giao thức AOMDV [7] là giao thức định tuyến đa đường theo yêu cầu  
dạng vectơ khoảng cách được thiết kế dành cho mạng MANET. Nó được phát  
     
11  
triển từ giao thức AODV trên cơ sở chia sẻ một số đặc điểm với giao thức  
AODV. Nó dựa trên khái niệm vectơ khoảng cách và sử dụng phương pháp  
định tuyến từng chặng. Hơn nữa, giao thức AOMDV cũng tìm thấy các đường  
theo yêu cầu bằng cách sử dụng tiến trình khám phá đường. Sự khác biệt chính  
giữa hai giao thức này nằm ở số lượng đường tìm được sau mỗi tiến trình khám  
phá tuyến. Trong giao thức AOMDV, việc truyền gói RREQ từ nguồn tới đích  
sẽ thiết lập nhiều đường dẫn ngược ở cả các nút trung gian cũng như nút đích.  
Nhiều gói RREP đi qua các đường nghịch hướng về nút nguồn để tạo thành  
nhiều đường thuận đến đích tại các nút nguồn và nút trung gian. Giao thức  
AOMDV cũng cung cấp cho các nút trung gian các đường dự phòng nhằm làm  
giảm tần suất khám phá đường.  
Vấn đề trọng tâm của giao thức AOMDV là vấn đề đảm bảo phát hiện  
được nhiều đường không lặp và phân tách trong tiến trình tìm đường hiệu quả  
bằng cách sử dụng tiến trình khám phá đường dựa vào kỹ thuật “làm ngập tràn”  
(flooding). Các quy tắc cập nhật đường của giao thức AOMDV được áp dụng  
cục bộ tại mỗi nút đóng vai trò chính trong việc duy trì các đường không lặp và  
phân tách. Các nội dung được trình bày trong chương này là các ý tưởng chính  
để đạt được hai thuộc tính này. Các phần tiếp sẽ trình bày cách đưa những ý  
tưởng đó vào giao thức AOMDV bao gồm mô tả chi tiết các quy tắc cập nhật  
đường tại mỗi nút và tiến trình khám phá đa đường.  
Đề xuất thiết kế giao thức AOMDV tái sử dụng nhiều nhất có thể những  
thông tin định tuyến đã có sẵn trong giao thức AODV. Do đó, nó hạn chế chi  
phí phát sinh trong việc khám phá nhiều đường. Đặc biệt, nó không sử dụng  
thêm bất kỳ gói điều khiển đặc biệt nào. Trên thực tế, các gói RREP và RERR  
bổ sung để phát hiện và bảo trì đa đường cùng với một vài trường bổ sung trong  
các gói điều khiển định tuyến (RREQ, RREP và RERR) là chi phí bổ sung duy  
nhất trong giao thức AOMDV so với giao thức AODV.  
12  
1.2.2. Vấn đề chống định tuyến lặp  
Các quy tắc cập nhật tuyến của giao thức AODV giới hạn một nút chỉ tìm  
được tối đa một đường cho mỗi đích. Do đó, cần thiết phải sửa đổi các quy tắc  
cập nhật đường này để tại mỗi nút có nhiều hơn một đường cho mỗi đích. Tuy  
nhiên, những sửa đổi này cần được thực hiện để đảm bảo vấn đề tránh định  
tuyến lặp. Có hai vấn đề phát sinh khi tính toán nhiều đường dẫn không lặp tại  
một nút cho một đích. Một là, mỗi nút sẽ chọn đường nào trong nhiều đường  
để cung cấp hoặc quảng bá cho các nút khác? Do mỗi tuyến đường có thể có  
số chặng khác nhau nên việc lựa chọn một đường bất kỳ có thể tạo thành các  
đường lặp vòng. Hai là, một nút khi nhận được quảng bá đường có chấp nhận  
đường nhận được hay không? Việc chấp nhận tất cả các con đường có thể gây  
ra hiện tượng định tuyến lặp.  
Hình 1.4 minh họa vấn đề đường lặp vòng bằng các ví dụ đơn giản. Trong  
Hình 1.4(a), nút D là đích và nút I có hai đường đến D - một đường 5 chặng  
qua nút M (I –M –N –O–P –D) và một đường một chặng trực tiếp (I - D). Giả  
sử tuyến đường (I –M –N –O–P –D) được quảng bá đến nút J và tiếp theo tuyến  
đường (I – D) được quảng bá đến nút K. Sau đó, cả J và K đều có đường đến  
nút D qua nút I, nhưng mỗi tuyến đường đều có chặng khác nhau. Nếu sau đó  
nút I nhận được một đường 4 chặng đến đích D từ nút L (L–K–I–D), nút I sẽ  
không thể xác định được L là nút trước hay nút sau nó trên con đường tới đích  
D vì chỉ có thông tin số chặng được đưa vào quảng bá đường. Vì vậy, tại nút I  
sẽ hình thành một tuyến đường tới nút đích D thông qua nút L làm dẫn đến một  
vòng lặp. Tình huống như vậy xảy ra do một nút (ở đây là nút I) quảng bá một  
đường ngắn hơn (I - D) trong khi nó đã có một đường dự phòng dài hơn (I –M  
–N –O–P –D).  
 
13  
Hình 1.4. Ví dụ về các trường hợp có thể xảy ra định tuyến lặp  
Hình 1.4(b) cho thấy một tình huống tiềm năng khác xảy ra lặp vòng.  
Trong đó nút D là đích. Nút J có đường dẫn 3 chặng đến nút D thông qua nút  
(J–K–I–D). Nút L cũng có một đường 3 chặng đến nút D thông qua nút M (L -  
M - N - D). Giả sử nút I nhận được một đường dẫn 4 chặng đến nút D từ nút L.  
Trong trường hợp này, nút I không thể xác định được liệu nút L có phải là nút  
đứng trước hay không bởi vì nút J cũng có thể cung cấp một con đường 4 chặng  
tới nút D. Do đó, việc một nút chấp nhận một đường dài hơn sau khi nó đã  
quảng bá một đường ngắn hơn tới các nút láng giềng cũng có thể gây ra định  
tuyến lặp.  
Tập các điều kiện chống định tuyến lặp đã được xây dựng cho giao thức  
AODV được phát biểu như sau:  
(i) Quy tắc số thứ tự: Chỉ duy trì các tuyến đường cho số thứ tự đích có  
giá trị cao nhất. Tại mỗi nút, nhiều tuyến đường có cùng số thứ tự đích được  
duy trì. Với quy tắc này, tính chất không lặp vòng của các tuyến đường có thể  
đạt được tương tự như giao thức AODV. Khi một nút nhận được quảng bá  
đường chứa số thứ tự đích cao hơn, tất cả các đường có số thứ tự cũ hơn tới  
đích tương ứng sẽ bị loại bỏ. Tuy nhiên, các nút khác nhau (trên cùng một tuyến  
đường) có thể có các số thứ tự khác nhau cho cùng một đích.  
14  
(ii) Đối với cùng một số thứ tự đích,  
(a) Quy tắc quảng bá đường: Không quảng bá đường ngắn hơn đường đã  
được quảng bá trước đó.  
(b) Quy tắc nhận đường: Không nhận đường dài hơn đường đã được  
quảng bá trước đó.  
Để duy trì nhiều đường cho cùng một số thứ tự, giao thức AOMDV sử  
dụng khái niệm “số chặng được quảng bá”. Mỗi nút duy trì một biến gọi là số  
chặng được quảng bá cho mỗi đích. Biến này được thiết lập giá trị bằng độ dài  
của đường (tính theo số chặng) dài nhất tại thời điểm quảng bá đầu tiên cho  
một số thứ tự đích cụ thể. Số lượng chặng được quảng bá không thay đổi cho  
đến khi số thứ tự đích thay đổi. Việc quảng bá độ dài đường dài nhất cho phép  
có nhiều hơn các đường thay thế được duy trì.  
1.2.3. Các đường tách biệt  
Bên cạnh việc duy trì nhiều đường không lặp vòng, giao thức AOMDV  
còn có khả năng tìm các đường dự phòng không giao nhau. Với mục đích cải  
thiện khả năng chịu lỗi bằng nhiều đường thì các đường tách biệt là một lựa  
chọn tự nhiên để chọn một tập con các đường dự phòng hiệu quả từ một tập lớn  
các đường tiềm năng vì khả năng lỗi dây chuyền và đồng thời của các đường  
trong tập này nhỏ hơn so với tập các đường có giao cắt. Có hai loại đường tách  
biệt được xem xét là đường tách biệt theo liên kết và đường tách biệt theo nút.  
Đường tách biệt theo liên kết là tập hợp các đường không có liên kết chung  
giữa một cặp nút, trong khi đó, đường tách biệt theo nút còn còn thêm điều kiện  
là không có nút giao nhau.  
Không giống như vấn đề đường tách biệt trong lý thuyết đồ thị và tài liệu,  
khái niệm không giao ở đây chỉ giới hạn ở một cặp nút và không xem xét đến  
 
15  
tính không giao giữa các cặp nút khác. Cụ thể là cần đảm bảo mọi con đường  
có thể đi được từ một nút P bất kỳ tới một nút đích D là không giao nhau. Điều  
này có nghĩa là không nhất thiết tất cả các đường đi trong mạng dẫn đến nút D  
đều phải là đường tách biệt. Sự khác biệt này được minh họa bằng một ví dụ  
trong Hình 1.5. Giới hạn đường tách biệt ở trên là đủ khi nhìn từ góc độ về khả  
năng chịu lỗi và thực tế được sử dụng trong hầu hết các giao thức định tuyến  
đa đường khác nhau.  
B
A
D
C
E
F
Hình 1.5. Ví dụ về các đường giao nhau  
Trong Hình 1.5, các đường được duy trì tại các nút khác nhau đến đích  
có thể giao nhau. Ở đây D là đích đến. Nút A có hai đường dẫn không giao  
nhau đến nút D là A–B–D và A–C–D. Tương tự, nút E có hai đường tách biệt  
đến nút D là E–C–D và E–F–D. Tuy nhiên, các và A–C–D và E–C–D lại giao  
nhau khi chúng chia sẻ một liên kết C–D.  
Trong việc tìm kiếm các đường tách biệt, lực lượng hoặc độ dài của các  
đường dự phòng không được tối ưu hóa một cách rõ ràng. Trên thực tế, số lượng  
và chất lượng của các đường tách biệt được giao thức AOMDV phát hiện phần  
lớn được xác định qua tiến trình khám phá đường. Tuy nhiên, có thể kiểm soát  
các thuộc tính này bằng cách đặt giới hạn về số lượng và độ dài của các đường  
dự phòng được duy trì tại mỗi nút. Đây là cách tiếp cận hợp lý vì tính chất tồn  
tại trong thời gian ngắn của các đường trong mạng ad hoc di động và việc tính  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 71 trang yennguyen 15700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu phương pháp cải tiến giao thức định tuyến AOMDV nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ cho mạng MANET", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_phuong_phap_cai_tien_giao_thuc_dinh_tuye.pdf