Tóm tắt Luận án Kinh nghiệm sử dụng chính sách chống bán phá giá hàng nhập khẩu trên thế giới và bài học cho Việt Nam

Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o  
Tr−êng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n  
------YY›ZZ------  
PH¹M §×NH TH¦ëNG  
KINH NGHIÖM Sö DôNG CHÝNH S¸CH  
CHèNG B¸N PH¸ GI¸ HµNG NHËP KHÈU TR£N THÕ GIíI  
Vµ BµI HäC CHO VIÖT NAM  
Chuyªn ngµnh: kinh tÕ thÕ giíi vµ quan hÖ kinh tÕ quèc tÕ  
M· sè: 62.31.01.06  
Hµ néi, n¨m 2013  
C«ng tr×nh ®−îc hoµn thµnh  
t¹i TR−êng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n  
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. BÙI ANH TUẤN  
2. PGS. TS. TRẦN CÔNG SÁCH  
Phản biện 1: PGS. TS. Phạm Tất Thắng  
Phản biện 2: TS. Tô Trung Thành  
Phản biện 3: PGS. TS. Phạm Thị Hồng Yến  
LUậN ÁN Sẽ ĐƯợC BảO Vệ TRƯớC HộI ĐồNG CHấM LUậN ÁN CấP NHÀ NƯớC  
TạI TRƯờNG ĐạI HọC KINH Tế QUốC DÂN  
VÀO HồI: NGÀY THÁNG NĂM 2013  
CÓ THể TÌM HIểU LUậN ÁN TạI:  
- Thư viện Quốc gia  
- Thư viện trường Đại học Kinh tế quốc dân  
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ  
Công trình tiếng Việt  
1. Phạm Đình Thưởng, Nguyễn Thị Mơ (chủ biên, 2003), Sửa đổi Luật Thương mại trong  
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Thương mại, Hà Nội.  
2. Phạm Đình Thưởng, Trịnh Thị Thanh Thủy (chủ nhiệm, 2004), Xây dựng các quy định  
về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong Luật Cạnh tranh, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ  
Thương mại, Hà Nội.  
3. Phạm Đình Thưởng, Nguyễn Sinh Nhật Tân (chủ nhiệm, 2010), Kinh nghiệm xây dựng  
Luật Ngoại thương ở các nước và bài học cho Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ  
Công Thương, Hà Nội.  
4. Phạm Đình Thưởng (2011), Kinh nghiệm quốc tế về thực hiện quyền phân phối và giải  
pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về phân phối ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ  
Công Thương, Hà Nội.  
5. Phạm Đình Thưởng (2011), Kinh nghiệm xác định biên độ phá giá ở một số nước và  
những gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 174(II) tháng 12/2011, Hà  
Nội.  
6. Phạm Đình Thưởng (2011), Kinh nghiệm chống bán phá giá của Ấn Độ và vấn đề hoàn  
thiện pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam, Tạp chí Thương mại số 35 – 2011,  
Hà Nội.  
Công trình tiếng nước ngoài  
7. Phạm Đình Thưởng, Ngô Đức Mạnh (chủ nhiệm, 2007), Im proving quality of trade-related  
legislation, Hội thảo quốc tế “Hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam”, Dự án Hỗ trợ  
thương mại đa biên – Mutrap, Tp. Cần Thơ, www.mutrap.org.vn.  
8. Phạm Đình Thưởng (2008), Review of the available instruments of trade defense in light  
of Vietnam’s WTO rights and obligations, Hội thảo quốc tế “Nâng cao năng lực Bộ Công  
Thương trong phòng vệ thương mại”, Dự án Hỗ trợ thương mại đa biên – Mutrap, Đà  
9. Phạm Đình Thưởng (2009), Support to MOIT to improve the quality of Vietnamese  
trade related laws and making them fully compatible with international obligations, Hội  
thảo quốc tế “Hoàn thiện pháp luật thương mại phù hợp với cam kết quốc tế của Việt Nam”,  
Dự án Hỗ trợ thương mại đa biên – Mutrap, Hà Nội, www.mutrap.org.vn.  
10. Phạm Đình Thưởng, Francois Bobrie, Trương Đình Tuyển (chủ nhiệm, 2010),  
Comparative studies on the regulations of distribution services in selected countries in view  
of supporting MOIT in drafting a decree on distribution and recommendations for an  
effiecient and WTO-consistent discipline on distribution, Hội thảo “Tiếp tục hoàn thiện  
quản lý nhà nước trong lĩnh vực bán lẻ ở Việt Nam”, Dự án Hỗ trợ thương mại đa biên –  
11. Phạm Đình Thưởng, David Luff (chủ nhiệm, 2011), Assess the accession of Vietnam to  
international economic conventions and make domestic laws compatible with  
international obligations, Hội thảo quốc tế “Đánh giá tác động của việc Việt Nam gia  
nhập các công ước quốc tế về thương mại”, Dự án Hỗ trợ thương mại đa biên – Mutrap,  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Có ba công cụ phòng vệ thương mại (trade remedies), gồm: chống bán phá giá  
(CBPG), chống trợ cấp và tự vệ; trong đó, CBPG là công cụ phòng vệ thương mại  
quan trọng, được sử dụng nhiều nhất và đặc biệt, các nước đang phát triển ngày càng  
chú ý hơn đến bảo hộ bằng chống bán phá giá.  
Theo thống kê của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), CBPG là công cụ  
được sử dụng chủ yếu trong các công cụ phòng vệ thương mại, chiếm tỷ lệ gần 90%  
(tỷ lệ số lần áp dụng biện pháp CBPG so với tổng số lần áp dụng biện pháp phòng vệ  
thương mại cũng tương đương).  
Chống bán phá giá có vai trò quan trọng bậc nhất trong phòng vệ thương mại  
như vậy, nhưng tính đến tháng 12 năm 2011, Việt Nam chưa từng tiến hành một cuộc  
điều tra chống bán phá giá nào, điều đó thể hiện Việt Nam chưa tận dụng được công  
cụ phòng vệ thương mại quan trọng này của WTO.  
Có ba khả năng có thể dẫn đến thực tế một nước chưa từng sử dụng công cụ  
CBPG: Một là, nước đó không có chủ trương sử dụng công cụ này; Hai là không xảy ra  
việc bán phá giá của hàng nhập khẩu; và Ba là nước đó không đủ khả năng nhận biết sự  
tồn tại của việc bán phá giá hàng nhập khẩu hoặc không đủ điều kiện, khả năng tiến  
hành điều tra và áp dụng CBPG. Trong đó, nguyên nhân thứ nhất không xảy ra trong  
trường hợp Việt Nam vì Việt Nam đã ban hành các quy định về CBPG. Để khẳng định  
có xảy ra nguyên nhân thứ hai hay không thì cần phải tiến hành điều tra CBPG. Trong  
khi đó, Việt Nam chưa tiến hành cuộc điều tra CBPG nào thì rõ ràng xảy ra nguyên  
nhân thứ ba. Hơn nữa, cho dù khả năng không xảy ra hiện tượng bán phá giá thực sự tồn  
tại thì không hẳn là trong tương lai không xảy ra bán phá giá.  
Do đó, việc nghiên cứu để hoàn thiện chính sách CBPG và các điều kiện sử dụng  
chính sách CBPG của Việt Nam là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, trong điều kiện Việt  
Nam chưa từng có kinh nghiệm điều tra và áp dụng biện pháp CBPG thì nghiên cứu  
kinh nghiệm sử dụng chính sách chống bán phá giá hàng nhập khẩu của các nước trên  
thế giới có thể coi là cách duy nhất để rút ra bài học, giải pháp cho Việt Nam nhằm sử  
dụng thành công chính sách chống bán phá giá, bảo vệ các ngành sản xuất trong nước  
và thực thi chính sách cạnh tranh công bằng, lành mạnh.  
2. Tình hình nghiên cứu  
Các nghiên cứu về chống bán phá giá ở Việt Nam chủ yếu xuất hiện từ những  
năm 2000 khi Việt Nam trở thành bị đơn trong các vụ kiện chống bán phá giá. Cũng  
chính vì phải đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài nên trong suốt  
thời gian từ đó đến nay (2011), các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên cứu biện  
pháp ứng phó với các vụ kiện bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt Nam.  
Các công trình nghiên cứu trên thế giới hiện nay chủ yếu tập trung vào hai lĩnh vực:  
Thứ nhất, là nghiên cứu nguồn gốc kinh tế, bản chất kinh tế của hành vi bán phá giá và  
đánh giá so sánh hơn – thiệt (cost benefit) của chính sách chống bán phá giá. Kết quả  
nghiên cứu trong lĩnh vực này xảy ra theo hai hướng: ủng hộ chống bán phá giá và phản  
đối chống bán phá giá trên bình diện chung (chứ không phải cho một quốc gia). Thứ hai, là  
nghiên cứu tình hình thực hiện chống bán phá giá của các nước cụ thể, chủ yếu tập trung  
trên phương diện kỹ thuật trong việc điều tra và áp dụng biện pháp CBPG.  
2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu  
Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng, sử  
dụng chính sách CBPG hàng nhập khẩu của chính phủ một số nước trên thế giới được  
lựa chọn và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và sử dụng  
chính sách CBPG hàng nhập khẩu vào Việt Nam nhằm bảo hộ hợp lý sản xuất trong  
nước và bảo vệ cạnh tranh công bằng.  
Để thực hiện được mục tiêu trên, Luận án có các nhiệm vụ chủ yếu sau:  
(i) Xác định rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về bán phá giá và chính sách chống  
bán phá giá hàng nhập khẩu;  
(ii)Làm rõ kinh nghiệm xây dựng và sử dụng chính sách CBPG hàng nhập khẩu  
của chính phủ một số nước thành viên WTO được lựa chọn; rút ra những bài học có  
thể, nên vận dụng được và không thể, không nên vận dụng ở Việt Nam trong xây dựng  
và sử dụng chính sách CBPG hàng nhập khẩu vào Việt Nam;  
(iii)Xác định những điều kiện vận dụng kinh nghiệm nước ngoài và đề xuất giải pháp  
sử dụng chính sách CBPG hàng nhập khẩu vào Việt Nam nhằm bảo hộ hợp lý sản xuất trong  
nước, bảo vệ cạnh tranh công bằng giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài Luận án là lý luận và thực tiễn xây dựng và sử  
dụng chính sách chống bán phá giá hàng nhập khẩu, kinh nghiệm quốc tế trong xây  
dựng và sử dụng chính sách CBPG hàng nhập khẩu.  
Phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận án:  
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về xây dựng và sử  
dụng chính sách CBPG hàng nhập khẩu, rút ra bài học có thể vận dụng cho Việt Nam,  
đồng thời xác định những điều kiện cho việc vận dụng đó; trên cơ sở đó, đề xuất những  
giải pháp xây dựng và sử dụng chính sách CBPG hàng nhập khẩu vào Việt Nam.  
- Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước  
thành viên WTO phát triển trước, thường xuyên thực hiện điều tra và áp dụng biện  
pháp CBPG là Mỹ và EU; các nước đang phát triển, có nhiều điểm tương đồng với  
Việt Nam là Trung Quốc, Ấn Độ.  
- Về thời gian: Thời gian khảo sát kinh nghiệm của nước ngoài chủ yếu tập  
trung vào thời gian từ 1995 (năm thành lập WTO) đến năm 2011 và đề xuất các giải  
pháp cho Việt Nam trong giai đoạn 2012-2020.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
• Phương pháp lịch sử  
• Nghiên cứu trường hợp (Điển cứu)  
• Phương pháp toán học  
6. Những đóng góp mới của Luận án  
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận  
- Luận án phân tích và chỉ ra sự khác biệt của khái niệm chống bán phá giá ngày  
nay so với khái niệm nguyên thủy cũng như bản chất kinh tế của bán phá giá. Theo đó,  
về khía cạnh kinh tế, bán phá giá chỉ gây những bất lợi cho nước nhập khẩu nếu như  
nhà xuất khẩu thực hiện phá giá chiếm đoạt. Tuy nhiên, về mặt pháp luật, WTO và  
luật các nước không phân biệt các mục đích hay bản chất kinh tế của hành vi bán giá  
thấp mà chỉ xét đến khía cạnh hiện tượng (sự chênh lệch giữa giá thông thường và giá  
xuất khẩu) để đi đến kết luận là có bán phá giá và làm cơ sở cho các biện pháp trừng  
3
phạt (chủ yếu bằng thuế CBPG).  
- Chính sách chống bán phá giá là một khái niệm chưa được đề cập và phân tích  
sâu ở các nghiên cứu được tìm thấy, Luận án đã chứng minh sự tồn tại các quan điểm  
chính sách khác nhau của các nước thể hiện thông qua các quy định pháp luật và biện  
pháp thực thi cụ thể và chỉ ra ba loại chính sách chống bán phá giá chủ yếu trên thế giới,  
là chính sách chống bán phá giá bảo hộ triệt để; chính sách chống bán phá giá hài hòa  
giữa bảo hộ sản xuất và lợi ích công; và chính sách chống bán phá giá linh hoạt.  
- Luận án đã khảo sát và chứng minh việc sử dụng các phương pháp tính toán  
biên độ bán phá giá, tính toán thiệt hại đem lại các kết quả khác nhau như thế nào  
và hệ quả là có hay không áp dụng biện pháp CBPG và mức thuế suất thuế CBPG  
như thế nào, để luận giải quan điểm chính sách chống bán phá giá của các nước.  
Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án  
- Từ nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các nước, Nghiên cứu đã chỉ ra 5 bài  
học trong việc xây dựng, sử dụng chính sách CBPG, gồm:  
i) Xác định mục tiêu, quan điểm sử dụng chính sách chống bán phá giá phù hợp;  
ii) Quy định cụ thể các yếu tố kỹ thuật để xác định bán phá giá và thiệt hại;  
iii) Quy định cụ thể các biện pháp chống bán phá giá và rà soát;  
iv) Quy định cụ thể về đánh giá ảnh hưởng đến lợi ích công của biện pháp  
chống bán phá giá; và  
iv) Tổ chức phù hợp và nâng cao năng lực của cơ quan quản lý nhà nước về  
chống bán phá giá.  
- Nghiên cứu đã chỉ ra những điều kiện sử dụng chính sách CBPG ở Việt Nam  
và xây dựng các giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam trên cơ sở các bài học  
được rút ra. Các giải pháp được đưa ra là các giải pháp từ phía Chính phủ, trong đó chỉ  
rõ lý do và tính khả thi, tính hữu dụng của giải pháp, cụ thể:  
i) Đối với giải pháp hoàn thiện nội dung pháp luật về chống bán phá giá: Nghiên cứu  
chỉ ra những nội dung cần hoàn thiện phù hợp trên cơ sở xây dựng Luật Chống bán phá giá.  
ii) Đối với giải pháp kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực cơ quan điều tra bán  
phá giá: Nghiên cứu đã chỉ ra Việt Nam không nên thực hiện theo cơ chế hội đồng như  
hiện nay và việc tổ chức cơ quan điều tra cần tách biệt hai bộ phận hoặc hai đơn vị điều  
tra riêng về bán phá giá và thiệt hại.  
iii) Giải pháp nâng cao nhận thức, khả năng tham gia của doanh nghiệp trong  
khởi kiện và hỗ trợ điều tra: Trên thực tế, việc nâng cao nhận thức là tất nhiên cần  
thiết trong mọi lĩnh vực và đòi hỏi phải có nguồn lực. Do đó, Nghiên cứu chỉ rõ việc  
nâng cao nhận thức và khả năng tham gia của doanh nghiệp cần được tập trung trong  
những ngành, lĩnh vực nào; cần xây dựng dữ liệu kinh tế ngành để hỗ trợ doanh  
nghiệp và cần xây dựng quy trình khởi kiện, điều tra đơn giản, rõ rang để thuận lợi hóa  
khả năng sử dụng chính sách chống bán phá giá.  
7. Kết cấu của Luận án  
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung Luận án được kết cấu gồm 3 chương:  
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chính sách chống bán phá giá hàng nhập khẩu  
Chương 2: Kinh nghiệm sử dụng chính sách chống bán phá giá hàng nhập khẩu  
của một số nước  
Chương 3: Điều kiện và giải pháp sử dụng chính sách chống bán phá giá hàng  
nhập khẩu ở Việt Nam.  
4
Chương 1  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH  
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG NHẬP KHẨU  
1.1 Khái niệm và cơ sở kinh tế của việc bán phá giá  
1.1.1 Khái niệm bán phá giá  
Khái niệm có nội hàm bán phá giá đã xuất hiện cách đây hơn 100 năm, lần đầu  
tiên được quy định trong hệ thống pháp luật của Canada ban hành năm 1904 với thuật  
ngữ “định giá chiếm đoạt” (predatory pricing) nhằm bảo vệ các doanh nghiệp nước  
này khỏi các công ty sản xuất thép của Mỹ [19].  
Như vậy, bán phá giá là thuật ngữ kinh tế có nguồn gốc chỉ hành động định giá  
thấp của doanh nghiệp. Khái niệm này ban đầu không phân biệt thị trường nội địa hay  
thị trường quốc tế. Tuy nhiên, luật pháp các nước thường quy định về bán phá giá cho  
cả thị trường nội địa là một loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh và có quy định  
riêng về bán phá giá quốc tế áp dụng đối với hàng nhập khẩu. Do vậy, ngày nay nói  
đến bán phá giá là nói đến bán phá giá quốc tế.  
Với nghĩa là định giá thấp, các nghiên cứu kinh tế học chia bán phá giá thành  
hai loại: bán phá giá theo giá (price dumping) và bán phá giá theo chi phí (cost  
dumping). Bán phá giá theo giá là định giá thấp hơn (đáng kể) so với mức giá thông  
thường, áp dụng trong thương mại quốc tế được gọi là sự phân biệt giá quốc tế  
(international price discrimination). Bán phá giá theo chi phí là việc bán hàng hóa ở  
mức giá thấp hơn chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.  
Từ điển kinh tế học của Đại học Oxford định nghĩa bán phá giá là bán hàng hóa  
ở một nước khác với một mức giá mà các nhà sản xuất địa phương cho là mức giá thấp,  
không lành mạnh (unfairly low). Cụ thể hóa định nghĩa này thành hành vi mang tính  
quy phạm, luật quốc tế và luật các nước đều quy định bán phá giá là trường hợp phân  
biệt giá quốc tế mà ở đó, giá của một sản phẩm bán sang thị trường nước nhập khẩu  
thấp hơn giá của sản phẩm đó bán ở thị trường nước xuất khẩu.  
Mặc dù vậy, nếu như Giá xuất khẩu (GXK) của một mặt hàng có thể dễ dàng  
xác định thì giá của hàng hóa đó ở thị trường nước xuất khẩu có thể không xác định  
được vì lý do có thể hàng hóa đó không được bán ở thị trường nước xuất khẩu. Trong  
trường hợp này bắt buộc phải lấy một mức giá tham chiếu “hợp lý” nhất để so sánh.  
Do đó, xảy ra các khả năng: Một là giá bán ở thị trường nước xuất khẩu được sử dụng  
để so sánh là giá của sản phẩm tương tự; Hai là, giá tại thị trường nước xuất khẩu  
được tham chiếu đến GXK của sản phẩm đó (hoặc sản phẩm tương tự) sang thị trường  
nước thứ ba. Ba là giá được sử dụng để so sánh được tính dựa trên chi phí sản xuất  
của hàng hóa đó ở nước xuất khẩu.  
Hiệp định ADA định nghĩa “một sản phẩm bị coi là bán phá giá, tức là được  
đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác với giá thấp hơn Giá thông thường  
(GTT) của sản phẩm đó, nếu như Giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một  
nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm  
tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại bình  
5
thường” (Điều 2.1). Khi xảy ra trường hợp này, hành vi bán hàng hóa của nhà xuất  
khẩu được cho là hành vi thương mại không công bằng (cạnh tranh không lành mạnh)  
và do đó, đây là lý do để các nước áp dụng biện pháp chống bán phá giá.  
Luật pháp và thông lệ quốc tế thừa nhận bán phá giá có thể dẫn đến thương mại  
không công bằng vì ngành sản xuất nội địa nhập khẩu có thể chịu thiệt hại từ việc bán  
phá giá đó. Trong trường hợp đó, và khi một số yêu cầu được đáp ứng, cơ quan có  
thẩm quyền của nước nhập khẩu có thể thực thi các hành động chống lại việc bán phá  
giá (chống bán phá giá – anti-dumping).  
Như vậy, khái niệm bán phá giá, bắt nguồn từ kinh tế học là việc định giá  
chiếm đoạt được luật hóa thành hành vi – hành vi bán hàng hóa với mức giá thấp  
hơn mức “giá thông thường” của hàng hóa đó – là hành vi của doanh nghiệp, có thể  
bị trừng phạt bởi chính sách của chính phủ bằng các biện pháp thương mại – được  
gọi là biện pháp chống bán phá giá (anti-dumping measures).  
1.1.2 Cơ sở kinh tế của việc bán phá giá  
Để giải thích cơ sở kinh tế của việc bán phá giá, cần phân loại các nguyên nhân  
có thể dẫn đến hành vi bán phá giá. Nghiên cứu các loại bán phá giá dựa trên tiêu chí  
này, tác giả nhận thấy có ba nhóm bán phá giá chủ yếu sau đây:  
i) Bán phá giá xảy ra do phân biệt giá quốc tế  
(ii) Bán phá giá để giải quyết khó khăn trong kinh doanh  
(iii) Bán phá giá để thực hiện chiến lược thị trường  
1.2 Chính sách chống bán phá giá và điều kiện sử dụng chính sách chống  
bán phá giá  
1.2.1 Chính sách chống bán phá giá  
1.2.1.1 Khái niệm và phân loại chính sách chống bán phá giá  
Chính sách chống bán phá giá là khái niệm được sử dụng để thể hiện chủ  
trương, quan điểm, cách thức ứng xử và thực hiện cụ thể của một nước đối với việc  
bán phá giá hàng nhập khẩu từ nước ngoài.  
Các khái niệm liên quan bao gồm: công cụ chống bán phá giá và biện pháp  
chống bán phá giá.  
Công cụ chống bán phá giá: Khái niệm công cụ chống bán phá giá được sử  
dụng để phân biệt với hai công cụ khác được sử dụng nhằm mục đích phòng vệ  
thương mại, đó là chống trợ cấp và tự vệ. Như vậy, theo quy định của WTO, các nước  
được sử dụng ba công cụ phòng vệ thương mại, bao gồm chống bán phá giá, chống  
trợ cấp và tự vệ.  
Biện pháp chống bán phá giá: Khi một nước có chủ trương chống lại các  
hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu từ nước ngoài, nước đó sẽ dùng đến các biện  
pháp cụ thể để chống lại. Hiện nay, các nước đều sử dụng ba biện pháp CBPG chủ  
yếu là biện pháp tạm thời, cam kết giá và biện pháp chính thức (thuế chống bán phá  
giá). Trong đó, biện pháp thuế chống bán phá giá là biện pháp được sử dụng phổ biến  
nhất. Nội dung cụ thể của biện pháp phá giá được phân tích ở phần sau.  
6
Chính sách chống bán phá giá của một nước nằm trong chỉnh thể chính sách  
phòng vệ thương mại và chính sách thương mại nói chung. Việc sử dụng chính sách  
CBPG do đó sẽ thể hiện trên các mặt chủ yếu là: mục tiêu của chính sách, quan điểm  
chính sách và các biện pháp thực thi.  
Mục tiêu của chính sách CBPG: Rõ ràng mục tiêu chung của chính sách  
chống bán phá giá là phòng vệ thương mại. Các mục tiêu cụ thể bao gồm bảo hộ sản  
xuất trong nước và hạn chế nhập khẩu. Trong đó, bảo hộ sản xuất trong nước là mục  
tiêu cơ bản và nền tảng của các quy định về CBPG, tất nhiên do các biện pháp được áp  
dụng có tác động trực tiếp là hạn chế hàng nhập khẩu từ nước ngoài nên đây là mục  
tiêu kép của CBPG.  
Quan điểm chính sách CBPG: Quan điểm chính sách CBPG của một nước thể  
hiện thái độ và cách ứng xử của một nước đối với vấn đề CBPG. Các nước thành viên  
WTO dù có quan điểm chính sách như thế nào, tất nhiên vẫn phải tuân thủ quy định  
của Hiệp định ADA.  
Qua nghiên cứu chính sách, pháp luật chống bán phá giá của các nước, nhận  
thấy có ba quan điểm chính sách chống bán phá giá chủ yếu trên thế giới: Một là,  
chính sách chống bán phá giá bảo hộ triệt để; Hai là, chính sách chống bán phá giá  
hài hòa giữa bảo hộ sản xuất và lợi ích công; Ba là, chính sách chống bán phá giá  
linh hoạt.  
Biện pháp thực thi chính sách CBPG: Để thực thi chính sách CBPG theo các  
quan điểm, chủ trương đã đề ra, các nước sẽ triển khai các biện pháp cụ thể. Bên cạnh  
ba biện pháp kỹ thuật để chống bán phá giá, các nước có thể quy định các yếu tố khác,  
đặc biệt là quy định về rà soát và các quy định về lợi ích công. Một nước có quan điểm  
chính sách CBPG triệt để sẽ tăng cường các biện pháp rà soát bên cạnh việc tận dụng  
các yếu tố kỹ thuật. Một nước có quan điểm chính sách chống bán phá giá hài hòa sẽ  
quy định về lợi ích công để kiểm soát sự lạm dụng công cụ CBPG.  
Tất nhiên, để có thể sử dụng được chính sách CBPG đúng với mục tiêu và quan  
điểm, các nước phải củng cố, tăng cường các điều kiện sử dụng chính sách CBPG.  
1.2.1.2 Cơ sở và vai trò của chính sách chống bán phá giá  
Cơ sở hay lý do để sử dụng chính sách chống bán phá giá là bảo hộ sản xuất  
trong nước. Với tác dụng là một rào cản, chính sách chống bản phá giá, do đó, thiết  
lập thêm vai trò hạn chế nhập khẩu. Nghiên cứu của Chad P. Brown [29, tr. 1] đã chỉ  
ra rằng “các nước đang phát triển là những nước mới nhưng sử dụng chính sách chống  
bán phá giá tích cực nhất và nhiều nước trong đó đã bắt đầu sử dụng chống bán phá  
giá nhằm hạn chế nhập khẩu”.  
1.2.1.3 Tình hình sử dụng chính sách chống bán phá giá trên thế giới  
Kể từ năm 1995 đến 2011, có 50 nước từng sử dụng CBPG (đều là các nước  
thành viên của WTO), đã tiến hành tổng cộng 3922 cuộc điều tra và có tất cả là 2543 lần  
áp dụng biện pháp CBPG (chiếm 60%). Như vậy, trung bình một năm trên thế giới có  
230,7 cuộc điều tra, trung bình một nước thực hiện 4,6 cuộc điều tra trong một năm.  
7
400  
350  
300  
250  
200  
150  
100  
50  
Số vụ kiện CBPG  
0
Biểu đồ 1.1: Số liệu các vụ kiện chống bán phá giá trên thế giới  
(1995 – 2011)  
Nguồn: Ban Thư ký WTO  
Bảng 1.1 Các nước thực hiện điều tra CBPG nhiều nhất  
Tổng số  
Nước điều tra  
1995 – 2001  
2002 – 2011  
(cuộc x nước)  
647  
India  
252  
395  
United States  
European Union  
Argentina  
Brazil  
Australia  
China  
Canada  
Turkey  
Korea, Republic of  
Mexico  
Thế giới  
258  
246  
165  
96  
142  
30  
102  
35  
47  
194  
182  
123  
131  
77  
156  
51  
112  
64  
452  
428  
288  
227  
219  
186  
153  
147  
111  
102  
3922  
49  
1923  
53  
1999  
Nguồn: Tổng hợp từ thống kê của WTO  
1.2.2 Điều kiện sử dụng chính sách chống bán phá giá  
- Điều kiện về chủ thể: Các chủ thể tham gia vào một cuộc điều tra và áp dụng  
biện pháp chống bán phá giá bao gồm: chính phủ nước nhập khẩu, doanh nghiệp sản  
xuất trong nước xuất khẩu và chính phủ, doanh nghiệp xuất khẩu của nước xuất khẩu:  
- Điều kiện về hàng hóa: Đối tượng của những cuộc điều tra chống bán phá giá  
là hàng hóa. Về mặt lý thuyết, bán phá giá có thể xảy ra đối với bất kỳ hàng hóa nào,  
tuy nhiên, trên thực tế các cuộc điều tra CBPG được thực hiện đối với những nhóm  
mặt hàng nhất định, được thống kê tại Bảng 1.2 dưới đây:  
8
Bảng 1.2: Số lần áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo mặt hàng  
(1995 - 2011)  
1995-  
1999  
6
13  
0
2000-  
2004  
13  
2005-  
2011  
8
17  
1
Nhóm mặt hàng theo mã HS  
Tổng  
I Động vật sống và sản phẩm  
II Sản phẩm rau  
III Dầu động và thực vật  
27  
39  
2
9
1
IV Thực phẩm ăn ngay; đồ uống, rượu, thuốc lá điếu  
V Khoáng sản  
VI Sản phẩm của ngành hóa chất và các ngành liên quan  
VII Chất dẻo, nhựa và sản phẩm nhựa, cao su và sản  
phẩm cao su  
VIII Da sống, da và sản phẩm da, đồ dùng làm hành lý  
IX Gỗ, sản phẩm gỗ  
X Giấy, bìa và sản phẩm giấy  
17  
7
83  
6
33  
259  
6
5
185  
29  
45  
527  
75  
1
15  
38  
44  
7
18  
265  
73  
10  
14  
23  
132  
0
8
32  
79  
10  
24  
314  
54  
6
115  
1
20  
35  
111  
6
36  
144  
95  
10  
16  
19  
322  
2
43  
105  
234  
23  
XI Sản phẩm dệt may  
XII Giầy dép, khăn mũ, đồ da  
XIII Sản phẩm đá, thạch cao, men, kính  
XV Kim loại cơ bản và sản phẩm kim loại  
XVI Máy và thiết bị điện  
XVII Phương tiện đi lại  
XVIII Dụng cụ, đồng hồ, máy ghi và máy phát  
XX Sản phẩm công nghiệp khác  
78  
723  
222  
26  
33  
63  
3
21  
Nguồn: Tổng hợp từ thống kê của WTO  
- Điều kiện về mối quan hệ thương mại: là điều kiện về quan hệ thương mại  
giữa nước nhập khẩu và nước xuất khẩu, có thỏa thuận giữa hai nước đó trong việc áp  
dụng hay không áp dụng biện pháp chống bán phá giá hay không.  
1.3 Sử dụng biện pháp chống bán phá giá trong thực thi chính sách chống  
bán phá giá  
1.3.1 Biện pháp tạm thời  
1.3.2 Biện pháp cam kết giá  
1.3.3 Biện pháp chính thức (thuế chống bán phá giá)  
1.4 Chống bán phá giá theo quy định của Tổ chức Thương mại thế giới  
Vấn đề chống bán phá giá tuy đã được Hiệp hội các quốc gia (League of  
Nations) nghiên cứu từ đầu những năm 1920, nhưng chỉ đến năm 1947, với sự thành  
lập GATT (General Agreement of Tariffs and Trade – Hiệp định chung về thuế quan  
và thương mại), chống bán phá giá mới được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế. Khi  
vòng đàm phán Kennedy Round kết thúc (1967) thì những qui tắc về chống bán phá  
giá trong Điều VI của GATT được triển khai thành một hiệp định riêng: Hiệp định về  
việc thực hiện Điều VI (Agreement on the Implementation of Article VI, thường gọi  
tắt là “Anti-dumping Code” – Bộ luật chống bán phá giá).  
Hiệp định này tiếp tục được sửa đổi, bổ sung trong các vòng đàm phán Tokyo  
Round (1973-1979) và Uruguay Round (1986-1994). Sau vòng đàm phán Uruguay, các  
9
nước đã thỏa thuận Hiệp định chống bán phá giá có hiệu lực đến ngày nay trong khuôn  
khổ WTO, Hiệp định về việc thực hiện Điều VI của GATT 1994 (gọi tắt là Hiệp định  
chống bán phá giá – Anti-dumping Agreement – Hiệp định ADA).  
Phần này phân tích, đánh giá những nội dung cơ bản của Hiệp định ADA, gồm:  
1.4.1 Xác định biên độ bán phá giá  
1.4.2 Xác định thiệt hại  
1.4.3 Xác định mối quan hệ nhân quả giữa bán phá giá và thiệt hại  
Chương 2  
KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH CHỐNG BÁN PHÁ HÀNG NHẬP  
KHẨU CỦA MỘT SỐ NƯỚC  
2.1 Kinh nghiệm sử dụng chính sách chống bán phá giá của một số nước phát triển  
2.1.1 Kinh nghiệm sử dụng chính sách chống bán phá giá của Mỹ  
2.1.1.1 Quan điểm, mục tiêu chính sách chống bán phá giá của Mỹ  
Mỹ là nước điển hình theo đuổi chính sách chống bán phá giá bảo hộ triệt để  
nhằm thực hiện mục tiêu ban đầu, được ghi trong Luật Thuế năm 1916 là chống lại  
hành vi bán phá giá nếu nhằm mục đích thực hiện loại bỏ hay gây tổn hại cho một  
ngành sản xuất của Mỹ hay để ngăn chặn sự ra đời của ngành sản xuất.  
2.1.1.2 Hệ thống pháp luật và cơ quan thực thi chống bán phá giá của Mỹ  
Luật CBPG đầu tiên của Mỹ nằm trong hai điều khoản 800-801 của Luật thuế  
(Revenue Act of 1916), đưa ra các điều khoản để ngăn cản hành vi bán phá giá với điều  
kiện hành vi đó nhằm mục đích thực hiện loại bỏ hay gây tổn hại cho một ngành sản  
xuất của Mỹ hay để ngăn chặn sự ra đời của ngành sản xuất. Vì vấn đề “mục đích” này  
rất khó chứng minh nên từ này không được dùng trong Đạo luật chống bán phá giá  
ban hành năm 1921.  
Hệ thống văn bản pháp lý về CBPG của Mỹ gồm nhiều văn kiện gồm Luật  
chống bán phá giá 1916, Luật chống bán phá giá 1921 – được thay thế bởi Chương VII  
của Luật thuế quan (Title VII of the Tariff Act 1930 – 19 U.S.C.§§ 1673-1677n), Quy  
định của Bộ Thương mại (DOC’s Regulations – 19 C.F.R. § 351), và nhiều quy định  
sửa đổi và bổ sung khác.  
Mỹ theo đuổi chính sách chống bán phá giá bảo hộ triệt để, do vậy Mỹ sớm thiết  
lập một hệ thống pháp luật và các cơ quan thực thi chặt chẽ.  
Các cơquan có thẩm quyền trực tiếp điều tra và áp dụng biện pháp CBPG, bao gồm:  
- Bộ Thương mại Mỹ (Department of Commerce - DOC): Đây là cơ quan hành  
chính, có trách nhiệm điều tra và kết luận về việc bán phá giá; ban hành lệnh áp dụng  
các biện pháp phòng vệ tạm thời và chính thức; rà soát hành chính hàng năm; rà soát  
do thay đổi hoàn cảnh (nhập khẩu ồ ạt); rà soát hoàng hôn (cuối kỳ).  
- Ủy ban thương mại quốc tế Mỹ (International Trade Commission - ITC): Đây  
là cơ quan hoạt động độc lập với đảng phái, nghị viện, chính phủ, chỉ tuân thủ pháp  
luật. ITC chịu trách nhiệm điều tra thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và  
phá giá; tham gia vào quá trình điều tra thiệt hại trong thủ tục rà soát do thay đổi hoàn  
cảnh và rà soát hoàng hôn.  
10  
2.1.1.3 Nội dung các phương pháp xác định bán phá giá và thiệt hại  
a) Xác định biên độ phá giá  
- Xác định sản phẩm tương tự  
- Xác định ngành sản xuất nội địa  
- Xác định Giá xuất khẩu và Giá thông thường  
- Phương pháp tính biên độ phá giá và thuế suất thuế chống bán phá giá  
của DOC  
- Áp dụng phương pháp zeroing trong tính toán biên độ phá giá  
Mỹ được coi là nước đi đầu trong việc áp dụng zeroing. Phương pháp Zeroing  
(quy về không) không được đề cập trong Hiệp định ADA. Tuy nhiên, do Hiệp định  
ADA quy định rất mở về việc tính toán BĐPG và các yếu tố cấu thành nên ch phép  
luật pháp các nước và thông lệ của các cơ quan điều tra có những hướng dẫn xa hơn,  
thậm chí nằm ngoài những vấn đề mà phạm vi Hiệp định ADA đề cập.  
Zeroing là việc thiết lập các nhóm hàng hóa để tính toán Giá thông thường bình  
quân gia quyền và Giá xuất khẩu bình quân gia quyền, trong đó nếu trường hợp nhóm  
hàng hóa nào có kết quả chênh lệch giữa Giá thông thường và Giá xuất khẩu (cũng  
như biên độ phá) giá là giá trị âm (-) thì được quy về giá trị bằng không (0). Do đó,  
kết quả BĐPG cuối cùng luôn được đẩy lên giá trị cao nhất do các biên độ có giá trị  
âm được tính vào với giá trị bằng 0.  
Việc tính biên độ phá giá cho một doanh nghiệp bị đơn được tính trên cơ sở tính  
toán chênh lệch GTT và GXK riêng cho mỗi loại hoặc mẫu sản phẩm của doanh  
nghiệp, sau đó tính biên độ phá giá của doanh nghiệp trên cơ sở bình quân gia quyền.  
Sản phẩm xuất khẩu của một doanh nghiệp được chia thành các nhóm khác nhau,  
trong một nhóm là các sản phẩm cùng loại (cùng mã HS) và có mẫu mã gần giống  
nhau hoặc được bán theo phân loại của chính nhà xuất khẩu, được gọi là CONNUM  
(control number – số kiểm soát). Biên độ phá giá của một doanh nghiệp được tính trên  
cơ sở tính GTT bình quân gia quyền và GXK bình quân gia quyền của từng  
CONNUM và của cả doanh nghiệp.  
BĐPG = (GTT BQGQ – GXK BQGQ)/GXK BQGQ  
Tuy nhiên, trong việc tính biên độ phá giá bình quân gia quyền của một doanh  
nghiệp, Mỹ thường áp dụng phương pháp zeroing để loại trừ đi các biên độ âm (-) và  
do đó kết quả là biên độ “bình quân gia quyền” được đẩy lên cao hơn so với thực tế.  
b) Xác định thiệt hại và mối quan hệ giữa bán phá giá và thiệt hại  
- Xác định thiệt hại  
- Xác định mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và bán phá giá  
- Xác định thiệt hại và mối quan hệ nhân quả sử dụng mô hình COMPAS  
Mô hình COMPAS có cấu trúc gồm một số yếu tố chính sau:  
- Độ co giãn Armington:  
- Sử dụng mô hình COMPAS xác định ảnh hưởng của bán phá giá  
- Ảnh hưởng của bán phá giá  
+ Trước hết, cần ước lượng giá nhập khẩu trong trường hợp bán phá giá,  
phương trình như sau:  
dlnpM = dpM/pM = (pM – pI)/pI  
(16)  
11  
+ Ảnh hưởng của việc bán phá giá đến giá nội địa được xác định như sau:  
dlnpD = [dlnpD/ dlnpM]dlnpM = [εDM/(φD – εD)] . [(pM – pI)/pI] (17)  
+ Ảnh hưởng của việc bán phá giá đến lượng hàng hóa sản xuất trong nước  
nhập khẩu:  
dlnS = dlnpD. φD = [εDM.φD /(φD - εD)] .[(pM – pI)/pI] (18)  
Như vậy, để áp dụng được mô hình COMPAS để tính toán những ảnh hưởng  
này, cần phải tính toán nhiều tham biến, như  
+ εD: độ co giãn cầu của sản phẩm tương tự;  
+ φD: độ co giãn cung;  
+ ηH: độ co giãn cầu của sản phẩm ở nước xuất khẩu;  
+ εM : độ co giãn cầu của sản phẩm nhập khẩu  
+ εMD: độ co giãn giá chéo của sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm nội địa  
+ εDM: các độ co giãn giá chéo của sản phẩm nội địa và sản phẩm nhập khẩu  
- Ứng dụng Mô hình COMPAS  
Hiện nay có thể dễ dàng sử dụng phần mềm ứng dụng trên máy tính để chạy Mô  
hình COMPAS và do đó chỉ cần nhập các dữ liệu là các tham số đã được xử lý. Các tham  
số được tính toán khi chạy Mô hình COMPAS là độ co giãn cầu của sản phẩm tương tự εD;  
độ co giãn cầu của sản phẩm nhập khẩu εM; độ co giãn giá chéo εDM và εMD.  
2.1.1.4 Biện pháp chống bán phá giá và quy định về rà soát của Mỹ  
a) Thỏa thuận đình chỉ  
b) Cắt giảm nhập khẩu tạm thời  
c) Thuế tạm thời  
d) Thuế chống bán phá giá  
d) Rà soát việc áp dụng thuế chống bán phá giá  
Rà soát hoàng hôn  
Qua phân tích kinh nghiệm xây dựng và sử dụng chính sách CBPG của Mỹ, có  
thể kết luận Mỹ đã tận dụng tối đa các nội dung kỹ thuật để phục vụ mục đích  
bảo hộ sản xuất trong nước.  
Để thực hiện được chủ trương này, Chính phủ Mỹ đã đảm bảo được 2 điều  
kiện là có hệ thống pháp luật quy định cụ thể và cơ quan thực thi được tổ chức  
tốt và có năng lực thực thi cao với thuận lợi (điều kiện thứ 3) là các doanh nghiệp  
Mỹ nhận thức tốt và đủ trình độ thúc đẩy (kể cả lobby) quá trình điều tra và áp dụng  
biện pháp CBPG.  
Bên cạnh đó, Mỹ đã thể hiện quan điểm chính sách CBPG trong việc cụ thể hóa  
ở các yếu tố kỹ thuật để tối đa hóa khả năng áp dụng biện pháp CBPG, bao gồm:  
i) Điều chỉnh giá: Việc Mỹ thực hiện điều chỉnh giá xuất xưởng trong tính  
toán GXK và thực hiện điều chỉnh do các khác biệt về sản phẩm trong so sánh XGK  
và GTT với các quy định cho phép quyền quyết định chủ quan của cơ quan điều tra và  
vào việc cung cấp bằng chứng chứng minh của nguyên đơn và bị đơn và quy định của  
Mỹ có lợi hơn cho nguyên đơn trong nghĩa vụ chứng minh đã thể hiện chủ trương tối  
đa hóa biên độ phá giá, nâng cao khả năng áp dụng biện pháp CBPG.  
ii) Tách biệt các loại bị đơn để đưa ra các mức thuế suất tương ứng: thuế suất  
cho bị đơn bắt buộc, thuế suất dành riêng cho các bị đơn tự nguyện và thuế suất toàn  
12  
quốc và trong đó, thuế suất toàn quốc thường là mức thuế suất cao nhất có thể.  
iii) Áp dụng phương pháp zeroing trong tính toán biên độ phá giá nhằm loại  
bỏ các biên độ âm, tăng kết quả tính biên độ BPG trên thực tế;  
iv) Sử dụng phương pháp cộng gộp với các điều kiện hoặc tính toán về xu  
hướng nhập khẩu từ các nguồn khác nhau làm nâng cao khả năng áp dụng biện pháp  
CBPG trên diện rộng.  
v) Áp dụng rà soát hoàng hôn: Việc áp dụng rà soát hoàng hôn sẽ có khả  
năng kéo dài thời gian áp dụng thuế chống bán phá giá và do đó cũng là một yếu tố  
quan trọng để tận dụng triệt để công cụ chống bán phá giá.  
2.1.2 Kinh nghiệm sử dụng chính sách chống bán phá giá của EU  
2.1.2.1 Quan điểm, mục tiêu sử dụng chính sách chống bán phá giá của EU  
EU thực hiện chính sách chống bán phá giá dựa trên chủ trương phục vụ lợi ích  
cộng đồng (community interest), bao gồm cả lợi ích nhà sản xuất trong nước và lợi ích  
người tiêu dùng ở các nước thành viên.  
2.1.2.2 Hệ thống pháp luật và cơ quan thực thi chống bán phá giá của EU  
Hệ thống chống bán phá giá của Liên minh Châu Âu được điều chỉnh bởi Quy  
định của Hội đồng Châu Âu (EC) Số 384/96 ban hành ngày 22/12/1995 về bảo vệ  
hàng hóa chống lại việc bán phá giá từ những nước không phải là thành viên Liên  
minh Châu Âu (Quy định Chống bán phá giá). Quy định này bắt đầu có hiệu lực từ  
ngày 6/3/1996, có kết cấu tương tự với Hiệp định chống bán phá giá của WTO. Quy  
định này sau đó được sửa đổi, bổ sung tại các văn bản gồm: Quy định của Hội đồng  
(EC) số 2331/96 ngày 2/12/1996; Quy định của Hội đồng (EC) số 905/98 ngày  
27/4/1998; Quy định của Hội đồng (EC) số 2238/2000 ngày 9/10/2000; Quy định của  
Hội đồng (EC) số 1972/2002 ngày 5/11/2002.  
Một vụ chống bán phá giá được điều tra bởi Ủy ban Châu Âu EC (European  
Commission), sau đó được Ủy ban Tư vấn (Advisory Committee) về các biện pháp  
phòng vệ thương mại cho ý kiến dưới hình thức bỏ phiếu về việc áp dụng biện pháp  
CBPG. Với sự tư vấn của Ủy ban Tư vấn, Ủy ban Châu Âu sẽ đệ trình đề xuất lên Hội  
đồng châu Âu (European Council) để ra quyết định cuối cùng.  
2.1.2.3 Nội dung các phương pháp xác định bán phá giá và thiệt hại  
a) Xác định biên độ phá giá  
b) Phương pháp xác định thiệt hại và mối quan hệ giữa bán phá giá và thiệt  
hại của EC  
- Xác định biên độ thiệt hại  
Quy định của EC yêu cầu phải xác định biên độ thiệt hại (injury margin) là một quy  
định khác so với Mỹ và nhiều nước khác. Việc xác định biên độ thiệt hại nhằm xác định  
mức thuế chống bán phá giá, theo đó, mức thuế chống bán phá giá không được vượt quá  
một trong hai giá trị là biên độ phá giá và biên độ thiệt hại (phương pháp thuế chống bán  
phá giá thấp hơn - lesser duty). Theo nguyên tắc này, mức thuế chống bán phá giá được  
áp dụng sẽ bằng với biên độ nào thấp hơn.  
Biên độ thiệt hại là tỷ lệ phần trăm của hiệu số “giá không gây thiệt hại” (non-  
injury price - NIP) và giá nhập khẩu (IP) so với giá nhập khẩu (giá CIF), cụ thể:  
Biên độ thiệt hại = [(NIP-IP)/IP] x 100%  
13  
Giá nhập khẩu được xác định tương tự như khi xác định biên độ phá giá; giá  
không gây thiệt hại1 được xác định theo công thức (i):  
Giá không gây thiệt hại (NIP) = Chi phí sản xuất (COP) + Chi phí quản lý  
chung (SGA) + Lợi nhuận thông thường (Normal Profit)  
Trong đó:  
- Chi phí sản xuất và chi phí quản lý chung là chi phí thực tế của ngành sản xuất  
Cộng đồng;  
- Lợi nhuận thông thường là lợi nhuận mà ngành sản xuất EU được suy đoán là  
có thể có được nếu không có hiện tượng hàng nhập khẩu bán phá giá.  
Trường hợp các nhân tố trong công thức tính trên khó xác định được thì giá  
không gây thiệt hại có thể được xác định theo công thức (ii) sau đây:  
NIP = Giá bán thực của sản phẩm tương tự của ngành sản xuất Cộng đồng  
(Sale Price) + Khoản lỗ (Loss) + lợi nhuận thông thường (Normal Profit) – Lợi  
nhuận thực tế thấp (Low Profit - nếu có)  
c) Xem xét lợi ích cộng đồng  
2.1.2.4 Biện pháp chống bán phá giá và quy định rà soát của EU  
a) Cam kết giá  
b) Thuế suất  
c) Áp dụng hồi tố  
d) Rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá  
Những nội dung pháp luật và cơ chế thực thi chống bán phá giá ở EU cho  
thấy rõ EU sử dụng chính sách CBPG hài hòa giữa bảo hộ sản xuất và lợi ích  
công, thể hiện ở những điểm sau:  
i) Chọn mẫu điều tra: EU thường chọn mẫu điều tra trong trường hợp bị đơn  
quá đông, với việc chọn mẫu như vậy, sẽ không tối đa hóa biên độ tính toán như phân  
loại của Mỹ;  
ii) Xác định mức độ đóng góp của ngành sản xuất sản phẩm tương tự  
trong nội địa vào nền sản xuất của Cộng đồng: Đây là mộtr trong những quy định  
nhằm xác định “hợp lý” hơn theo hướng bảo vệ người tiêu dùng trên cơ sở xác định  
mức đóng góp của ngành sản xuất nội địa.  
iii) Xác định biên độ thiệt hại: Với việc quy định áp dụng biên độ thiệt hại, chính  
sách của EU có thiên hướng bảo vệ người tiêu dùng vì thuêts suất thuế CBPG sẽ là mức tỷ  
lệ thấp hơn giữa biên độ thiệt hại và biên độ phá giá.  
iv) Xem xét lợi ích cộng đồng: Với quy định này, EU yêu cầu bắt buộc đánh  
giá tác động đến lợi ích cộng đồng của việc áp dụng biện pháp CBPG. Mặc dù các quy  
định này không và không thể chính xác song cũng thể hiện chủ trương của EU trong  
việc hài hòa giữa bảo hộ và lợi ích người tiêu dùng.  
2.2 Kinh nghiệm sử dụng chính sách chống bán phá giá của một số nước đang  
phát triển  
2.2.1 Kinh nghiệm sử dụng chính sách chống bán phá giá của Ấn Độ  
2.2.1.1 Mục tiêu, quan điểm chính sách chống bán phá giá của Ấn Độ  
1 Được tính chung cho toàn ngành sản xuất của EU.  
14  
Ấn Độ là một trong những nước sớm chú ý đến chính sách chống bán phá giá.  
Ngay từ đầu những năm 1980, Ấn Độ đã thể hiện mục tiêu chính sách chống bán phá  
giá là nhằm hạn chế nhập khẩu và lần đầu tiên quy định trong luật là vào năm 1982  
khi sửa đổi Luật Thuế quan 1975. Khi trở thành thành viên của WTO (1995), Ấn Độ  
đã sửa đổi các quy định của Luật Thuế quan và nội luật hóa các quy định cơ bản của  
Hiệp định ADA. Tuy nhiên, khác với nhiều nước như Mỹ và EU quy định chi tiết hầu hết  
các nội dung của chống bán phá giá, Ấn Độ thiên theo hướng để cho cơ quan có thẩm  
quyền quyết định mọi vấn đề, tất nhiên vẫn phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản của  
Hiệp định ADA. Chính vì việc xác định các yếu tố, áp dụng các phương pháp tính, quyết  
định biện pháp chống bán phá giá phụ thuộc rất nhiều vào cơ quan quản lý nhà nước có  
thẩm quyền nên kết quả điều tra dễ mang tính chủ quan.  
2.2.1.2 Hệ thống pháp luật và cơ quan thực thi chống bán phá giá của Ấn Độ  
Các quy định về chống bán phá giá được cụ thể hóa trong văn bản có tên gọi là  
“Bộ quy tắc về Thuế quan xác định, đánh giá và áp dụng thuế chống bán phá giá hoặc  
thuế khác đối với hàng hóa bán phá giá và xác định thiệt hại” (sau đây gọi tắt là Bộ  
Quy tắc) vào năm 1985. Năm 1995 các quy định này đã được sửa đổi nhằm hài hòa  
hóa quy định trong nước với quy đinh của Hiệp định ADA. Bộ quy tắc này sau đó  
được sửa đổi vào các năm 1999 (Thông báo số 44/1999-NT Customs); 2001 (Thông  
báo số 28/2001-NT Customs), 2002 (Thông báo số 1/2002-NT Customs) và vào năm  
2003 (Thông báo số 101/2003-NT Customs) [34, tr. 13]. Điều đáng chú ý là Ấn Độ  
nội luật hóa toàn bộ nội dung Hiệp định ADA và do vậy, hệ thống pháp luật của Ấn  
Độ điều chỉnh về chống bán phá giá bao gồm Luật Thuế quan, Bộ quy tắc về Chống  
bán phá giá và Hiệp định ADA.  
2.2.1.3 Nội dung các phương pháp xác định bán phá giá và thiệt hại của Ấn Độ  
a) Xác định biên độ phá giá  
b) Phương pháp xác định thiệt hại và mối quan hệ giữa bán phá giá và thiệt  
hại của Ấn Độ  
c) Xem xét lợi ích công  
Ấn Độ học tập kinh nghiệm của EU trong việc xem xét lợi ích công trước khi  
quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Tuy nhiên, khác với EU và một số  
nước, việc xem xét đến lợi ích công hay lợi ích người tiêu dùng không phải là một yêu  
cầu bắt buộc ở Ấn Độ. Tuy nhiên trong thực tế đã có một số trường hợp DGAD đã đề  
xuất áp thuế chống bán phá giá nhưng cuối cùng không đi đến áp dụng biện pháp do  
xem xét đến lợi ích công.  
2.2.1.4 Biện pháp chống bán phá giá và quy định rà soát của Ấn Độ  
a) Cam kết giá  
b) Thuế chống bán phá giá  
Qua phân tích kinh nghiệm của Ấn Độ có thể rút ra một số đặc điểm sau trong  
sử dụng chính sách CBPG của Ấn Độ:  
i) Ấn Độ chủ trương sử dụng chính sách CBPG linh hoạt, theo đó Chính  
phủ có thể quy định những quy tắc sẽ áp dụng trong các vụ việc khi “cần thiết” và cơ  
quan điều tra được trao quyền tự quyết trong nhiều vấn đề, như: Xác định sản phẩm  
tương tự; điều chỉnh GXK và GTT; tính toán biên độ phá giá;  
15  
ii) Cơ quan điều tra sử dụng thông tin của bên khởi kiện trong nhiều  
trường hợp thiếu thông tin về giá và chi phí thực, để phục vụ việc tính GTT tự tính.  
Điều này chắc chắn làm tăng khả năng áp dụng biện pháp CBPG.  
iii) Ấn Độ học tập kinh nghiệm của EU trong việc quy định việc xác định thiệt  
hại phải cụ thể bằng biên độ thiệt hại và phải xem xét lợi ích công trước khi trước khi  
quyết định áp dụng biện pháp CBPG. Đặc biệt, Ấn Độ cho phép các tổ chức bảo vệ người  
tiêu dùng ở Ấn Độ cung cấp các thông tin liên quan cho cơ quan điều tra.  
iv) Các chỉ số kinh tế dùng để xác định thiệt hại từ khảo sát các cuộc điều tra  
của Ấn Độ là rất có ý nghĩa tham khảo cho nước đang phát triển như Việt Nam.  
v) Các quy định của Ấn Độ về xem xét lợi ích công là không cụ thể do đó  
khó áp dụng trên thực tế. Số vụ việc Ấn Độ không áp dụng biện pháp vì cho rằng ảnh  
hưởng đến lợi ích công là không nhiều.  
2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng và sử dụng chính sách chống bán phá giá của  
Trung Quốc  
2.2.2.1 Mục tiêu, quan điểm sử dụng chính sách chống bán phá giá của Trung Quốc  
Kể từ khi WTO được thành lập, Trung Quốc là một trong những mục tiêu  
của các nước khác trong việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Từ năm 1995  
đến 2011, hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc là đối tượng điều tra của 825 cuộc  
điều tra CBPG, chiếm 21% số vụ điều tra trên toàn thế giới2. Xuất phát từ xu  
hướng chung của các nước là sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ  
sản xuất trong nước trong quá trình tự do hóa thương mại khi tham gia vào WTO,  
đồng thời nhằm bảo vệ cạnh tranh lành mạnh ở thị trường nội địa, từ cuối những  
năm 1990, Trung Quốc đã bắt đầu thiết lập các quy định về chống trợ cấp và  
chống bán phá giá.  
2.2.2.2 Hệ thống pháp luật và cơ quan thực thi chống bán phá giá Trung Quốc  
Hệ thống pháp luật về CBPG của Trung Quốc bao gồm Luật Ngoại thương (ban  
hành năm 1994, sửa đổi năm 2004) và “Quy định của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa  
về chống bán phá giá” (The regulations of the Republic of China on Anti-dumping).  
Quy định này có hiệu lực từ 01/01/2002, sau đó được sửa đổi vào năm 2004 với ba  
thay đổi chính: Một là, cơ quan điều tra và xác định cả bán phá giá và thiệt hại là Bộ  
Thương mại thay vì trước đây là hai cơ quan là Bộ Thương mại và hợp tác với nước  
ngoài – MOFTEC – và Ủy ban Kinh tế và Thương mại nhà nước – SETC) do hai cơ  
quan này được sáp nhập thành Bộ Thương mại (MOFCOM)3. Hai là, cho phép áp  
dụng biện pháp cam kết giá (Quy định 2002 chỉ cho phép áp dụng biện pháp thuế),  
đồng thời quy định việc áp dụng biện pháp CBPG phải phù hợp với lợi ích công. Ba  
là, Quy định mới cho phép Bộ Thương mại được áp dụng biện pháp cần thiết để thu  
thuế trong giai đoạn trước điều tra (hiệu lực hồi tố). Bên cạnh đó, Luật Ngoại thương  
năm 2004 được sửa đổi cũng bao gồm các quy định khung pháp lý cơ bản với nội  
dung rộng hơn, tạo điều kiện để sửa đổi Quy định về Chống bán phá giá năm 2004.  
2 Các nước điều tra bán phá giá chủ yếu là Mỹ, EU, Nhật Bản, Ấn Độ, Ác-hen-ti-na.  
3
Trên thực tế, hai cơ quan này trở thành hai đơn vị của Bộ Thương mại và do vậy, điều tra bán phá giá và  
điều tra thiệt hại ở Trung Quốc do hai đơn vị trực thuộc Bộ Thương mại Trung Quốc tiến hành.  
16  
Cơ quan thực hiện điều tra hiện nay là Bộ Thương mại, cơ quan quyết định áp  
dụng biện pháp CBPG là Ủy ban thuế của Quốc vụ viện.  
2.2.2.3 Nội dung các phương pháp xác định biên độ phá giá và thiệt hại của  
Trung Quốc  
a) Xác định biên độ phá giá  
b) Xác định thiệt hại và mối quan hệ nhân quả  
c) Lợi ích công  
2.2.2.4 Biện pháp chống bán phá giá và quy định rà soát của Trung Quốc  
a) Biện pháp tạm thời  
b) Cam kết giá  
c) Thuế chống bán phá giá  
d) Rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá  
Qua phân tích kinh nghiệm xây dựng và sử dụng chính sách CBPG của  
Trung Quốc, có thể nhận thấy:  
i) Về cơ bản Trung Quốc tuân thủ Hiệp định ADA và không có nhiều quy  
định bổ sung (ngoài những hướng dẫn điều tra cụ thể của Bộ Thương mại)  
ii) Cũng giống như các nước khác, Trung Quốc cho phép cơ quan điều tra  
lựa chọn phương pháp tính toán biên độ bán phá giá;  
iii) Mặc dù chủ trương tính đến lợi ích công trong việc áp dụng biện  
pháp CBPG song Trung Quốc cũng không đưa ra các quy định cụ thể về vấn đề  
này. Thực tế Trung Quốc là nước có tỷ lệ áp dụng biện pháp trên số cuộc điều tra là lớn  
nhất cũng cho thấy Trung Quốc ít khi không áp dụng vì lý do bảo vệ lợi ích công.  
iv) Cũng như nhiều nước, Trung Quốc tổ chức hai cơ quan/đơn vị độc lập để  
điều tra biên độ BPG và điều tra thiệt hại riêng. Với việc tổ chức tốt cơ quan điều  
tra, Trung Quốc đã tiến hành nhiều cuộc điều tra trong những năm gần đây và tỷ lệ áp  
dụng cao. Nếu không xét đến khía cạnh lợi ích công thì Trung Quốc đã sử dụng chính  
sách CBPG một cách có hiệu quả để bảo hộ sản xuất trong nước.  
2.3 Bài học kinh nghiệm xây dựng và sử dụng chính sách chống bán phá  
giá từ các nước  
2.3.1 Xác định mục tiêu, quan điểm sử dụng chính sách chống bán phá giá  
phù hợp  
Qua phân tích kinh nghiệm một số nước cho thấy rõ ràng để thực hiện bảo hộ  
nền sản xuất trong nước, các nước thể hiện quan điểm rất rõ trong từng nội dung quy  
định về chống bán phá giá.  
2.3.2 Quy định cụ thể các yếu tố kỹ thuật để xác định bán phá giá và thiệt hại  
Để đi đến áp dụng biện pháp chống bán phá giá, cần phải tính toán biên độ phá  
giá, xác định thiệt hại và mối quan hệ giữa thiệt hại và bán phá giá. Do tính chất phức tạp  
của các yếu tố kinh tế của cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu cũng như quan hệ giữa  
các doanh nghiệp, việc tính toán, xác định các yếu tố trên là rất phức tạp. Chính vì vậy, để  
tính toán được các yếu tố trên cần phải có các quy định rất cụ thể.  
Việc xác định GXK và GTT có tính quan trọng quyết định đến kết quả cần tính  
là BĐPG, do đó, bên cạnh yêu cầu thu thập thông tin thì cần phải có phương pháp tính  
toán rất rõ ràng, cho các trường hợp khác nhau.  
17  
Chương 2 đã chỉ ra các nước khác nhau áp dụng các phương pháp khác nhau  
trong việc phân loại và tính toán biên độ phá giá.  
Bảng 2.10 Tiêu chí xác định thiệt hại của ngành sản xuất nội địa  
Ấn Trung Việt  
STT  
Tiêu chí  
Mỹ EU  
Độ  
x
x
x
x
Quốc Nam  
1.  
2.  
3.  
4.  
5.  
6.  
7.  
8.  
9.  
Giảm thị phần  
Giá cả  
Giảm lượng sản xuất trong nước  
Giảm lao động  
Lợi nhuận, tỉ suất lợi nhuận  
Năng lực sản xuất và mức sử dụng thực tế  
Tình trạng tiêu thụ và tồn kho  
Khả năng sinh lời  
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
Khả năng tăng vốn  
10. Chi phí cho nghiên cứu và phát triển  
Tăng khối lượng, số lượng hoặc trị giá  
hàng hóa nhập khẩu so với trong nước  
12. Thiệt hại hợp đồng  
13. Mức lương  
14. Cổ phiếu đóng cửa  
15. Sự hình thành ngành sản xuất trong nước  
11.  
x
x
x
x
x
x
x
x
x
2.3.3 Quy định cụ thể các biện pháp chống bán phá giá và rà soát  
Những khác biệt cụ thể trong quy định của các nước đã được phân tích được rút  
ra ở những điểm sau:  
i) Áp dụng biện pháp cắt giảm nhập khẩu tạm thời  
ii) Áp dụng các phương pháp tính thuế suất thuế CBPG khác nhau  
iii) Sử dụng nhiều loại rà soát khác nhau  
2.3.4 Quy định cụ thể về đánh giá ảnh hưởng đến lợi ích công của biện  
pháp chống bán phá giá  
Mặc dù Pháp lệnh CBPG đã có nhắc đến nội dung lợi ích công (lợi ích kinh tế -  
xã hội) song không quy định cụ thể các yếu tố liên quan đến lợi ích công là gì, cơ quan  
có thẩm quyền cần thực hiện những thủ tục nào để đảm bảo lợi ích công không bị ảnh  
hưởng. Qua phân tích kinh nghiệm các nước, có thể học hỏi kinh nghiệm của EU và  
Ấn Độ trong việc xác định ảnh hưởng lợi ích công. Theo quy định của EU để quy định  
cụ thể hơn trong luật, theo đó, xác định lợi ích công bao gồm lợi ích của các nhà sản  
xuất sản phẩm tương tự trong Cộng đồng và lợi ích của người tiêu dùng sản phẩm  
nhập khẩu. Ấn Độ quy định cho phép các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng ở Ấn Độ  
cung cấp các thông tin liên quan cho cơ quan điều tra. Đây là một công cụ quan trọng  
để cơ quan có thẩm quyền xác định ảnh hưởng đến lợi ích công, cũng như tạo điều  
kiện cho việc chứng minh ảnh hưởng đến lợi ích công của các bên liên quan.  
2.3.5 Tổ chức phù hợp và nâng cao năng lực của cơ quan quản lý nhà nước  
về chống bán phá giá  
Qua phân tích kinh nghiệm các nước có thể thấy, năng lực thực tế của cơ quan  
điều tra CBPG được tạo ra bởi ba yếu tố: Một là quyền quyết định do luật định; Hai là  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 13560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Kinh nghiệm sử dụng chính sách chống bán phá giá hàng nhập khẩu trên thế giới và bài học cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_kinh_nghiem_su_dung_chinh_sach_chong_ban_pha.pdf