Luận văn Nâng cấp ứng dụng khai thác các lỗ hổng an ninh Metasploit Framework

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ  
LÃ XUÂN KIÊN  
NÂNG CẤP ỨNG DỤNG KHAI THÁC CÁC LỖ HỔNG AN NINH  
METASPLOIT FRAMEWORK  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
Hà Nội – 2020  
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ  
LÃ XUÂN KIÊN  
NÂNG CẤP ỨNG DỤNG KHAI THÁC CÁC LỖ HỔNG AN NINH  
METASPLOIT FRAMEWORK  
Ngành: Công nghệ Thông tin  
Chuyên ngành: An toàn Thông tin  
Mã số: 8480202.01  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN ĐẠI THỌ  
Hà Nội – 2020  
3
MỤC LỤC  
5
LỜI CẢM ƠN  
Trước tiên tôi xin dành lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Thầy giáo, TS.  
Nguyễn Đại Thọ – người đã tận tình hướng dẫn, khuyến khích, chỉ bảo, tạo cho tôi  
những điều kiện tốt nhất từ khi bắt đầu cho tới khi hoàn thành công việc làm luận văn  
của mình.  
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy giáo, Cô giáo giảng dạy tại bộ  
môn An toàn Thông tin, khoa Công nghệ Thông tin, Đại học Công nghệ - ĐHQGHN  
đã tận tình đào tạo, cung cấp cho tôi những kiến thức vô cùng quý giá và đã tạo điều  
kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường.  
Đồng thời tôi xin cảm ơn tất cả những người thân yêu trong gia đình cùng toàn  
thể bạn bè, đồng nghiệp những người đã luôn giúp đỡ, động viên những khi tôi vấp  
phải những khó khăn, bế tắc trong cuộc sống và công việc.  
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu  
sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đánh giá và phê bình từ phía các Thầy giáo,  
Cô giáo để luận văn này được hoàn thiện hơn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
 
6
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan rằng luận văn Thạc sĩ Công nghệ Thông tin với đề tài “Nâng  
cấp ứng dụng khai thác các lỗ hổng an ninh Metasploit Framework” là công trình  
nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Đại Thọ, không sao chép  
lại của người khác. Trong toàn bộ nội dung của luận văn, những điều đã được trình  
bày là hoàn toàn trung thực, hoặc là của chính cá nhân tôi tìm hiểu, hoặc là được tổng  
hợp từ nhiều nguồn tài liệu và chưa từng được công bố đồ án, luận văn, luận án tại  
trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN hoặc bất kỳ trường đại học nào khác. Tất cả  
các nguồn tài liệu tham khảo đều có xuất xứ rõ ràng và hợp pháp.  
Nếu có bất cứ phát hiện nào về sự gian lận, sao chép tài liệu, công trình nghiên  
cứu của tác giả khác mà không ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo, tôi xin hoàn toàn  
chịu trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy định cho lời cam đoan này.  
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2020  
Học viên  
Lã Xuân Kiên  
 
7
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
   
8
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT  
Ký hiệu  
API  
Thuật ngữ  
Ý nghĩa  
Application Programming Interface Giao diện lập trình ứng dụng  
CLI  
Command Line Interface  
Graphical User Interface  
Giao diện dòng lệnh  
GUI  
Giao diện đồ họa người dùng  
HTTPS Hypertext Transfer Protocol Secure Mã hóa giao thức truyền tải siêu  
văn bản  
HTTP  
IoT  
HyperText Transfer Protocol  
Internet of Things  
Giao thức truyền tải siêu văn bản  
Internet vạn vật  
ISO  
International Organization for Tổ chức tiêu chuẩn hóa Quốc tế  
Standardization  
IEC  
International  
Commission  
Electrotechnical Ủy ban Kỹ thuật điện Quốc tế  
ISMS  
Information Security Magagement Hệ thống quản lý an toàn thông tin  
System  
MSF  
SSL  
Metasploit Framework  
Secure Sockets Layer  
Mã hóa lớp Sockets  
SMB  
XML  
Server Message Block  
eXtensible Markup Language  
Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng  
 
9
MỞ ĐẦU  
Ngày nay, an ninh thông tin đã, đang đi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội  
và dần trở thành một bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Nguy cơ gây mất an  
ninh thông tin là mối đe dọa rất lớn và ngày càng gia tăng đối với an ninh quốc gia.  
Lĩnh vực viễn thông, Internet, tần số vô tuyến điện có sự phát triển mạnh mẽ, đạt được  
mục tiêu số hóa hoàn toàn mạng lưới, phát triển nhiều dịch vụ mới, phạm vi phục vụ  
được mở rộng, bước đầu hình thành những doanh nghiệp mạnh, có khả năng vươn tầm  
khu vực, quốc tế. Hệ thống bưu chính chuyển phát, báo chí, xuất bản phát triển nhanh  
cả về số lượng, chất lượng và kỹ thuật nghiệp vụ, có đóng góp quan trọng cho sự phát  
triển kinh tế - xã hội; đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước.  
Tình hình an ninh thông tin ở Việt Nam đã và đang có những diễn biến phức  
tạp. Các cơ quan đặc biệt nước ngoài, các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt  
động tình báo, gián điệp, khủng bố, phá hoại hệ thống thông tin; tán phát thông tin  
xấu, độc hại nhằm tác động tới chính trị nội bộ, can thiệp, hướng lái chính sách, pháp  
luật của Việt Nam. Gia tăng hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống thông tin  
quan trọng về an ninh quốc gia. Theo thống kê, trung bình mỗi năm, qua kiểm tra,  
kiểm soát các cơ quan chức năng đã phát hiện trên 850.000 tài liệu chiến tranh tâm lý,  
phản động, ân xá quốc tế, tài liệu tuyên truyền tà đạo trái phép; gần 750.000 tài liệu  
tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước được phát tán vào Việt Nam qua đường bưu  
chính. Từ 2010 đến 2019 đã có 53.744 lượt cổng thông tin, trang tin điện tử có tên  
miền .vn bị tấn công, trong đó có 2.393 lượt cổng thông tin, trang tin điện tử của các  
cơ quan Đảng, Nhà nước dưới tên miền gov.vn, xuất hiện nhiều cuộc tấn công mang  
màu sắc chính trị, gây ra những hậu quả nghiêm trọng.  
Tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thông tin diễn biến phức tạp, gia  
tăng về số vụ, thủ đoạn tinh vi, gây thiệt hại nghiêm trọng về nhiều mặt. Các hành vi  
phá hoại cơ sở hạ tầng thông tin, gây mất an toàn, hoạt động bình thường, vững mạnh  
của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử của các cơ quan, tổ chức, cá  
nhân, hệ thống thông tin vô tuyến điện, … đã và đang gây ra những thiệt hại lớn về  
kinh tế, xâm hại trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và cá  
nhân.  
Thực tế nêu trên đã làm xuất hiện nhiều nguy cơ đe dọa đến an ninh thông tin của  
Việt Nam ở cả bên trong và bên ngoài. Ở trong nước, trước hết là nguy cơ tụt hậu về  
công nghệ, lệ thuộc vào công nghệ của nước ngoài, nhất là hệ thống mạng lõi; phần  
mềm hệ thống, dịch vụ thông tin của nước ngoài (nhất là dịch vụ mạng xã hội) dẫn tới  
mất chủ quyền nội dung số, tài nguyên thông tin về các công ty công nghệ nước ngoài  
ngày càng nghiêm trọng hơn; các đối tượng cơ hội, chống đối chính trị trong nước,  
triệt để sử dụng mạng xã hội tán phát thông tin giả, thông tin xấu, độc nhằm gây rối  
nội bộ, kích động biểu tình, bạo loạn.  
 
10  
Hệ thống thông tin của Việt Nam còn tồn tại nhiều điểm yếu, lỗ hổng bảo mật dễ  
bị khai thác, tấn công, xâm nhập, tình trạng lộ, mất bí mật nhà nước qua hệ thống  
thông tin gia tăng đột biến, hiện tượng khai thác, sử dụng trái phép cơ sở dữ liệu, tài  
nguyên thông tin quốc gia, dữ liệu cá nhân người dùng diễn biến phức tạp, xuất hiện  
nhiều dịch vụ mới, hiện đại gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm soát của các cơ  
quan chức năng.  
Hiện nay, đất nước ta đang đứng trước những nguy cơ, thách thức lớn từ cuộc  
Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với sự phát triển, ứng dụng mạnh mẽ của trí tuệ  
nhân tạo, rô-bốt, công nghệ sinh học, sẽ hình thành nên nhiều lĩnh vực mới như:  
“Internet công nghiệp”, “Nhà máy thông minh”, “Thành phố thông minh”, “Xã hội  
siêu thông minh”, “Chính phủ điện tử”, … hoạt động trên môi trường không gian  
mạng, tạo sự đột phá về phát triển kinh tế, chính trị - xã hội. Xu hướng Internet kết nối  
vạn vật (IoT), gồm Internet kết nối với năng lượng, dịch vụ, truyền thông đa phương  
tiện, con người, vạn vật sẽ thay đổi phương thức hoạt động của cả một nền kinh tế,  
thói quen, tâm lý, văn hóa xã hội. Sự phát triển kinh tế xã hội cũng như đảm bảo an  
ninh quốc gia ở Việt Nam những năm tới chủ yếu dựa trên nền tảng kỹ thuật số. Với  
xu thế phát triển của nền kinh tế chia sẻ, chuyển đổi số, … công nghiệp công nghệ  
thông tin sẽ trở thành ngành kinh tế chủ đạo, quyết định sự phát triển nhanh, bền vững  
của quốc gia.  
Vậy để thông tin được bảo vệ, hạn chế tấn công, vừa giúp cho doanh nghiệp, tổ  
chức có được hình ảnh uy tín cũng như được các bên đối tác đánh giá và tin tưởng khi  
hợp tác với các doanh nghiệp có được sự bảo vệ thông tin một cách an toàn thì vấn đề  
an toàn thông tin lại càng quan trọng, là nhu cầu cấp thiết đối với các doanh nghiệp, tổ  
chức. Vậy làm thế nào để giúp các doanh nghiệp, tổ chức thực hiện được điều đó?  
Để trả lời cho câu hỏi này, trong luận văn “Nâng cấp ứng dụng khai thác các lỗ  
hổng an ninh Metasploit Framework” tôi đã nghiên cứu và tìm hiểu cách xây dựng  
công cụ lập lịch tự động dò quét để kiểm thử an ninh hệ thống (Penetration Testing) sử  
dụng công cụ miễn phí nguồn mở Metasploit Framework theo các yêu cầu tiêu chuẩn  
về an toàn thông tin ISO 27001 giúp cho doanh nghiệp quản lý, bảo vệ thông tin của  
mình một cách an toàn và hiệu quả nhất.  
Luận văn của tôi được chia làm 4 chương:  
Chương 1: Trình bày tổng quan về kiểm định an toàn thông tin  
Chương 2: Trình bày tổng quan về Metasploit  
Chương 3: Trình bày hệ thống tiêu chuẩn về an toàn thông tin  
Chương 4: Xây dựng công cụ lập lịch dò quét tự động cho Metasploit Framework  
11  
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM ĐỊNH AN TOÀN THÔNG TIN  
1.1. Bối cảnh hiện tại  
Với sự phát triển của Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, xã hội càng phát  
triển càng kéo thêm nhiều nguy cơ mất an toàn thông tin. Đặc biệt là vấn đề đe dọa  
thông tin trên các đường truyền Internet, qua máy tính, những chiếc điện thoại thông  
minh, những thiết bị thông minh khác đều để lại những nguy cơ tiềm ẩn. Tình trạng rất  
đáng lo ngại trước hành vi thâm nhập vào hệ thống, phá hoại các hệ thống mã hóa, các  
phần mềm xử lý thông tin tự động gây thiệt hại vô cùng lớn. Sau đây là một số nguy  
cơ rủi ro mất an toàn thông tin:  
Nguy cơ mất an toàn thông tin về khía cạnh vật lý: Là nguy cơ do mất điện,  
nhiệt độ, độ ẩm không đảm bảo, hỏa hoạn, thiên tai, thiết bị phần cứng bị hư hỏng.  
Nguy cơ bị mất, hỏng, sửa đổi nội dung thông tin: Người dùng có thể vô tình  
để lộ mật khẩu hoặc không thao tác đúng quy trình tạo cơ hội cho kẻ xấu lợi dụng để  
lấy cắp hoặc làm hỏng thông tin.  
Nguy cơ bị tấn công bởi các phần mềm độc hại: Các phần mềm độc hại tấn  
công bằng nhiều phương pháp khác nhau để xâm nhập vào hệ thống với các mục đích  
khác nhau như: Virus, sâu máy tính (Worm), phần mềm gián điệp (Spyware, Trojan,  
Adware…).  
Nguy cơ xâm nhập từ lỗ hổng bảo mật: Lỗi do lập trình, lỗi hoặc sự cố phần  
mềm, nằm trong một hoặc nhiều thành phần tạo nên hệ điều hành hoặc trong chương  
trình cài đặt trên máy tính.  
Nguy cơ xâm nhập do bị tấn công bằng cách phá mật khẩu: Những kẻ tấn  
công có rất nhiều cách khác phức tạp hơn để tìm mật khẩu truy nhập. Những kẻ tấn  
công có trình độ đều biết rằng luôn có những khoản mục người dùng quản trị chính.  
Nguy cơ mất an toàn thông tin do sử dụng Email: Tấn công có chủ đích bằng  
thư điện tử là tấn công bằng Email giả mạo giống như email được gửi người quen, có  
thể gắn tập tin đính kèm nhằm làm cho thiết bị bị nhiễm virus. Cách thức tấn công này  
thường nhằm vào một cá nhân hay một tổ chức cụ thể. Thư điện tử đính kèm tập tin  
chứa virus được gửi từ kẻ mạo danh là một đồng nghiệp hoặc một đối tác nào đó.  
Người dùng bị tấn công bằng thư điện tử có thể bị đánh cắp mật khẩu hoặc bị lây  
nhiễm virus.  
Nguy cơ mất an toàn thông tin trong quá trình truyền tin: Trong quá trình  
lưu thông và giao dịch thông tin trên mạng Internet nguy cơ mất an toàn thông tin  
trong quá trình truyền tin là rất cao do kẻ xấu chặn đường truyền và thay đổi hoặc phá  
hỏng nội dung thông tin rồi gửi tiếp tục đến người nhận.  
Mặt khác, ngày nay Internet/Intranet là môi trường tiện lợi cho việc trao đổi  
thông tin giữa các tổ chức và giữa các cá nhân trong tổ chức với nhau. Các giao dịch  
trao đổi thư tín điện tử (Email), các trao đổi thông tin trực tuyến giữa cơ quan nhà  
   
12  
nước và công dân, tìm kiếm thông tin, …thông qua mạng Internet không ngừng được  
mở rộng và ngày càng phát triển.  
Bên cạnh các lợi ích mà Internet/Intranet mang lại thì đây cũng chính là môi  
trường tiềm ẩn các nguy cơ gây mất an toàn an ninh cho các hệ thống mạng của các tổ  
chức có tham gia giao dịch trên Internet/Intranet. Một vấn đề đặt ra cho các tổ chức là  
làm sao bảo vệ được các nguồn thông tin dữ liệu như các số liệu trong công tác quản  
lý hành chính nhà nước, về tài chính kế toán, các số liệu về nguồn nhân lực, các tài  
liệu về công nghệ, sản phẩm…., trước các mối đe dọa trên mạng Internet hoặc mạng  
nội bộ có thể làm tổn hại đến sự an toàn thông tin và gây ra những hậu quả nghiêm  
trọng khó có thể lường trước được.  
1.2. Giới thiệu bài toán  
Đề tài là sự kết hợp giữa 2 bài toán, một là bài toán nâng cấp Metasploit  
Framework. Hiện tại, Framework không có các chức năng nâng cao của Metasploit  
Pro như kiểm thử hệ thống theo kịch bản sẵn có, kiểm thử tự động, lập lịch quét, ...  
Hai là với nhu cầu thực tế về kiểm thử hệ thống đảm bảo tuân thủ các chuẩn an toàn  
thông tin, Framework chưa đáp ứng được mà chỉ được sử dụng như một công cụ cung  
cấp rất nhiều Exploit rời rạc. Do đó, tôi đã tìm hiểu xây dựng một phần mở rộng cho  
Framework và cụ thể hóa các yêu cầu của chuẩn an toàn thông tin mẫu là chuẩn ISO  
27001 thành các Exploit từ cơ sở dữ liệu về Exploit của Metasploit Framework, sắp  
xếp thành các nhóm để lên 1 kịch bản kiểm thử, từ đó lập lịch định kỳ chạy.  
 
13  
Chương 2. TỔNG QUAN VỀ METASPLOIT  
2.1. Khái niệm cơ bản  
Metasploit (Metasploit Project) là một dự án liên quan đến bảo mật máy tính,  
cung cấp những thông tin về các lỗ hổng bảo mật. Đối tượng của Metasploit chính là  
những quá trình tấn công xâm nhập kiểm thử (Penetration Testing) và phát triển các hệ  
thống phát hiện xâm nhập (IDS - Intrusion Detection System)  
Metasploit Framework có mã nguồn mở, sử dụng các Shellcode (Payload) để tấn  
công máy đích có lỗ hổng. Cùng với một số bộ công cụ bảo mật khác, Metasploit có  
cơ sở dữ liệu chứa hàng ngàn Shellcode, Exploit (khai thác) của các hệ điều hành, các  
chương trình hay dịch vụ. Trong quá trình phát triển Metasploit liên tục cập nhật các  
Exploit vào cơ sở dữ liệu nên càng ngày nó càng trở thành một bộ công cụ mạnh mẽ  
trong kiểm thử an ninh hệ thống.  
Metasploit Framework được tích hợp sẵn trong hệ điều hành Kali Linux. Phiên  
bản mới nhất cài đặt dành cho các hệ điều hành Linux/ MacOS/ Windows có thể được  
tải xuống từ địa chỉ Website của nhà phát triển Rapid  
Các tính năng chính của Metasploit:  
7
tại  
- Quét cổng để xác định các dịch vụ đang hoạt động trên máy chủ (Server).  
- Xác định các lỗ hổng dựa trên phiên bản của hệ điều hành và phiên bản các phần  
mềm cài đặt trên hệ điều hành đó.  
- Thực nghiệm khai thác các lỗ hổng đã được xác định.  
Lịch sử phát triển Metasploit:  
Metasploit được phát triển ra bởi H. D. Moore, sinh năm 1981, là chuyên gia về  
bảo mật mạng, lập trình viên nguồn mở và cũng là 1 Hacker. Ông là người sáng lập  
Metasploit Project vào năm 2003 như là một công cụ kiểm thử thâm nhập sử dụng  
ngôn ngữ lập trình Perl. Đến năm 2007, Metasploit Framework đã được viết lại hoàn  
toàn bằng ngôn ngữ lập trình Ruby. Vào ngày 21 tháng 10 năm 2009, dự án Metasploit  
đã được mua lại bởi Rapid7, một công ty bảo mật chuyên cung cấp các giải pháp bảo  
mật quản lý lỗ hổng.  
2.2. Các phiên bản Metasploit  
2.2.1. Metasploit Community Edition  
Phiên bản này được phát hành vào tháng 10 năm 2011 bao gồm một giao diện  
người dùng dựa trên web miễn phí cho Metasploit. Metasploit Community Edition dựa  
trên chức năng thương mại của các phiên bản trả phí với một số tính năng được giảm  
bớt như Network Discovery/Module Browsing/Manual Exploitation.  
Vào ngày 18 tháng 7 năm 2019, Rapid7 đã thông báo về việc kết thúc bán  
Metasploit Community Edition. Người dùng hiện tại có thể tiếp tục sử dụng nó cho  
đến khi giấy phép hết hạn.  
       
14  
Hình 2.1. Metasploit Community Edition  
2.2.2. Metasploit Framework Edition  
Là phiên bản mã nguồn mở, hoàn toàn miễn phí, rất phù hợp cho việc phát triển  
và nghiên cứu, sử dụng giao diện dòng lệnh, chỉ có một số tính năng cơ bản. Chính vì  
vậy việc phát triển, tích hợp các tính năng mới vào Metasploit Framework là rất cần  
thiết, phù hợp với những nhu cầu, nhiệm vụ kiểm thử an ninh hệ thống khi mà có giới  
hạn về mặt chi phí. Tuy có nhiều hạn chế về những tính năng ưu việt thì phiên bản này  
có thể coi là công cụ không thể thiếu của những nhà nghiên cứu bảo mật chuyên  
nghiệp, những người kiểm thử xâm nhập và được giới Hacker rất ưa chuộng.  
Hình 2.2. Giao diện Metasploit Framework  
     
15  
2.2.3. Metasploit Pro  
Tháng 10 năm 2010, Rapid7 đã phát hành Metasploit Pro, một phiên bản thương  
mại. Có thể nói đây là một phiên bản mạnh mẽ nhất của Metasploit, nó bao gồm tất cả  
các tính năng của Metasploit Express và phát triển thêm các tính năng ưu việt khác  
như “Quick Start Wizards/MetaModules”, xây dựng, quản lý những hoạt động tấn  
công sử dụng kỹ nghệ xã hội (Social Engineering), kiểm thử ứng dụng Web, tạo các  
Payload một cách tự động để tránh sự phát hiện của các phần mềm Anti-Virus, tích  
hợp cả công cụ mạnh mẽ Nexpose cho việc quét lỗ hổng trên mạng.  
Phiên bản Metasploit Pro hỗ trợ cả chế độ dòng lệnh và giao diện người dùng.  
Phiên bản này hiện tại có giá cao nhất so với các phiên bản khác, phù hợp cho những  
người thực hiện kiểm thử xâm nhập, những nhóm bảo mật.  
Hình 2.3. Metasploit Pro  
   
16  
Hình 2.4. So sánh phiên bản Metasploit Pro và Framework  
 
17  
2.3. Kiến trúc của Metasploit  
Hình 2.5. Kiến trúc Metasploit  
2.3.1. Thư viện chính  
Rex (Ruby Extension Library): sẽ bao gồm các thư viện cơ bản được sử dụng  
trong Framework cho các giao thức các giao thức khác nhau, chuyển đổi, và xử lý kết  
nối. hỗ trợ SSL, SMB, HTTP, XOR, Base64, Unicode.  
MSF Core: là phần lõi của Metasploit Framework, là thư viện định nghĩa các lớp  
điều khiển vận hành chung của Framework và cung cấp các API cơ bản.  
MSF Base: cung cấp các API đơn giản và thân thiện cho Metasploit Framework  
2.3.2. Giao diện  
Console:  
       
18  
Hình 2.6. Giao diện Console  
CLI:  
Hình 2.7. Giao diện CLI  
   
19  
Web (GUI)  
Hình 2.8. Giao diện Web-GUI  
2.3.3. Mô đun chức năng  
Payloads: là một đoạn code được chạy (thực thi) trên máy nạn nhân dùng để thực  
hiện một số hoạt động nào đó gồm 2 loại:  
- Bind payload: nếu có thể tiếp cận mạng từ bên ngoài, sau khi khai thác thành  
công, máy tấn công sẽ gửi kết nối tới máy nạn nhân để gửi Payload và tương  
tác từ bên ngoài mạng.  
- Reverse payload: sau khi khai thác thành công, máy nạn nhân sẽ mở một kết  
nối tới máy tấn công (kết nối đi ra ngoài mạng) để vượt qua tường lửa từ bên  
trong.  
Exploits: là chương trình khai thác lỗ hổng dịch vụ, ta bắt buộc phải biết được lỗ  
hổng trên máy nạn nhân.  
Encoders: là payload được encoding, mã hóa và được chèn vào những kí tự đặc  
biệt giúp tránh bị phát hiện bởi phần mềm diệt virus hoặc tường lửa.  
Nops: là một module tùy chọn thêm để đảm bảo kích thước của payload.  
Auxiliary: là một loại module đặc biệt, nó cung cấp chức năng tăng cường cho  
các thử nghiệm xâm nhập và quét lỗ hổng, thu thập thông tin, quét cổng, ...  
2.3.4. Thành phần mở rộng  
Plugins: gồm các Plugin có thể tải vào trong quá trình chạy. Plugin là các công  
cụ, module giúp tương tác với công cụ bên thứ 3 hoặc hỗ trợ quá trình khai thác  
Metasploit Framework. Các nhà phát triển cá nhân khi muốn phát triển module hoặc  
chức năng mới cho Metasploit sẽ cần phát triển thành một Plugin và được đánh giá bởi  
cộng đồng người sử dụng.  
Tools: chứa một vài tiện ích dòng lệnh hữu dụng hỗ trợ trong quá trình khai thác  
như bộ dịch ASM, ....  
     
20  
Chương 3. HỆ THỐNG CÁC TIÊU CHUẨN VỀ AN TOÀN THÔNG TIN  
Hiện nay, trên thế giới đã hình thành một hệ thống tiêu chuẩn An toàn thông tin  
tương đối đầy đủ, bao quát được hầu hết các khía cạnh của lĩnh vực an toàn thông tin  
và đáp ứng mọi đối tượng cần tiêu chuẩn hóa (sản phẩm, dịch vụ, quy trình). Hệ thống  
tiêu chuẩn này có thể phân thành ba loại gồm: tiêu chuẩn đánh giá, tiêu chuẩn đặc tả  
và tiêu chuẩn về quản lý  
Tuân thủ tiêu chuẩn an toàn thông tin (ATTT) là yếu tố quan trọng đảm bảo cho  
sự hoạt động ổn định và tin cậy của hạ tầng kỹ thuật, sự an toàn của hệ thống thông tin  
và dữ liệu của tổ chức, cá nhân. Đối với các nhà thiết kế và sản xuất, tiêu chuẩn sẽ hỗ  
trợ để họ có thể cung cấp cho thị trường những sản phẩm chất lượng cao và phù hợp  
với các đối tượng sử dụng.  
Tiêu chuẩn hóa trong ATTT với tư cách là một lĩnh vực, được khởi đầu ở Mỹ  
vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước, khi mạng máy tính ở Bộ Quốc phòng (Mỹ)  
xuất hiện những vấn đề đầu tiên về an ninh, an toàn. Tiêu chuẩn ATTT đầu tiên được  
thừa nhận ở phạm vi quốc tế và có ảnh hưởng đặc biệt đối với quá trình xây dựng  
nhiều tiêu chuẩn sau này là “Các tiêu chí đánh giá các hệ thống máy tính tin cậy”  
(Trusted Computer System Evaluation Criteria - TCSEC), được Bộ Quốc phòng (Mỹ)  
xây dựng và công bố năm 1983. Tiêu chuẩn này được sử dụng trong đánh giá, phân  
loại, lựa chọn để xử lý, lưu trữ, phục hồi thông tin nhạy cảm và thông tin mật trong Bộ  
Quốc phòng (Mỹ). Trong tiêu chuẩn này, lần đầu tiên hàng loạt các khái niệm và nội  
dung cơ bản về ATTT được đề cập như: hệ thống an toàn và tin cậy, mức độ đảm bảo,  
cơ sở tính toán tin cậy, trọng tâm và phạm vi an toàn, chính sách an toàn thông tin,  
quản lý truy cập....  
Sau TCSEC, nhiều tiêu chuẩn ATTT, dựa trên nền tảng của tiêu chuẩn này ra  
đời. Kết quả của hoạt động khẩn trương đó là trong hai thập kỷ 80, 90 của thế kỷ  
trước, một số lượng lớn tiêu chuẩn trong lĩnh vực ATTT đã được xây dựng và công  
bố. Những tiêu chuẩn này được sàng lọc trong thực tiễn, nhiều tiêu chuẩn trong số đó  
được áp dụng hiệu quả và được nhiều quốc gia, tổ chức chấp nhận, khuyến cáo thành  
tiêu chuẩn chính thức. Đến nay, hầu hết các khía cạnh của lĩnh vực ATTT đã được tiêu  
chuẩn hóa (sản phẩm, dịch vụ, quy trình). Hệ thống tiêu chuẩn này có thể phân thành  
ba loại như sau:  
- Các tiêu chuẩn đánh giá: là các tiêu chuẩn dùng để đánh giá, phân loại các hệ  
thống thông tin và các phương tiện bảo vệ thông tin.  
- Các tiêu chuẩn đặc tả: là các tiêu chuẩn mang đặc tính kỹ thuật, chúng xác lập  
các phương diện khác nhau trong việc thực thi và sử dụng các phương tiện bảo vệ  
thông tin.  
- Các tiêu chuẩn về quản lý: Các tiêu chuẩn này xác định yêu cầu đối với công  
tác tổ chức và quản lý ATTT, quản lý rủi ro và hướng dẫn về ATTT.  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 71 trang yennguyen 20700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nâng cấp ứng dụng khai thác các lỗ hổng an ninh Metasploit Framework", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nang_cap_ung_dung_khai_thac_cac_lo_hong_an_ninh_met.pdf