Luận văn Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức đến chia sẻ tri thức của nhân viên: Trường hợp ngành Kiểm toán nhà nước

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
-----------------------------  
CAO THỊ THÚY HẰNG  
ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐẾN  
CHIA SẺ TRI THỨC CỦA NHÂN VIÊN:  
TRƢỜNG HỢP NGÀNH KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
-----------------------------  
CAO THỊ THÚY HẰNG  
ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐẾN  
CHIA SẺ TRI THỨC CỦA NHÂN VIÊN:  
TRƢỜNG HỢP NGÀNH KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC  
Chuyên ngành: Quản lý công  
Mã số: 8340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS. TS. BÙI THỊ THANH  
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi là Cao Thị Thúy Hằng, thực hiện nghiên cứu luận văn thạc sĩ “Ảnh hƣởng  
của văn hóa tổ chức đến chia sẻ tri thức của nhân viên: Trƣờng hợp ngành Kiểm toán  
nhà nƣớc”. Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung của bài luận văn là kết quả nghiên cứu  
của cá nhân tôi, thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn của PGS. TS. Bùi Thị Thanh.  
Các số liệu đƣợc nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố  
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính  
trung thực của đề tài nghiên cứu này.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng8 năm 2018  
Tác giả luận văn  
Cao Thị Thúy Hằng  
 
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
 
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Ký hiệu  
EFA  
Diễn giải  
Exploratory Factor Analysis  
Hệ thống  
HT  
KMO  
KTNN  
SPSS  
TMCP  
VHTC  
Kaiser-Meyer-Olkin  
Kiểm toán nhà nƣớc  
Statistical Package for the Social Sciences  
Thƣơng mại cổ phần  
Văn hóa tổ chức  
 
DANH MỤC HÌNH VẼ  
Hình 2.1. Văn hóa có ảnh hƣởng đến hoạt động trong mọi khía cạnh của  
tổ chức  
6
7
Hình 2.2. Văn hóa hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực  
có một đặc điểm/giới hạn riêng  
Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu của Al-Alawi A. I và cộng sự (2007)  
Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu của Islam và cộng sự (2011)  
Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Jahani và cộng sự (2011)  
Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu của Kathiravelu và cộng sự (2014)  
Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu đề xuất  
15  
18  
19  
21  
28  
29  
57  
59  
61  
63  
66  
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu  
Hình 4.1: Mức độ đồng ý đối với yếu tố niềm tin của nhân viên KTNN  
Hình 4.2: Mức độ đồng ý đối với yếu tố sự tƣơng tác của nhân viên KTNN  
Hình 4.3: Mức độ đồng ý đối với yếu tố lãnh đạo của nhân viên KTNN  
Hình 4.4: Mức độ đồng ý đối với yếu tố khen thƣởng của nhân viên KTNN  
Hình 4.5: Mức độ đồng ý đối với yếu tố công nghệ thông tin của nhân viên  
Kiểm toán nhà nƣớc  
Hình 4.6: Mức độ đồng ý đối với yếu tố cấu trúc tổ chức của nhân viên  
Kiểm toán nhà nƣớc  
68  
Hình 4.7: Biểu đồ tần số phần dƣ chuẩn hóa Histogram  
Hình 4.8: Biểu đồ phần dƣ chuẩn hóa Normal P-P Plot  
Hình 4.9: Biểu đồ phân tán Scatter Plot  
69  
70  
70  
 
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 2.1. Tổng hợp các yếu tố văn hóa tổ chức từ các nghiên cứu trƣớc  
Bảng 3.1: Thang đo “Niềm tin”  
22  
32  
33  
34  
34  
35  
36  
37  
38  
44  
46  
48  
48  
49  
50  
50  
51  
52  
53  
54  
54  
Bảng 3.2: Thang đo “Sự tƣơng tác”  
Bảng 3.3: Thang đo “Lãnh đạo”  
Bảng 3.4: Thang đo “Hệ thống khen thƣởng”  
Bảng 3.5: Thang đo “Công nghệ thông tin và truyền thông”  
Bảng 3.6: Thang đo “Cấu trúc tổ chức”  
Bảng 3.7: Thang đo “Chia sẻ tri thức”  
Bảng 3.8: Thang đo likert 5 mức độ  
Bảng 4.1: Thống kê mô tả mẫu  
Bảng 4.2: Kết quả phân tích Cronbach's Alpha của các thang đo  
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định KMO và kiểm định Bartlett biến độc lập  
Bảng 4.4: Kết quả Ma trận xoay các nhân tố biến độc lập  
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định KMO và kiểm định Bartlett biến phụ thuộc  
Bảng 4.6: Kết quả phân tích EFA thang đo chia sẻ tri thức  
Bảng 4.7: Kết quả phân tích EFA các nhân tố  
Bảng 4.8: Kết quả phân tích hệ số tƣơng quan Pearson giữa các biến  
Bảng 4.9: Các nhân tố đƣợc đƣa vào phân tích hồi quy tuyến tính  
Bảng 4.10: Đánh giá độ phù hợp của mô hình  
Bảng 4.11: Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (ANOVA)  
Bảng 4.12: Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội  
 
Bảng 4.13: Các đội nhóm trong hoạt động kiểm toán của KTNN  
Bảng 4.14: Kế hoạch đào tạo năm 2018 của Kiểm toán nhà nƣớc  
Bảng 4.15: Xếp loại thi đua – khen thƣởng theo thành tích tập thể, cá nhân  
60  
62  
64  
67  
Bảng 4.16: Hiệu quả hoạt động kiểm toán dƣới sự hỗ trợ của công nghệ thông  
tin và truyền thông  
Bảng 4.17: Kết quả Test of Homogeneity of Variances theo độ tuổi  
Bảng 4.18: Kết quả kiểm định sự khác biệt theo độ tuổi  
71  
71  
72  
72  
72  
73  
73  
74  
77  
Bảng 4.19: Kết quả Test of Homogeneity of Variances theo trình độ học vấn  
Bảng 4.20: Kết quả kiểm định sự khác biệt theo trình độ học vấn  
Bảng 4.21: Kết quả Test of Homogeneity of Variances theo năm công tác  
Bảng 4.22: Kết quả kiểm định sự khác biệt theo số năm công tác  
Bảng 4.23: Kết quả Test of Homogeneity of Variances theo thâm niên KTNN  
Bảng 4.24: Kết quả kiểm định sự khác biệt theo thâm niên trong KTNN  
Bảng 5.1: Thống kê mô tả các giá trị thang đo  
1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU  
1.1. Lý do chọn đề tài  
Xu hƣớng hội nhập và toàn cầu hóa đã và đang diễn ra nhanh chóng, cùng với  
nó là sự bùng nổ về công nghệ tri thức của nhân loại thời đại mới. Tri thức nhân loại  
ngày càng phát triển với tốc độ chóng mặt, sự cạnh tranh diễn ra không ngừng ảnh  
hƣởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của các tổ chức tƣ hay các tổ chức công.  
Chúng ta không thể phát triển theo hƣớng “phát minh lại cái bánh xe đạp”, tất cả  
mọi tổ chức cần phải học hỏi và chia sẻ để có thể sử dụng và phát huy những tri  
thức mà nhân loại đã phát minh. Bên cạnh các yếu tố nhƣ định hƣớng thị trƣờng,  
định hƣớng học hỏi, định hƣớng phát triển hay các yếu tố xuất phát tự bản thân mỗi  
cá nhân thì yếu tố văn hóa tổ chức đóng vai trò quan trọng tác động đến việc chia sẻ  
tri thức trong tổ chức.  
Để khẳng định vai trò của VHTC đối với việc chia sẻ tri thức trong tổ chức đó,  
nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đƣợc thực hiện: Nghiên cứu “Văn hóa tổ chức và  
chia sẻ tri thức: Những nhân tố thành công chủ yếu” của Alawi và cộng sự (2007) đã  
đƣa ra các yếu tố về VHTC ảnh hƣởng đến chia sẻ tri thức; nghiên cứu “Văn hóa tổ  
chức và chia sẻ tri thức: Bằng chứng thực tế từ các tổ chức dịch vụ” của Islam và  
cộng sự (2011) về các khía cạnh của văn hóa có tác động đến chia sẻ tri thức; nghiên  
cứu của Kathiravelu và cộng sự (2014) về thực tiễn “Tại sao văn hóa tổ chức thúc đẩy  
chia sẻ tri thức?” đã tổng hợp và phân tích các yếu tố thuộc VHTC ảnh hƣởng đến  
chia sẻ tri thức.  
Ngày nay, văn hóa tổ chức - chia sẻ tri thức là cụm từ nổi cộm và nhận đƣợc  
nhiều sự quan tâm của các tổ chức, cá nhân trong cả lĩnh vực công và lĩnh vực tƣ.  
Đặc biệt đối với KTNN Việt Nam là cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập,  
hoạt động độc lập với cả cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tƣ pháp  
của nhà nƣớc, có chức năng “Đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc  
quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công” đƣợc quy định tại Luật KTNN số  
81/2015/QH13 do Quốc hội ban hành. Với chức năng và trọng trách đƣợc giao,  
   
2
KTNN phải là một tổ chức hoạt động gồm những Kiểm toán viên có đầy đủ năng  
lực, kỹ năng và kinh nghiệm chuyên môn để đảm bảo các hoạt động của tổ chức  
đƣợc hoàn thành với chất lƣợng công việc cao.  
Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn KTNN còn gặp khó khăn: Đội ngũ nhân  
viên trẻ mới vào nghề (chiếm khoảng 16% tổng số công chức của KTNN) chƣa có  
nhiều kỹ năng và kinh nghiệm chuyên môn về kiểm toán cũng nhƣ về những lĩnh  
vực chuyên môn có liên quan; chức năng kiểm toán bao trùm tất cả các lĩnh vực có  
sử dụng ngân sách của nhà nƣớc; nhiều khu vực đặt trụ sở rải rác tại các tỉnh, thành  
trên cả nƣớc (13 KTNN khu vực đặt trụ sở tại 13 tỉnh, thành); chính sách luân  
chuyển cán bộ giữa các cơ quan KTNN, các bộ phận phòng ban và các lĩnh vực  
kiểm toán; yêu cầu của Tổng KTNN về việc Kiểm toán viên phải là ngƣời có năng  
lực và chuyên môn cao trong tất cả các lĩnh vực đƣợc kiểm toán của KTNN; còn  
hiện tƣợng cùng một vấn đề đƣợc phát hiện ở những đơn vị đƣợc kiểm toán khác  
nhau (do các cơ quan KTNN chuyên ngành, khu vực khác nhau thực hiện kiểm  
toán) lại có những ý kiến kiểm toán, kết luận và kiến nghị xử lý khác nhau, không  
đảm bảo tính thống nhất chung trong toàn ngành, gây khó khăn cho đơn vị đƣợc  
kiểm toán và làm giảm uy tín hoạt động của KTNN.  
Vì vậy việc thực hiện chia sẻ tri thức trong tổ chức là vô cùng quan trọng; nó  
góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí cho các hoạt động đào tạo, nghiên cứu của đội  
ngũ nhân viên mới; giúp họ nhanh chóng đảm bảo kiến thức, kỹ năng và kinh  
nghiệm chuyên môn cho các hoạt động của KTNN.  
Mặt khác, việc chia sẻ tri thức trong nội bộ KTNN hiện nay còn nhiều hạn  
chế, hàng năm KTNN có tổ chức các dự án tự đào tạo, hội thảo để các thành viên có  
thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm tuy nhiên chủ yếu vẫn mang tính thụ động, một  
chiều… Nguyên nhân một phần do VHTC chƣa đƣợc chú trọng phát triển; hệ thống  
khen thƣởng tập trung chú trọng phát triển cá nhân; chƣa ứng dụng tốt các công  
nghệ thông tin và truyền thông; cấu trúc tổ chức quan liêu cùng phong cách lãnh  
đạo theo cơ chế thủ trƣởng chƣa tạo ra một môi trƣờng an toàn… Vì vậy việc xây  
3
dựng VHTC tốt đảm bảo tác động tích cực đến ý thức, hành vi của nhân viên trong  
việc chia sẻ tri thức là vấn đề cấp thiết nhằm phát huy sức mạnh tri thức nội tại  
trong các tổ chức cho sự phát triển bền vững chung của tổ chức.  
Kế thừa các nghiên cứu trên thế giới, tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên  
cứu khẳng định tầm quan trọng của văn hóa tổ chức trong việc chia sẻ tri thức của  
nhân viên: Nghiên cứu “Ảnh hƣởng của văn hóa tổ chức đến việc chia sẻ tri thức của  
nhân viên - Nghiên cứu trƣờng hợp các ngân hàng TMCP tại tỉnh Cần Thơ” của  
Huỳnh Thị Thanh Loan (2015) tiến hành khảo sát các nhân viên ngân hàng TMCP ở  
Cần Thơ về sự ảnh hƣởng của VHTC đến chia sẻ tri thức; Phạm Quốc Trung và  
Nguyễn Hoàng Lập (2014) tiến hành nghiên cứu “Ảnh hƣởng của văn hóa tổ chức  
đến việc chia sẻ tri thức của nhân viên ngành xây dựng Việt Nam” đối với nhân viên  
trong ngành xây dựng; nghiên cứu “Ảnh hƣởng của văn hóa tổ chức đến việc chia sẻ  
tri thức - Nghiên cứu tại các doanh nghiệp xây dựng TP. Hồ Chí Minh” của tác giả  
Trần Minh Thành (2013) thực hiện khảo sát tại các doanh nghiệp xây dựng TP. Hồ  
Chí Minh để xác định mức độ ảnh hƣởng của VHTC đến chia sẻ tri thức. Tuy nhiên  
đến nay, vẫn chƣa có nghiên cứu nào về đề tài này trong ngành KTNN.  
Từ những vấn đề nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của văn hóa tổ  
chức đến chia sẻ tri thức của nhân viên: Trường hợp ngành Kiểm toán nhà nước”  
để giúp các nhà Lãnh đạo của KTNN xác định đƣợc các khía cạnh của VHTC có tác  
động tích cực đến chia sẻ tri thức của nhân viên trong ngành KTNN.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt đƣợc các mục tiêu:  
(i) Xác định các thành phần thuộc VHTC ảnh hƣởng đến chia sẻ tri thức của  
nhân viên trong tổ chức.  
(ii) Xác định mức độ tác động của các thành phần thuộc VHTC đến chia sẻ  
tri thức của nhân viên trong ngành KTNN.  
 
4
(iii) Đề xuất các khuyến nghị nhằm cải thiện VHTC để tăng cƣờng chia sẻ tri  
thức trong tổ chức KTNN với điều kiện các nguồn lực giới hạn.  
1.3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tƣợng nghiên cứu: Văn hóa tổ chức, chia sẻ tri thức và mối quan hệ  
giữa chúng.  
- Đối tƣợng khảo sát: Nhân viên KTNN tại các đơn vị:  
+ Đơn vị tham mƣu: Vụ Tổng hợp;  
+ Đơn vị sự nghiệp: Trƣờng Đào tạo và Bồi dƣỡng nghiệp vụ Kiểm toán;  
+ Kiểm toán nhà nƣớc chuyên ngành III, chuyên ngành VI;  
+ Kiểm toán nhà nƣớc khu vực I (miền Bắc), khu vực III (miền Trung), khu  
vực XII (Tây Nguyên) và khu vực XIII (miền Nam).  
- Phạm vi nghiên cứu:  
+ Văn hóa tổ chức và chia sẻ tri thức trong các cơ quan, đơn vị thuộc ngành  
KTNN.  
+ Thời gian thực hiện nghiên cứu: Từ tháng 9/2017 đến tháng 7/2018.  
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng là phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng  
có kết hợp với nghiên cứu định tính, cụ thể là:  
- Phƣơng pháp nghiên cứu định tính: Thực hiện bằng kỹ thuật thảo luận với 2  
nhóm để điều chỉnh, bổ sung thang đo và bảng câu hỏi về các yếu tố ảnh hƣởng đến  
chia sẻ tri thức để phù hợp với tình hình thực tiễn tại KTNN, cụ thể:  
Nhóm thảo luận 1: Gồm 9 nhân viên đang làm việc tại KTNN, thực hiện thảo  
luận trực tuyến thông qua sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông.  
   
5
Nhóm thảo luận 2: Gồm 7 nhà quản lý đang làm việc tại KTNN khu vực XIII,  
thực hiện thảo luận trực tiếp.  
- Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng: Dựa trên kết quả thu thập đƣợc từ việc  
thực hiện khảo sát trực tiếp thông qua bảng câu hỏi đã đƣợc xây dựng và điều chỉnh  
đối với các đơn vị thuộc KTNN nhằm xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến việc chia  
sẻ tri thức trong ngành KTNN. Tác giả sử dụng kỹ thuật phân tích trên phần mềm  
SPSS: Cronback’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và kỹ thuật thống kê  
mô tả/mô hình hồi quy để phân tích dữ liệu và tổng hợp kết quả nghiên cứu.  
- Nguồn của thông tin, dữ liệu: Nguồn dữ liệu sơ cấp, thông qua thực hiện tiến  
hành khảo sát và phỏng vấn. Mẫu khảo sát đƣợc lựa chọn theo phƣơng pháp chọn  
mẫu thuận tiện các nhân viên đang làm việc tại đơn vị KTNN.  
1.5. Cấu trúc luận văn  
Kết cấu của báo cáo nghiên cứu gồm 5 chƣơng:  
Chƣơng 1. Tổng quan về nghiên cứu  
Chƣơng 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
Chƣơng 3. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Chƣơng 4. Kết quả nghiên cứu  
Chƣơng 5. Kết luận và hàm ý quản trị.  
Tóm tắt: Chƣơng 1 đã trình bày tổng quan về lý do chọn đề tài của nghiên  
cứu, mục tiêu và phƣơng pháp nghiên cứu làm cơ sở và định hƣớng cho những  
chƣơng tiếp theo của luận văn.  
 
6
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Văn hóa và văn hóa tổ chức  
* Văn hóa  
Văn hóa là một khái niệm mang tính tập thể, tổ chức, gồm một loạt các hành vi  
ứng xử mang tính định hƣớng chung dựa trên nền tảng những suy nghĩ, ý thức, nhận  
thức của một tập thể, tổ chức hay cả cộng đồng (Schein, 2006). Văn hóa là một phạm  
trù đa dạng và phức tạp; có ảnh hƣởng trực tiếp tới nhận thức, hành vi của con ngƣời;  
gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhân loại (Smith và McKeen, 2003).  
Hình 2.1. Văn hóa có ảnh hƣởng đến hoạt động trong mọi khía cạnh  
của tổ chức.  
Nguồn: Thẩm thấu nền văn hóa chia sẻ tri thức của Smith và McKeen (2003).  
Theo mô hình nghiên cứu của Smith và McKeen (năm 2003): Văn hóa là yếu tố  
mang tính bao trùm trong một tổ chức, có thể gây tác động hạn chế đến các khía cạnh  
khác trong hoạt động của tổ chức cũng nhƣ giới hạn những mong muốn, định hƣớng  
và thực tiễn.  
     
7
Văn hóa đƣợc hình thành bởi các giá trị mang tính truyền thống, từ đó hình  
thành ý thức hệ dẫn đến thái độ và hành vi của các cá nhân, tập thể trong cộng đồng.  
Văn hóa là yếu tố phi vật chất, có vai trò vô cùng quan trọng trong các tổ chức, bởi  
vì văn hóa có thể ảnh hƣởng mạnh mẽ đến nhận thức cũng nhƣ hành vi của con  
ngƣời và rất khó để thay đổi nó (Smith và McKeen, 2003).  
Hình 2.2. Văn hóa hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực có  
một đặc điểm/giới hạn riêng.  
Nguồn: Thẩm thấu nền văn hóa chia sẻ tri thức của Smith và McKeen (2003).  
Theo hình 2.2, VHTC không tồn tại đơn lẻ, nó đƣợc định thành bởi văn hóa xã  
hội nơi mà tổ chức hoạt động. Tƣơng tự, trong khi hình thành chúng, VHTC không  
hoàn toàn xác định văn hóa của các đơn vị kinh doanh hay các đơn vị chức năng khác  
nhau. Kết quả là, một bộ phận nghiên cứu và phát triển có thể có văn hóa khác biệt  
đáng kể so với bên bán hàng và tiếp thị. Hơn nữa, giống nhƣ văn hóa xã hội, VHTC  
sẽ thay đổi trong suốt cuộc đời của tổ chức, phù hợp từng giai đoạn từ khi thành lập,  
trong quá trình tồn tại và phát triển.  
8
Văn hóa nên đƣợc đề cập đến nhƣ là một tập hợp của những đặc trƣng về tâm  
hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội  
mà nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phƣơng thức chung  
sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin (UNESCO, 2002).  
Văn hóa không mang tính cá thể, văn hóa là một khái niệm mang tính đội  
nhóm, tổ chức, bao gồm một loạt các các hành vi ứng xử mang tính định hƣớng  
chung dựa trên nền tảng những suy nghĩ, ý thức, nhận thức của một nhóm ngƣời,  
một tổ chức hay cả cộng đồng… (Schein, 2006).  
Văn hóa chia sẻ sẽ thúc đẩy sự chia sẻ tri thức trong tổ chức, văn hóa cục bộ sẽ  
là rào cản đối với sự chia sẻ đó; do vậy để thúc đẩy việc chia sẻ tri thức theo hƣớng  
tích cực thì các nhà lãnh đạo tổ chức phải tạo ra đƣợc một VHTC đảm bảo môi  
trƣờng hoạt động với các điều kiện an toàn để mọi thành viên sẵn sàng chia sẻ tri  
thức của mình với ngƣời khác.  
* Văn hóa tổ chức  
- Khái niệm:  
Theo Schein (2010), VHTC đƣợc hình thành thông qua một quá trình lâu dài  
từ giai đoạn thành lập, phát triển, tái cấu trúc và tiếp tục phát triển bền vững. Tại  
thời điểm thành lập, VHTC đƣợc định hình dựa trên niềm tin và giá trị của ngƣời  
sáng lập, cùng với quá trình hình thành và phát triển, VHTC cũng có sự biến  
chuyển: Thay đổi, lƣợc bớt hay củng cố thêm và tới một lúc nào đó nó đƣợc thừa  
nhận trong tổ chức nhƣ một giả định bất biến, không thể đàm phán đƣợc. Hay nói  
cách khác, VHTC là những giá trị riêng biệt xây dựng dựa trên niềm tin và giá trị  
cốt lõi của tổ chức, là những giá trị không thể đàm phán đƣợc gọi là giả định và  
VHTC tạo mối liên kết bền vững giữa các cá nhân trong tổ chức đó.  
Tóm lại, văn hóa tổ chức là những giả định cơ bản chung mà các cá nhân hay  
một nhóm có thể học đƣợc khi nó giải quyết những vấn đề phát sinh để thích nghi  
bên ngoài và để hòa nhập với bên trong tổ chức, điều đó đƣợc thực hiện đủ tốt để  
9
đƣợc xem là hợp lý. VHTC đƣợc sử dụng dể dạy cho các thành viên mới có thể  
nhận thức, tƣ duy, và cảm nhận đúng đắn về các vấn đề phát sinh bên trong và bên  
ngoài tổ chức (Park và cộng sự, 2004; Schein, 2006) và văn hóa của một tổ chức sẽ  
ảnh hƣởng đến các sáng kiến về quản lý tri thức và sẽ dẫn dắt nhân viên hƣớng tới  
các hành vi cụ thể trong việc chia sẻ kiến thức.  
- Các yếu tố thuộc văn hóa tổ chức  
Niềm tin: Là tập hợp những sự tin tƣởng, tin cậy của một ngƣời (ngƣời nhận  
thông tin) đối với ngƣời truyền thông tin (Bakker và cộng sự, 2006); là cảm nhận,  
tình cảm hoặc mong đợi về một đối tác (ngƣời ủy thác) trao đổi có đƣợc từ năng lực  
chuyên môn, độ tin cậy và tính ý chí của ngƣời đó hoặc từ sự trung thực và nhân từ  
của họ (Cheng và cộng sự, 2008)  
Sự tƣơng tác: Là hiện tƣợng có những hoạt động giao tiếp qua lại giữa các  
thành viên trong tổ chức nhằm truyền tải thông tin cần thiết đảm bảo hoàn thành công  
việc và mục tiêu của tổ chức, đƣợc hỗ trợ rất nhiều bởi sự tồn tại và phát triển của các  
mạng xã hội nhƣ hiện nay. Sự tƣơng tác tốt giữa các thành viên, nhóm và phòng ban  
trong tổ chức là yếu tố cơ bản để khuyến khích hành vi chia sẻ tri thức của tổ chức đó  
(Alawi và cộng sự, 2007)  
Lãnh đạo: Là quá trình tạo ảnh hƣởng đến ngƣời khác nhằm thay đổi nhận  
thức, hành vi của họ để có thể đạt đƣợc mục tiêu mong muốn chung (Jong và Hartog,  
2007); là quá trình khuyến khích, tạo động lực cho ngƣời khác làm việc chăm chỉ để  
hoàn thành các nhiệm vụ quan trọng, nó tạo nên sự gắn kết và niềm đam mê lớn lao  
để mọi ngƣời áp dụng tài năng của họ vào việc hoàn thành các kế hoạch, mục tiêu  
chung vì sự phát triển bền vững của tổ chức (Schermerhorn, 2002).  
Hệ thống khen thƣởng: Là một quy trình trong đó thể hiện các mức độ khen  
thƣởng tƣơng ứng để khuyến khích sự chia sẻ thông tin và sự tƣơng tác giữa các  
thành viên, đội nhóm trong tổ chức. Những phần thƣởng nhƣ vậy phải dựa trên hiệu  
quả hoạt động nhóm chứ không phải là thành tích cá nhân (Goh, 2002; Alawi và cộng  
10  
sự, 2007); một hệ thống khen thƣởng có hiệu quả trong tổ chức là điều cần thiết để  
thúc đẩy nhân viên chia sẻ tri thức với nhau và giữa các phòng ban khác nhau để cùng  
phát triển vì mục tiêu chung của tổ chức (Islam và cộng sự, 2011).  
Công nghệ thông tin, truyền thông (ICT): ICT đƣợc sử dụng nhƣ là một thuật  
ngữ chung cho tất cả các loại công nghệ cho phép ngƣời dùng tạo ra, lƣu giữ, quản lý,  
truy cập và thao tác với thông tin; nhằm tạo sự tƣơng tác với nhau, hỗ trợ cho hoạt  
động hàng ngày trong các tổ chức (Whitten và cộng sự, 2001)  
Cấu trúc tổ chức: Đề cập đến cách thức mọi ngƣời và công việc trong một tổ  
chức đƣợc sắp xếp sao cho đảm bảo công việc của tổ chức (Bách khoa toàn thƣ về  
quản lý, 2000; trích trong “Quản lý tri thức trong một tổ chức công: Nghiên cứu mối  
quan hệ giữa các yếu tố tổ chức và thực hiện chuyển giao kiến thức”, 2004);  
- Đo lường văn hóa tổ chức  
Văn hóa tổ chức là tài sản của tổ chức và động lực thúc đẩy chia sẻ tri thức  
của nhân viên trong quá trình hoạt động của tổ chức. VHTC mang tính đặc trƣng,  
đặc thù để phân biệt tổ chức này với tổ chức khác. Trên thế giới hiện nay có nhiều  
quan điểm khác nhau về phân loại và đo lƣờng VHTC. Theo Cameron và Freeman  
(1988) có 4 loại văn hóa tổ chức: Văn hóa thứ bậc (chú trọng sự ổn định, khả năng  
tiên đoán và hoạt động nhịp nhàng, ăn khớp), văn hóa gia đình (chú trọng phát triển  
nguồn nhân lực), văn hóa thị trƣờng (chú trọng vào lợi thế cạnh tranh và dẫn đầu thị  
trƣờng) và văn hóa thích ứng (chú trọng đổi mới, tăng trƣởng và các nguồn lực  
mới). Mỗi một loại VHTC tƣơng ứng với chiến lƣợc phát triển riêng của tổ chức đó.  
Năm 2000, Gupta và Govindarajan tiến hành nghiên cứu “Các khía cạnh xã  
hội của Quản trị tri thức: Bài học từ Nucor Steel” đã đƣa ra các yếu tố của VHTC:  
Lãnh đạo, quy trình tổ chức, hệ thống khen thƣởng, cấu trúc tổ chức, công nghệ  
thông tin và con ngƣời (niềm tin, động lực làm việc và sự tƣơng tác).  
Theo Alawi và cộng sự (2007), VHTC đƣợc đo lƣờng bằng các yếu tố: Niềm  
tin, cấu trúc tổ chức, sự tƣơng tác giữa các nhân viên trong tổ chức, hệ thống khen  
11  
thƣởng và công nghệ thông tin; các yếu tố này đƣợc Alawi và cộng sự đƣa ra nhằm  
phù hợp với bối cảnh nghiên cứu tại các tổ chức khác nhau ở Bahrain từ khu vực  
công và tƣ. Theo đó, niềm tin chính là sự tin cậy giữa các nhân viên trong tổ chức;  
cấu trúc tổ chức vừa có thể là rào cản vừa có thể là động lực hỗ trợ việc chia sẻ tri  
thức của nhân viên tùy thuộc vào đó là cấu trúc tổ chức quan liêu truyền thống hay  
cấu trúc tổ chức hỗ trợ; sự tƣơng tác giữa các nhân viên trong tổ chức đề cập đến  
hoạt động giao tiếp của con ngƣời thông qua các mối liên hệ hằng ngày; hệ thống  
khen thƣởng đảm bảo việc chia sẻ tri thức đƣợc diễn ra dễ dàng hơn, bởi ngƣời có  
tri thức cần động lực mạnh mẽ để chia sẻ tri thức, chia sẻ những gì họ mất thời gian,  
công sức để có đƣợc; công nghệ thông tin là yếu tố đóng vai trò quan trọng, là yếu  
tố duy nhất khả thi để kết nối nhanh và hiệu quả trong việc chia sẻ tri thức.  
Theo Islam và cộng sự (2011), VHTC đƣợc đo lƣờng bằng 4 yếu tố: Niềm tin,  
sự tƣơng tác, lãnh đạo và hệ thống khen thƣởng thông qua nghiên cứu “Văn hóa tổ  
chức và chia sẻ tri thức: Bằng chứng thực nghiệm từ các tổ chức dịch vụ”. Trong  
đó, niềm tin đƣợc thể hiện bằng sự tín nhiệm, tình cảm hoặc kỳ vọng đối với một  
ngƣời thông qua mức độ tin cậy của ngƣời đó; sự tƣơng tác góp phần thúc đẩy chia  
sẻ tri thức vì nó liên quan đến sự tin tƣởng lẫn nhau giữa các cá nhân trong tổ chức  
hay giữa các tổ chức với nhau; lãnh đạo là quá trình tạo ảnh hƣởng đến ngƣời khác  
để đạt đƣợc mục tiêu mong đợi; hệ thống khen thƣởng có thể là phần thƣởng ngắn  
hạn hoặc dài hạn, một tổ chức có hệ thống hiệu quả sẽ thúc đẩy hành vi chia sẻ tri  
thức của con ngƣời.  
Theo Jahani và cộng sự (2011), VHTC đƣợc đo lƣờng bằng 2 yếu tố: Hệ thống  
khen thƣởng và lãnh đạo. Jahani và cộng sự tiến hành nghiên cứu “Hệ thống khen  
thƣởng và lãnh đạo có quan trọng trong việc chia sẻ tri thức giữa các giảng viên  
trƣờng đại học không?” tập trung xem xét tác động của 2 yếu tố trên đối với chia sẻ  
tri thức của các giảng viên đại học. Trong đó, hệ thống khen thƣởng có thể là các  
khoản khuyến khích tiền tệ hay các giải thƣởng phi tiền tệ tác động tới chia sẻ tri  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 121 trang yennguyen 14400 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức đến chia sẻ tri thức của nhân viên: Trường hợp ngành Kiểm toán nhà nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_anh_huong_cua_van_hoa_to_chuc_den_chia_se_tri_thuc.pdf