Luận án Pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX

VIỆN HÀN LÂM  
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
-------  -------  
HÀ THỊ LAN PHƯƠNG  
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG PHONG KIẾN VIỆT NAM  
TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XIX  
Ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật  
Mã số : 9 38 01 06  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC  
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương  
HÀ NỘI - 2019  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu  
Pháp luật tố tụng là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam  
cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào thì pháp luật tố  
tụng luôn có tầm quan trọng đặc biệt để thiết lập một thể chế quyền lực tư pháp nhằm  
bảo vệ nhà nước, bảo vệ chế độ chính trị xã hội, duy trì công lý, đảm bảo quyền con  
người, quyền công dân và những giá trị nhân văn của nhân loại.  
Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050,  
Nhà nước Việt Nam đã thông qua bản Hiến pháp năm 2013, những chính sách chung từ  
các kỳ đại hội Đảng, các Nghị quyết của Hội nghị trung ương, hoạch định cho nền tư  
pháp và Tòa án trách nhiệm cải tổ toàn diện, từng bước hoàn thiện về cơ cấu tổ chức,  
kiểm soát và quản lý chặt chẽ hoạt động tố tụng. Tất cả đều nhằm hướng tới mục tiêu  
đảm bảo công lý, công bằng, an toàn, an ninh và an sinh xã hội, không chỉ trong nước  
mà cả ở trong khu vực và trên trường quốc tế. Trong báo cáo chính trị, Đại hội Đảng lần  
thứ XII đã khẳng định:“Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp,  
xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý,  
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà  
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”[1, tr.114]. Nhìn lại  
hơn ba mươi năm cải cách, đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế, pháp luật tố tụng  
nói riêng và hệ thống tư pháp nói chung ở Việt Nam đến nay vẫn bộc lộ nhiều điểm bất  
cập, hạn chế. Thực trạng oan sai trong hoạt động truy tố, điều tra, xét xử làm cho người  
dân khó tin tưởng vào cán cân công lý, điều đó đặt ra cho ngành Tòa án và các cơ quan  
tiến hành tố tụng trách nhiệm phải có một kế hoạch cải tổ lâu dài, sâu sắc và triệt để.  
Thực hiện các nhiệm vụ trên, bên cạnh việc nghiên cứu các mô hình tố tụng tiến bộ của  
các nhà nước trong khu vực và trên thế giới cũng cần phải có các công trình nghiên cứu  
chuyên sâu về pháp luật tố tụng truyền thống ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử. Trên  
cơ sở đó tìm ra những ưu điểm, tiến bộ cần kế thừa cũng như những nhược điểm, hạn  
chế cần khắc phục; tìm ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp mới cho quá trình  
thiết kế, kiến tạo nền tư pháp tiến bộ hiện đại, hội nhập văn minh, tôn trọng quyền dân  
tộc, quyền quốc gia và quyền con người, tạo lập sự bình yên cho xã hội.  
Dưới góc nhìn lịch sử tư pháp, Việt Nam sở hữu những di sản cổ luật tiến bộ đặc  
sắc so với các nhà nước khác cùng thời, nhưng trên thực tế nguồn tư liệu lưu trữ và các  
công trình nghiên cứu về cổ luật nói chung, về tố tụng trong cổ luật nói riêng còn nhiều  
hạn chế. Tra cứu hầu hết các tàng thư, thư viện, danh mục các công trình khoa học  
nghiên cứu về pháp luật tố tụng trong thời kỳ quân chủ phong kiến vẫn còn rất nhiều  
khoảng trống. Phan Huy Chú từng nghiên cứu về hệ thống pháp luật truyền thống Việt  
Nam, ông rất nuối tiếc cho sự mất mát những di sản văn hóa pháp luật của dân tộc. Ông  
đã than rằng:“Sách điển chương pháp chế của cả một triều đại làm khuôn phép đời đời  
mà mất mát như thế, thực có đáng tiếc không?”[11, tr.65]. Trần Trọng Kim thì cho  
151  
rằng: đó là ngôi nhà cổ rất đẹp, lâu ngày không ai sang sửa, bụi đã phủ mờ. Tác giả Vũ  
Văn Mẫu đã viết: cổ luật Việt Nam là linh hồn trí não người xưa kết đúc lại cho thế hệ  
chúng ta qua bao lớp phế hưng của lịch sử [35; 123; 131].  
Theo thời gian và theo dòng lịch sử, những giá trị pháp lý truyền thống và phong  
tục tập quán được phản ánh trong những quy phạm pháp luật cũng như thực tiễn ứng  
dụng dường như vẫn đang tồn tại trong xã hội của chúng ta. Đó là pháp luật truyền  
thống về hành chính quan chế, quân sự an ninh, đất đai tài sản, gia đình và hôn nhân,  
dân sự và thừa kế, hương hỏa điền sản, tôn giáo và tín ngưỡng tâm linh. Truyền thống  
pháp luật còn đó nhưng các công trình nghiên cứu chuyên sâu thì hầu như vẫn còn để  
ngỏ. Muốn hoạch định được tương lai thì cần hiểu sâu về quá khứ. Đó là nguyên lý tất  
yếu của tính kế thừa biện chứng và sự phát triển của sự vật hiện tượng khách quan.  
Trong tiến trình hội nhập và phát triển, việc tìm hiểu và phát huy được những giá trị của  
di sản pháp lý cha ông, trân trọng giữ gìn bảo lưu truyền thống pháp luật nhân văn của  
dân tộc luôn là vấn đề thiết yếu của khoa học Việt Nam.  
Với những lý do trên và mong muốn góp phần xây dựng nền tư pháp chuyên  
nghiệp và chuẩn mực nhằm mục đích bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, nghiên  
cứu sinh đã lựa chọn đề tài:“Pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến  
thế kỷ XIX” làm luận án tiến sỹ luật học của mình.  
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài  
2.1 . Mục đích nghiên cứu của đề tài  
Thông qua nghiên cứu quá trình hình thành phát triển, hình thức và nội dung của  
pháp luật tố tụng PKVN từ thế kỷ XV – XIX, luận án làm sáng tỏ những thành tựu, giá  
trị và khả năng tiếp thu, ứng dụng trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật tố tụng và cải  
cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.  
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài  
Thứ nhất, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước, khu vực và quốc  
tế về pháp luật tố tụng quân chủ phong kiến Việt Nam. Từ đó chỉ ra những vấn đề đã  
được nghiên cứu và những vấn đề còn bỏ ngỏ cần tiếp tục bổ sung.  
Thứ hai, những vấn đề lý luận và lịch sử về pháp luật tố tụng của nhà nước quân  
chủ phong kiến Việt Nam thế kỷ XV - XIX.  
Thứ ba, nghiên cứu pháp luật tố tụng của các triều đại Lê Trịnh Nguyễn thông  
qua các Bộ luật, Hội điển, Điển chế và các ghi chép trong chính sử. Nghiên cứu những  
quy định về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, trình tự và thủ tục tố tụng, quy trình xét xử các  
vụ án và giải quyết các vụ việc kiện tụng trong hoạt động tư pháp của nhà nước quân  
chủ PKVN. Tiếp cận những nội dung cơ bản của pháp luật tố tụng như: khởi kiện, thụ  
lý, khảo cung, xét xử, thi hành án, về xác định sự thật của vụ án, về oan sai, về bảo vệ  
nhân mạng, trách nhiệm của quan án; phân loại tố tụng theo“loại vụ việc” nguyên tắc  
“Tôn quân quyền” tập quyền song hành với phân quyền và tản quyền trong quản lý nhà  
nước về lĩnh vực tư pháp.  
152  
Thứ tư, đánh giá được những giá trị lịch sử và đương đại, những tiến bộ và  
những hạn chế trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng của nhà nước phong  
kiến. Trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp trong việc tiếp thu, kế thừa và phát triển những  
thành tựu của pháp luật tố tụng truyền thống, vận dụng sáng tạo và phù hợp trong cải  
cách tư pháp xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay.  
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài  
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài  
Luận án tập trung nghiên cứu các quan điểm khoa học về pháp luật tố tụng, nội  
dung của pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX và quan  
điểm tiếp nhận pháp luật truyền thống trong xây dựng pháp luật đương đại.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài  
Về thời gian, đề tài nghiên cứu về pháp luật tố tụng của nhà nước quân chủ Việt  
Nam từ thế kỷ XV đến XIX (1428 – 1884). Chủ yếu là thời Lê Sơ (1428 – 1527), thời  
Lê Trịnh (1599 – 1786) và triều Nguyễn (1802 – 1884). Về không gian: đề tài nghiên  
cứu chuyên sâu về pháp luật tố tụng trong việc quản lý nhà nước về tư pháp căn cứ theo  
vùng lãnh thổ Việt Nam, từ miền Bắc thời Lê đến cả Bắc Nam trong triều Nguyễn,  
đồng thời mở rộng so sánh thêm ở một số nước trong khu vực và thế giới.  
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu  
4.1. Phương pháp luận của luận án  
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận triết học duy vật biện  
chứng và duy vật lịch sử, luật học, sử học, kinh tế học, chính trị học, hành chính học và  
logic học. Sử dụng phương pháp luận nghiên cứu kết hợp lịch sử so sánh (comparative  
History), luật học so sánh (comparative Law) với tính kế thừa và phát triển.  
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án  
Luận án đã sử dụng những phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã  
hội và những phương pháp nghiên cứu đặc thù trong nghiên cứu khoa học pháp lý như:  
Phương pháp thống kê: được sử dụng trong luận án nhằm tập hợp, đánh giá tình  
hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, hệ thống tổ chức các cơ quan tư pháp tố tụng, các  
văn bản pháp luật và nguồn sử liệu của các triều đại phong kiến Việt Nam.  
Phương pháp hệ thống hóa: được sử dụng nhằm nhận diện và đánh giá cơ cấu tổ  
chức hoạt động của cơ quan tố tụng trong mối liên hệ với tổ chức nhà nước PKVN. Sử  
dụng phương pháp cấu trúc hệ thống để nghiên cứu kỹ thuật lập pháp, nghiên cứu về  
trình tự thủ tục tố tụng, mối quan hệ giữa pháp luật tố tụng với các lĩnh vực pháp luật  
khác, vị trí vai trò của pháp luật tố tụng trong hệ thống pháp luật chung.  
Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng trong luận án nhằm nghiên cứu,  
luận giải về các nội dung liên quan đến chủ đề luận án. Kết hợp phương pháp quy nạp,  
diễn dịch, phân tích, chứng minh, giải thích, nhận xét đánh giá các chế định về tố tụng,  
các quy định, chế tài áp dụng trong hoạt động xét xử và thi hành án.  
Phương pháp luật học so sánh: được sử dụng trong luận án để làm sáng tỏ hệ  
153  
thống cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng, vấn đề thời hiệu, thời hạn, chứng cứ,  
chứng minh, sự chuyển đổi thể chế và quy trình tố tụng qua các giai đoạn lịch sử.  
Phương pháp xã hội học pháp luật: được sử dụng trong luận án nhằm khảo xét  
thực tiễn lịch sử pháp luật tố tụng trong xã hội phong kiến. Nghiên cứu một số bản án  
được ghi lại trong chính sử và dấu ấn của nó trong tâm thức dân tộc.  
Phương pháp trao đổi, tọa đàm: sử dụng để trao đổi trên diễn đàn tạp chí khoa  
học chuyên ngành, liên ngành và các hội thảo.  
Phương pháp logic và lịch sử: được sử dụng chủ yếu trong luận án nhằm nhận  
diện đặc điểm, tiến trình phát triển của pháp luật tố tụng qua các triều đại.  
Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp khái quát, mô hình hóa các cơ quan  
hành chính tư pháp; tiếp cận văn bản học để nghiên cứu các bộ luật cổ; hồi cố, hậu suy  
phục dựng lại bối cảnh lịch sử quá khứ để phân tích, suy xét, lập luận vấn đề; phương  
pháp định lượng, định tính, kết hợp với thống kê, phân loại các điều luật để đánh giá về  
số lượng, qua đó nhận thấy rõ nội dung, bản chất của vấn đề cần nghiên cứu theo  
nguyên lý lượng đổi chất đổi. Bên cạnh đó là phương pháp đồng đại, lịch đại, nghĩa là  
đặt các sự vật hiện tượng, vấn đề cùng loại trong tính logic của thời gian để thấy được  
tính vượt trước hoặc chậm trễ của pháp luật qua các thời kỳ. Luận án dựa trên cách tiếp  
cận liên ngành, đa ngành khoa học xã hội để nghiên cứu và luận giải về pháp luật tố  
tụng trong bức tranh tổng thể của xã hội Việt Nam thế kỷ XV – XIX.  
5. Những đóng góp mới về nghiên cứu khoa học của luận án  
Những đóng góp về lý luận của Luận án  
- Thứ nhất, Luận án đã nhận diện và làm rõ những vấn đề lý luận và lịch sử về  
pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam thời Lê Trịnh Nguyễn cả dưới góc độ  
tổng quát và chuyên ngành.  
- Thứ hai, Trên cơ sở đó chỉ ra mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế, xã hội, chính trị, tư  
tưởng và phong tục tập quán đến pháp luật tố tụng; luận giải vị trí vai trò, những  
nguyên tắc, đặc điểm, bản chất, mục tiêu, tính phổ biến và những điểm đặc thù  
của pháp luật tố tụng thời quân chủ PKVN. Nghiên cứu so sánh cho thấy, Việt  
Nam là một trong những quốc gia xây dựng bộ luật chuyên ngành về tố tụng đầu  
tiên ở khu vực châu Á và thế giới.  
Những đóng góp về thực tiễn của Luận án  
- Thứ nhất, Luận án trình bày bức tranh tổng thể, nghiên cứu khá toàn diện, hệ  
thống và chuyên sâu về hình thức, thủ tục, nội dung và thành tựu cơ bản của pháp luật  
tố tụng phong kiến Việt Nam trong thực tiễn lịch sử từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX.  
- Thứ hai, Luận án làm sáng tỏ một số nội dung về tính dân tộc đặc sắc, phân tích  
tính độc đáo, tiến bộ của một số chế định như: thẩm quyền và trình tự tố tụng, thủ tục tố  
tụng, quy trình tố tụng, hoạt động và giám sát tố tụng, phân loại vụ việc trong tố tụng,  
án lệ và các tiền lệ tư pháp, phạt tiền và chuộc hình phạt bằng tiền, chế độ Công đồng  
Đình nghị, Thu thẩm và cơ chế liên ngành Tam pháp ty. Luận án đã nhận diện và phân  
154  
tích tính đặc thù của thể chế quyền lực tư pháp thời Lê Sơ – Lê Thánh Tông, Lê Trịnh  
và triều Nguyễn trong nhà nước quân chủ phong kiến Việt Nam ở giai đoạn có nhiều  
biến động lịch sử thế kỷ XV - XIX.  
- Thứ ba, Luận án chỉ ra những giá trị lịch sử và đương đại cũng như một số giải  
pháp tiếp thu kế thừa các giá trị đó trong quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng, cải cách  
tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo vệ bảo hộ quyền công dân và quyền con  
người ở Việt Nam, khu vực và thế giới.  
Pháp luật tố tụng PKVN thế kỷ XV - XIX có nhiều thành tựu đáng để nghiên  
cứu và suy ngẫm. Kết quả nghiên cứu cho thấy pháp luật tố tụng ứng dụng trong giai  
đoạn lịch sử thế kỷ XV – XIX và có giá trị tham khảo cho quá trình cải cách tư pháp  
trong thời đại mới. Tiếp thu những giá trị của pháp luật tố tụng truyền thống trên tinh  
thần chỉnh hợp có chọn lọc những yếu tố tiến bộ của pháp luật tố tụng, đó là yêu cầu và  
trách nhiệm của khoa học pháp lý trong thực tiễn xã hội hiện nay.  
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án  
Luận án làm sáng tỏ thực tiễn lập pháp, giá trị pháp lý của pháp luật tố tụng  
truyền thống, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về lập pháp, xây dựng văn bản  
pháp luật và áp dụng pháp luật tố tụng trong hoạt động tư pháp xét xử, đề ra các giải  
pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng. Luận án cũng gợi mở hướng nghiên cứu một số văn  
bản pháp luật thời Lê, Hội điển và Châu bản triều Nguyễn, so sánh với pháp luật tố tụng  
thời thuộc Pháp và Việt Nam Cộng hòa để tìm ra giá trị và bài học cho đương thời.  
7. Kết cấu của luận án  
Nội dung của luận án ngoài lời cảm ơn, cam đoan, bảng ký hiệu viết tắt, mở đầu,  
kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, gồm có 4 chương như sau:  
Chương một: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài  
Chương hai: Nhận diện về lý luận và lịch sử pháp luật tố tụng PKVN  
Chương ba: Những quy định pháp luật tố tụng PKVN thế kỷ XV – XIX  
Chương bốn: Giá trị lịch sử và đương đại của pháp luật tố tụng PKVN trong quá  
trình cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay  
155  
Chương 1  
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI  
1.1. Khái lược về tình hình nghiên cứu  
1.1.1. Tình hình nghiên cứu đề tài pháp luật tố tụng ở trong nước  
Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về pháp luật tố tụng PKVN thế  
kỷ XV – XIX song chưa mang tính tổng thể và vẫn còn nhiều khoảng trống.  
Căn cứ vào các nguồn tư liệu, có thể chia thành 2 nhóm chính: (i) nhóm các công  
trình nghiên cứu chung về lý luận và lịch sử pháp luật Việt Nam thời phong kiến có liên  
quan đến lĩnh vực tố tụng; (ii) nhóm các công trình nghiên cứu chuyên ngành về pháp  
luật tố tụng ở Việt Nam thế kỷ XV - XIX. Các công trình nghiên cứu chủ yếu hai Bộ  
luật pháp điển là QTHL triều Lê và HVLL triều Nguyễn. Có thể khái lược một số tác  
giả và công trình tiêu biểu sau đây.  
Nghiên cứu chung về lý luận & lịch sử pháp luật tố tụng PKVN  
Tiếp cận dưới góc độ lý luận và lịch sử về pháp luật tố tụng PKVN có thể nhìn từ  
góc độ tổng quát đến chuyên ngành. Trong tổng thể của bộ máy nhà nước, từ cơ sở kinh  
tế xã hội tư tưởng chính trị pháp lý đến quá trình hình thành phát triển, từ tổ chức bộ  
máy đến các quy phạm, chế định điều luật, từ khái niệm, quan niệm đến vị trí, vai trò,  
nguyên tắc, đặc điểm, bản chất pháp luật tố tụng, tất cả đều nằm trong sự vận động  
chung của chính thể quân chủ qua các giai đoạn lịch sử. Nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ và  
hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề này. Tuy vậy,  
cũng có thể tiếp thu kế thừa những kết quả nghiên cứu từ các công trình tiêu biểu sau:  
Lịch triều Hiến chương loại chí (1819) của học giả Phan Huy Chú được coi là  
công trình “Quốc chí” bách khoa thư nghiên cứu những giá trị cơ bản nhất của một thể  
chế nhà nước trong đó có nội dung về kinh tế, chính trị, quân sự và pháp luật triều Lê.  
Các mục như Dư địa chí, Nhân vật chí, Quan chức chí, Quốc dụng chí, Hình luật chí,  
Binh chế chí, cho chúng ta cách nhìn tổng diện về cơ sở của chế độ hành chính tư pháp  
PKVN. Nội dung pháp luật tố tụng từ năm 1625 đến năm 1765 và bộ QTKTĐL năm  
1777 đã được tác giả Phan Huy Chú khảo lược, đánh giá. Theo đó “Các mục luật văn  
gồm có hơn 700 điều, thật rất rõ ràng đầy đủ, dùng để nêu thể lệ xét xử, thích hợp với  
dân tình, cân nhắc và thêm bớt, cho nên đủ để đối phó với các trạng thái biến hóa của  
đời sống và ngăn ngừa người dân vi phạm. Để cho những người cầm nắm pháp luật,  
gặp việc thì chước lượng theo đó mà xét nặng nhẹ, định thêm bớt.” [10, tr.389]. “Các  
Lệ xét kiện chuẩn định năm Đinh Dậu đời Cảnh Hưng năm 1777, tham chước quy thức  
các triều, hoạch định thống nhất rõ ràng, điều mục tỷ mỷ, không bỏ sót gì, người xét xử  
sẵn có Luật thường để quyết định, có Lệ thường để thích ứng, nếu noi theo cẩn thận thì  
dứt được tệ gian, bớt được hình ngục, mực thước không thể bỏ qua được”[10, tr. 407]  
[9;11]. Với công trình này, có thể tìm hiểu về cơ sở và quá trình hình thành phát triển,  
vị trí vai trò, đặc điểm và mối quan hệ của pháp luật tố tụng trong tổng thể pháp luật và  
156  
bộ máy nhà nước, về quan chế công vụ tư pháp, về tuyển bổ, giám sát, khảo khóa quan  
lại hành chính quân sự tư pháp, về thẩm quyền tố tụng tối cao của vua và chúa.  
Quốc triều Luật Lệ toát yếu (1919) do Tổng tài Cao Xuân Dục biên tập. Đây là  
cuốn lược giản bộ HVLL triều Nguyễn, là tài liệu để nghiên cứu và đào tạo tại trường  
Cao đẳng Luật Đông Dương thời thuộc Pháp, trong đó có phần pháp luật tố tụng và một  
số văn bản bổ sung qua các triều vua Minh Mệnh, Tự Đức [59, tr.34, 218 - 227]. Đây là  
công trình giúp cho người nghiên cứu hiểu cơ bản về pháp luật triều Nguyễn.  
“Pháp chế sử”(1967) của Vũ Quốc Thông có thể được coi là công trình nghiên  
cứu tiêu biểu nhất về chính thể quân chủ và tổ chức hành chính tư pháp PKVN. Học giả  
Vũ Quốc Thông đã khảo cứu về hoạt động tố tụng trong mối quan hệ thống nhất với bộ  
máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, theo cơ cấu hành chính xã thôn tự trị.  
Công trình cho chúng ta cách nhìn khoa học về tổ chức hệ thống tư pháp xét xử xuất  
phát từ chế độ chính trị, chế độ hành chính thông qua các định chế pháp lý. Trong đó  
nội dung gồm 3 phần: phần 1, về chế độ chính trị, chính thể quân chủ qua các thời kỳ từ  
968 đến 1945, bao gồm tổ chức chính quyền trung ương và địa phương; phần 2, về chế  
độ hành chính, quản lý nền hành chính trung ương và địa phương theo mô hình xã thôn  
tự trị với cơ cấu hội đồng hàng tỉnh, hội đồng thành phố; phần 3 về chế độ tư pháp với  
cách thức tổ chức các pháp đình. Đây là công trình nghiên cứu khá hiếm hoi dưới góc  
độ luật học về chính thể quân chủ và bộ máy nhà nước, trong đó có hệ thống hành chính  
tư pháp xét xử. Chính vì vậy nên cho dù khá giản lược nhưng đây là cách tiếp cận khoa  
học và toàn diện về thể chế tư pháp trong bộ máy nhà nước thời quân chủ phong kiến,  
trong đó hành chính, tư pháp là một bộ phận quan trọng của thể chế chính trị, quân sự  
theo hình thức quân chủ tập quyền [209, tr.5 -13]. Qua nghiên cứu, tác giả có thể nhận  
định với một số luận điểm như sau:  
Một là, công trình đã có những nghiên cứu cơ bản về chính thể quân chủ và vị trí  
của nhà vua trong hệ thống hành chính tư pháp. Nhà nước quân chủ phong kiến có quan  
niệm về thế quyền và thần quyền. Về thế quyền, nhà vua ban hành ra luật pháp, là vị thủ  
lĩnh cao cấp nhất của nền hành chính quốc gia. Nhà vua cũng đồng thời là vị Thẩm  
phán tối cao có quyền xét xử và ra phán quyết cuối cùng. Về thần quyền, theo lý thuyết  
thân dân, khoan thư sức dân, yên dân, kính thiên ái dân [209, tr.366 - 376]. Nhà vua là  
chủ tế lễ đàn Xã tắc và điện Kính thiên thời Lê cũng như tế lễ ở Đàn Nam Giao thời  
Nguyễn. Nhà vua cũng có quyền cho phép quốc dân lập đình đền chùa tông miếu hoặc  
ngăn cấm như chính sách kiểm soát Phật giáo, cấm đạo Gia tô.  
Hai là, công trình đã có những nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và thẩm quyền xét xử  
trong hoạt động tố tụng. Học giả Vũ Quốc Thông tiếp cận chủ yếu từ hai góc độ: (i)  
Cách tổ chức các pháp đình; (ii) Thẩm quyền và luật pháp áp dụng trước các pháp đình;  
Theo tác giả, “cho đến khi nước Pháp đặt nền bảo hộ, nhà nước thực dân phong kiến  
vẫn không áp dụng nguyên tắc phân quyền trong nền hành chính tư pháp” [209, tr.376 -  
396]. Vũ Quốc Thông đã nhận định về pháp luật tố tụng từ sau năm 1649 rằng:“Không  
157  
những cách tổ chức pháp đình được ấn định rõ ràng mà cả các thể thức tố tụng như là  
cách thức đệ đơn kiện, cách thức điều tra và xét xử các vụ tranh tụng, cách thức kháng  
tố các bản án cũng đã được quy định một cách rất minh bạch.”[209, tr. 375]. Tuy  
nhiên, triều Nguyễn lại chưa thể xây dựng được một bộ luật chuyên sâu về tố tụng như  
QTKTĐL triều Lê – Trịnh.  
Ưu điểm lớn nhất trong công trình Pháp chế sử Việt Nam của Vũ Quốc Thông là  
có tầm nhìn tổng quát về các định chế pháp lý dưới góc độ luật học để tiếp cận hệ thống  
tư pháp từ tổ chức bộ máy đến chức năng, thẩm quyền và các thủ tục tố tụng. Tuy  
nhiên, các vấn đề trên cần nghiên cứu ở góc độ liên ngành quản lý hành chính quân sự  
tư pháp trong hoạt động tố tụng. Các nguyên tắc hoạt động của các cơ quan có thẩm  
quyền tư pháp điều chỉnh hoạt động tố tụng được Vũ Quốc Thông đề cập tuy còn sơ  
lược, nhiều nội dung chưa chuyên sâu, chưa đầy đủ và toàn diện nhưng cách đặt vấn đề  
của ông là rất khoa học.  
GS.Vũ Văn Mẫu (1972 – 1975) có nhiều công trình nghiên cứu đại cương về chế  
độ hành chính và tư pháp trong bộ QTHL và QTKTĐL thời Lê. Một số cuốn sách đã  
được xuất bản như:“Cổ luật Việt Nam lược khảo”,“Cổ luật Việt Nam thông khảo”,“Cổ  
luật Việt Nam và tư pháp sử”,“Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử diễn giảng” [145-149].  
Các công trình nghiên cứu của GS.Vũ Văn Mẫu có tính chuyên sâu và đầy đủ nhất về  
pháp luật phong kiến Việt Nam. Trong đó tác giả đi sâu chủ yếu ba ngành luật cơ bản là  
dân sự, hôn nhân gia đình và hình sự; nghiên cứu về chế độ tư pháp, Tòa án và pháp  
luật tố tụng trong các cuốn sách này có dung lượng hạn chế [146, tr.227- 266].  
Công trình nghiên cứu “Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử Diễn giảng”(1974)  
trong đó có phần“Đại cương về tổ chức tư pháp và tố tụng trong cổ luật” của GS.Vũ  
Văn Mẫu [146, tr.227 - 265]. Nội dung tiếp cận về pháp luật tố tụng PKVN theo hai vấn  
đề: Thứ nhất, là hệ thống Tòa án trong cổ luật gồm “cơ quan thoả xử, hệ thống các cơ  
quan tài phán và sự kiểm soát các cơ quan tài phán”; Thứ hai, về thủ tục tố tụng, chủ  
yếu tiếp cận về thụ lý việc kiện, thẩm vấn và phân xử. Tác giả đánh giá rất cao bộ  
QTKTĐL và cho rằng: nếu như những quy định về chứng thư, chúc thư, vấn đề tài sản  
vợ chồng, thừa kế, hương hỏa, của QTHL trong hệ thống luật pháp triều Lê là điều tân  
kỳ thứ nhất, thì nội dung tân kỳ thứ hai của cổ luật VN thuộc về bộ QTKTĐL. Ông đã  
có những nghiên cứu về QTKTĐL và thấy rõ sự tiến bộ về kỹ thuật pháp lý, thể hiện sự  
phân biệt tương đối rõ ràng giữa luật nội dung và luật thủ tục trong pháp luật tố  
tụng.“Trong lịch sử cổ pháp Á Châu, đây là bộ luật duy nhất về thủ tục tố tụng và tổ  
chức các nha môn xử án. Điều này chứng tỏ rằng trong cựu pháp, nhà làm luật Việt  
Nam đã ý thức được đầu tiên về sự phân biệt các luật pháp về nội dung và các luật  
pháp liên quan đến thủ tục”[146, tr. 265]. Về sự phân biệt này, đến cuối thế kỷ XIX  
đầu thế kỷ XX, ở Âu Mỹ, với sự phát triển của ngành Quốc tế tư pháp, các luật gia mới  
nhận định rõ tầm quan trọng của vấn đề này trong các tranh chấp. Bởi nếu như luật nội  
dung còn nhiều xung đột cần tranh tụng thì luật thủ tục đã phần nào có sự đồng  
158  
thuận.“Điều ấy càng làm tôn rõ những nét tân kỳ độc đáo của sự quy định về thủ tục tố  
tụng trong pháp chế triều Lê” [146, tr.265]. “Đại cương về tổ chức tư pháp và tố tụng  
trong cổ luật” của GS.Vũ Văn Mẫu có cách tiếp cận khoa học, với tầm nhìn tổng thể khi  
đánh giá cổ luật Việt Nam. Nghiên cứu của tác giả chủ yếu ở tầm khái quát nên cần tiếp  
cận chuyên sâu, đầy đủ, toàn diện và cụ thể hơn.  
Học giả Nguyễn Quang Quýnh với cuốn“Dân luật tổng quát” và “Hình luật tổng  
quát” (1972) cũng có một phần về giới thiệu chung về pháp luật phong kiến và phân  
tích một số thành tựu cơ bản của cổ luật Việt Nam [195, tr. 5- 12] [196].  
Năm 1968, nhà luật học Đinh Gia Trinh và các nhà sử học có cuốn sách nghiên  
cứu chung về lịch sử nhà nước và pháp luật dưới nhan đề“Sơ thảo lịch sử Nhà nước và  
Pháp quyền Việt Nam”. Nội dung về pháp luật tố tụng phong kiến trong công trình này  
nghiên cứu mang tính khái quát và chưa đi sâu phân tích các Bộ luật, Hội điển và các  
văn bản pháp luật tố tụng [217].  
GS. Lê Thị Sơn chủ biên cuốn“Quốc triều hình luật - Lịch sử hình thành, nội  
dung và giá trị”(2004). Công trình nghiên cứu toàn diện về bộ QTHL từ cơ sở kinh tế,  
chính trị, xã hội, quá trình hình thành, nội dung các lĩnh vực về quan chế, hình sự, dân  
sự, đất đai, thừa kế, hôn nhân gia đình và tố tụng phong kiến Việt Nam dưới góc nhìn  
của cấu trúc pháp luật đương đại. Trong chuyên khảo có bài viết về Pháp luật tố tụng  
của tác giả Hoàng Thị Minh Sơn [197]. TS.Trương Quang Vinh chủ biên cuốn chuyên  
khảo“Tội phạm và hình phạt trong HVLL” (2008) chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ  
pháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt trong HVLL, đồng thời đưa ra nhận xét  
chung về đường lối xử lý đối với tội phạm trong pháp luật triều Nguyễn [208]. Cuốn  
sách“Quốc triều Hình luật, những giá trị lịch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà  
nước pháp quyền ở Việt Nam“(2008) dựa trên các bài viết tại Hội thảo về QTHL tại  
Thanh Hóa do Bộ Tư pháp chủ trì theo chủ đề “QTHL, những giá trị lịch sử và đương  
đại”, trong đó có hai nội dung nghiên cứu về pháp luật tố tụng trong bộ QTHL triều Lê  
[190, tr. 381, 404].  
Ngoài ra, nhiều học giả cũng có các công trình nghiên cứu như Bùi Xuân Đính  
(1998) với “Lệ làng phép nước”,“Hương ước và quản lý làng xã”[79; 80]. Lê Đức Tiết  
(1998, 2010) nghiên cứu về “Hương ước lệ làng”, về “Luật Hồng Đức” [215; 216].  
Đinh Khắc Thuân (2006) chủ biên công trình biên dịch và nghiên cứu về các bản  
Hương ước được lưu tại viện Hán Nôm với tiêu đề “Tục lệ cổ truyền làng xã Việt  
Nam”[211]. Ngô Đức Thịnh (2014) với cuốn biên khảo “Luật tục trong đời sống các  
tộc người ở Việt Nam” [208]. Đây là những công trình nghiên cứu hướng đến việc nhận  
thức sâu hơn những giá trị của luật tập quán trong đời sống sinh hoạt của xã hội cộng  
đồng, đặc biệt là các vùng đồng bào dân tộc miền núi. Việc giải quyết các tranh chấp  
theo luật tục, hương ước và tính hiệu quả của phong tục tập quán cũng được các tác giả  
đề cập đến. Đây là một hướng nghiên cứu kết hợp giữa luật nước với lệ làng, đặc biệt là  
luật tục của các dân tộc miền núi với những giá trị bền vững của pháp luật cộng đồng.  
159  
Khoa Pháp luật Hành chính Nhà nước Đại học Luật Hà Nội có hai đề tài. Thứ  
nhất là “Giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước trong nhà nước phong kiến Việt  
Nam – Những suy ngẫm và bài học cho hôm nay" (2012)[117]. Thứ hai là“Chế độ trách  
nhiệm công vụ ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử”(2017) [118]. Các bài viết tạp chí  
tiêu biểu như Trương Hữu Quýnh (1995 [194 GS.TSKH Vũ Minh Giang [92]. GS.TS.  
Hoàng Thị Kim Quế [189]. Đào Trí Úc - Lê Minh Thông (1999)“Sự tiếp nhận các giá  
trị pháp lý phương Đông và phương Tây đối với sự phát triển các tư tưởng pháp lý Việt  
Nam”[223]. GS.Thái Vĩnh Thắng (2003) [204]. PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương và  
TS. Lê Thị Hương về“Nhu cầu tích hợp các giá trị truyền thống trong mô hình nhà  
nước pháp quyền Việt Nam”(2004) [109]. Ngô Văn Hưởng (2010) Tư tưởng kết hợp  
Đức trị và Pháp trị trong đường lối trị nước của triều đại Lê Sơ và ý nghĩa lịch sử [77;  
79; 80] [110; 131; 144; 152; 155; 157; 161; 173; 213; 223; 31].  
PGS. TS.Nguyễn Thị Việt Hương với chủ đề “Thiết chế chính trị pháp lý làng xã  
Việt Nam”(2001 [108]. Bùi Thị Phương Thúy (2009), Tư tưởng Đức trị và Pháp trị  
trong Quốc triều Hình luật [212]. TS.Trương Vĩnh Khang (2015) về“Thiết chế chính trị  
pháp lý Việt Nam thời Lê Sơ (1428 – 1527) và các giá trị của nó” trong đó có đề cập  
đến vấn đề tố tụng trong bộ QTHL thời Lê [115]. Một số nội dung về pháp luật tố tụng  
phong kiến Việt Nam cũng được trình bày khái lược trong các giáo trình“Lịch sử Nhà  
nước và Pháp luật Việt Nam” của Vũ Thị Phụng (1990); Đào tạo từ xa Đại học Huế  
(1998); Viện Đại học mở (2013); Đại học Huế (2016 - 2019); Đại học Luật TP Hồ Chí  
Minh (2013 - 2019). Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội (2002 – 2017) [93].  
Giáo trình khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2017 - 2019) [220].  
Qua việc tổng hợp khái quát những kết quả nghiên cứu trên cho thấy, có thể tiếp  
thu những công trình đi trước về chính thể quân chủ, bộ máy hành chính tư pháp, cơ sở  
kinh tế xã hội, cơ sở tư tưởng chính trị pháp lý, tư tưởng đức trị pháp trị, về luật tục,  
hương ước, lệ làng. Tuy nhiên, đi sâu vào lý luận và lịch sử chuyên ngành về pháp luật  
tố tụng PKVN thì vẫn còn rất sơ lược và dường như là vấn đề còn để ngỏ.  
Nghiên cứu chuyên về hình thức và nội dung pháp luật tố tụng PKVN  
Công trình nghiên cứu thứ nhất:“Nghiên cứu về hệ thống pháp luật Việt Nam thế  
kỷ XV – XVIII” (1994) thuộc dự án tài trợ của Toyota Nhật Bản, GS. Đào Trí Úc làm  
chủ biên, trong đó có bài viết của nhà nghiên cứu Phạm Điềm về “Pháp luật tố Tụng”  
[165, tr.245- 262]. Đây là công trình nghiên cứu tương đối chuyên sâu về pháp luật tố  
tụng triều Lê, về các tư liệu bộ QTHL và QTKTĐL, trong đó đề cập hai nội dung: Thứ  
nhất, thẩm quyền và trình tự tiến hành tố tụng theo cơ cấu chính quyền các cấp: cấp xã,  
cấp huyện phủ, các trấn ty ở xứ; kiểm soát án từ 3 cấp và hàng năm; Thứ hai: thủ tục tố  
tụng: tương đối cụ thể gồm thụ lý việc kiện (đơn kiện và đơn tố cáo, sự thụ lý); thẩm  
vấn (sự đòi hỏi nhân chứng và đương sự, sự tra khảo); sự phân xử (nơi xử án, thời hạn  
xử án, phương pháp xử án). Tác giả nhận định “Pháp luật tố tụng triều Lê đã đạt được  
nhiều thành tựu”. Mặc dù đã có những nghiên cứu về lĩnh vực tố tụng nhưng rất cần có  
160  
sự nhận định đánh giá toàn diện về tính gắn kết lợi ích của chế độ quân chủ với việc ban  
hành bộ luật tố tụng chuyên ngành khi lý giải thêm về sự song trùng giữa quản lý hành  
chính nhà nước và quản lý hoạt động về tố tụng.  
Công trình nghiên cứu thứ hai:“Lịch sử luật Tố tụng Hình sự Việt Nam” (2003)  
của TS.Trần Quang Tiệp [214, tr.7- 46]. Nội dung nghiên cứu sơ lược về cơ quan tiến  
hành tố tụng; người tiến hành tố tụng là các Hình quan, người tham gia tố tụng với tư  
cách là người làm chứng; nguồn chứng cứ và lời khai thông qua hỏi cung, đối chất, tra  
khảo, đánh trượng, phạt tiền; Thủ tục xét xử; thời hạn xử các vụ kiện và các quy định về  
trách nhiệm xét xử của quan chức. Theo đánh giá của nhà nghiên cứu Trần Quang  
Tiệp:“Pháp luật tố tụng hình sự thời kỳ này đã đạt được một số thành tựu nhất định  
trong việc quy định về các cơ quan tiến hành tố tụng, thủ tục thi hành án hình sự, thể  
hiện tư tưởng nhân đạo, nhân văn trong hoạt động tố tụng hình sự của cha ông chúng ta  
lúc bấy giờ”[214, tr.46]. Tuy nhiên, công trình này chủ yếu nghiên cứu sơ lược dưới  
góc độ tư liệu lịch sử với một số điều trong văn bản QTHL và HVLL, còn nội dung các  
bộ Hội điển thời Lê Sơ - Lê Thánh Tông và QTKTĐL văn bản chủ yếu về tố tụng lại  
chưa được tiếp cận trong công trình này.  
Công trình nghiên cứu thứ ba: Bài viết về “Pháp luật tố tụng PKVN trong bộ  
QTHL” của TS. Hoàng Thị Minh Sơn được in trong cuốn “QTHL – Lịch sử hình thành  
nội dung và giá trị” (2004) chủ biên là TS. Lê Thị Sơn. Nội dung khái lược về trình tự  
tố tụng qua các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét hỏi, xét xử và thi hành án [197,  
tr. 267 - 287]. Tác giả đã chỉ ra hai nguyên nhân phát triển của pháp luật tố tụng thời Lê  
Sơ là do chế độ quân điền và nội chiến. Đồng thời khẳng định:“Lòng nhân ái của vị vua  
lỗi lạc như Lê Thánh Tông và quần thần của một triều đại đang lên cũng là yếu tố làm  
cho những quy định về luật tố tụng hình sự trong QTHL mang tính tiến bộ”[197, tr.  
285]. Tác giả cũng đã chỉ ra một số điểm tiến bộ đặc trưng của pháp luật thời Lê Sơ.  
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chưa so sánh với các quy định về tố tụng thời Lê  
Thánh Tông, với QTKTĐL và pháp luật tố tụng triều Nguyễn sau này.  
Công trình nghiên cứu thứ tư: “Định chế pháp luật và tố tụng triều Nguyễn (1802 –  
1885)” (2017) của tác giả Huỳnh Công Bá. Đây là một trong những công trình nghiên  
cứu chuyên về pháp luật triều Nguyễn. Tác giả đã trình bày phần tố tụng triều Nguyễn với  
khoảng 30/608 trang từ 535 đến 565. Tác giả nhận định: “Triều Nguyễn không chỉ xây  
dựng được một thiết chế nhà nước trung ương tập quyền hoàn thiện, có bề thế, vững  
mạnh, mà còn tổ chức ra được một hệ thống hoạt động về tư pháp có kỷ cương, chặt  
chẽ, dựa trên một nền pháp chế chuyên chế có hiệu lực, làm cho nhà nước phong kiến  
Nguyễn một thời tương đối ổn định” [63, tr.569].  
Ngoài ra còn có các đề tài khoa học, bài tạp chí, luận án, luận văn có nội dung về  
pháp luật tố tụng PKVN. Tác giả Vũ Thị Yến với bài viết về“Giám sát quyền lực nhà  
nước trong lĩnh vực tố tụng ở Đàng ngoài thời Lê Trung Hưng (1532 – 1789)” [227,  
tr.22 - 28]. Luận văn của ThS. Nguyễn Thị Thu Dung (2016)“Tư tưởng về pháp luật tố  
161  
tụng hình sự của Lê Thánh Tông giai đoạn từ năm 1460 đến năm 1497”. Luận văn lấy  
mô hình luật tố tụng hình sự hiện đại để nghiên cứu pháp luật tố tụng thời kỳ phong  
kiến nên chưa thể đánh giá đầy đủ những đóng góp của triều đại Lê Thánh Tông trong  
tiến trình phát triển của pháp luật tố tụng PKVN. Đề tài về“Pháp luật tố tụng ở Việt  
Nam trong tiến trình Lịch sử” năm 2017 của Khoa Pháp luật Hành chính Nhà nước,  
Trường Đại học Luật Hà Nội [119].  
Một số nghiên cứu của tác giả: Để nghiên cứu đề tài này, tác giả cũng đã có một  
số công trình tiếp cận về pháp luật tố tụng triều Lê Trịnh Nguyễn như sau:  
Thứ nhất, Nhà nước pháp luật quân chủ triều Nguyễn (1802 – 1884), giáo trình  
đại học trong đó có phần về tổ chức hành chính tư pháp và pháp luật tố tụng triều  
Nguyễn (2002) [177, tr. 319 – 466].  
Thứ hai, Luận văn thạc sỹ sử học với đề tài“Pháp luật và thực tiễn tố tụng Việt  
Nam thế kỷ XV–XVIII”(2007) là công trình nghiên cứu so sánh pháp luật tố tụng từ thời  
hình thành, qua Lý Trần, Lê Sơ đến thời Lê Trịnh thông qua các điều khoản trong Bộ  
luật và Hội điển, thống kê văn bản pháp luật và các vụ án điển hình thời Lê. Tuy nhiên,  
luận văn này chưa nghiên cứu được những VBPL quan trọng về tố tụng của triều vua  
Lê Thánh Tông và chưa có sự so sánh với pháp luật tố tụng triều Nguyễn [178].  
Thứ ba,“Khái quát về Tố tụng Hình sự ở Việt Nam thời kỳ phong kiến” nằm  
trong số chuyên đề “Mô hình Tố tụng Hình sự Việt Nam” của Viện khoa học kiểm sát  
(2010). Bài viết khái lược lịch sử lập pháp từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX và đánh giá  
cao cách phân loại vụ việc trong quy trình tố tụng của QTKTĐL và nghiên cứu giản  
lược về pháp luật tố tụng triều Nguyễn thời Gia Long (1802 – 1819) và Minh Mệnh  
(1820 – 1840), nghiên cứu“Luật Hình về sự phán quyết bản án” trong bộ HVLL. Từ  
đó, sơ đồ hóa hệ thống tư pháp qua các mô hình [Phụ lục – 4 Mô hình] [179, tr.5 - 102].  
Thứ tư, “So sánh pháp luật tố tụng và thực tiễn áp dụng của nhà nước phong  
kiến và nhà nước Việt Nam hiện nay” (2013). Qua so sánh, tác giả chỉ ra một số điểm  
khác biệt về mục đích, phân loại, chủ thể, chức năng, giám sát và chế tài xử lý và hệ  
quả tố tụng xưa và nay. Đồng thời chỉ ra 5 biện pháp đổi mới trong hoạt động tư pháp  
và tạo lập cơ chế liên ngành trong hệ thống tư pháp hành chính [181, tr. 42 - 46].  
Thứ năm, “Điểm tiến bộ và những vấn đề còn tồn tại trong mô hình tố tụng Việt  
Nam hiện nay so với mô hình tố tụng của nhà nước PKVN trước đây”(2015). Qua  
nghiên cứu, có thể nhận thấy mô hình tố tụng thẩm vấn xét hỏi thời quân chủ cũng có  
nhiều ưu điểm như đảm bảo tính thống nhất, tính chuyên sâu, tính pháp chế, tính cụ thể  
và hiệu quả trong áp dụng pháp luật. Xử lý vi phạm của quan lại xét xử trong cổ luật là  
đặc biệt nghiêm khắc. Đây là một trong những giá trị của cổ luật VN [182, tr.26 - 31].  
Thứ sáu, Đặc điểm pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến Việt Nam”  
(2016) [184, tr. 26- 33]. Bài viết khái quát đặc điểm pháp luật tố tụng PKVN trên năm  
phương diện: tư tưởng chính trị pháp lý và lập pháp; tiến trình xây dựng pháp luật tố  
tụng; hình thức và cấu trúc tiến bộ; quy định pháp luật thông lệ về khám tụng, trách  
162  
nhiệm quan lại, các thủ tục khởi kiện, thụ lý, điều tra, xét hỏi và thi hành án; áp dụng  
pháp luật tố tụng đảm bảo tính pháp trị, đảm bảo đủ chứng cứ, tuân thủ điều lệ, tránh sự  
tùy tiện hoặc dung túng tệ hại. Pháp luật tố tụng là một trong những giá trị đặc sắc của  
văn hóa pháp lý Việt Nam truyền thống.  
Thứ bảy,“Phòng chống và xử lý tham nhũng trong pháp luật phong kiến Việt  
Nam và bài học kinh nghiệm” (2017) [185, tr. 59 - 64]. Từ quan điểm pháp trị đến luật  
pháp về phòng chống tham nhũng là một trong những giá trị cơ bản của nền tư pháp  
PKVN. Theo kinh nghiệm lịch sử, quản lý và xử lý quan chức phải theo một quy trình  
độc lập, đủ sức mạnh và do nhà cầm quyền tối cao điều hành và kiểm soát.  
Thứ tám,“Vấn đề lý luận về pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến Việt Nam  
thế kỷ XV – XIX” (2018) [186, tr.58 – 64]. Bài viết khẳng định pháp luật tố tụng là một  
yêu cầu tất yếu trong quản trị xã hội dựa trên quyền và nghĩa vụ của các chủ thể nhằm  
đảm bảo những giá trị công bằng, nhân văn; song với chính thể quân chủ, trên hết pháp  
luật tố tụng là công cụ bạo lực của nhà vua và giai cấp cầm quyền. Ưu điểm cơ bản là  
đảm bảo tính thống nhất và mục tiêu của nhà nước, bảo vệ chủ quyền, thể chế quân chủ,  
bảo vệ con người và xã hội chung; Nhược điểm cơ bản là tính chuyên chế độc quyền.  
Thứ chín,“Những thành tựu về pháp luật tố tụng của Triều đại Lê Thánh Tông  
trong lịch sử tư pháp Việt Nam” (2018) [187, tr. 52- 58]. Bài viết nhìn nhận và đánh giá  
những đóng góp của triều đại Lê Thánh Tông về lĩnh vực tố tụng dựa trên các văn bản  
mới được nhận diện từ năm 2009. Đó là quan điểm và thành tựu lập pháp về tố tụng của  
Lê Thánh Tông; Luật pháp khẳng định“tư cách của người làm quan” đóng vai trò  
quyết định sự thanh liêm và minh chính của nền tư pháp [140, tr.219 - 293].  
Thứ mười, “Giá trị đặc sắc của Pháp luật Dân sự và Tố tụng dân sự phong kiến  
Việt Nam & Bài học kinh nghiệm, (2018) [188]. Bài viết đi sâu hơn vào lĩnh vực tố tụng  
về đất đai, hương hỏa, điền sản, thổ canh thổ cư, của chìm của nổi; về chứng cứ chứng  
minh trong dân sự tố tụng, về dân sự tạp tụng, cưới xin, tiền nợ, cờ bạc gán nợ, về trách  
nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại, nuôi bảo cô, “thực khế hư tiền” trong giao dịch  
dân sự; về các mẫu văn bản chứng cứ trong tranh chấp dân sự. Trên cơ sở đó, rút ra bài  
học về sở hữu, về tính thống nhất liên ngành trong quản lý hành chính tư pháp, về hòa  
giải dân sự và hiệu quả vụ án, về trách nhiệm của cấp chính quyền cơ sở, về án lệ và  
đạo nghĩa gia đình trong đời sống dân sự tố tụng.  
Nhìn chung, nghiên cứu về pháp luật tố tụng thời quân chủ phong kiến là một chủ  
đề khó do tính phức tạp của vấn đề và tư liệu nên chưa được nghiên cứu đầy đủ, toàn  
diện. Nghiên cứu để tìm ra giải pháp phù hợp trong thể chế tư pháp, kết hợp mô hình  
xét hỏi thẩm vấn với tranh tụng để đạt hiệu quả công lý nhân quyền là vấn đề đã và  
đang được giới chính trị và luật pháp quan tâm, thiết kế, thử nghiệm. Trong thời đại  
toàn cầu hóa, tư pháp tụng đã dần phải nhường chỗ cho sức mạnh của công pháp tụng;  
huy động sức mạnh của cả thể chế và công luận xã hội để hướng đến bảo vệ con người.  
163  
1.1.2. Tình hình nghiên cứu pháp luật tố tụng của nhà nước  
phong kiến Việt Nam ở nước ngoài  
Nghiên cứu chung về lý luận & lịch sử pháp luật thời quân chủ  
Một thực tế ở Việt Nam, khu vực và trên thế giới là nghiên cứu chuyên sâu về lý  
luận và lịch sử pháp luật tố tụng PKVN còn khá sơ lược, chưa đầy đủ, chưa toàn diện  
còn nhiều khoảng trống [57, tr.14]. Xét tổng quan trong kho tàng tư liệu phương Tây  
viết về lịch sử Việt Nam, có thể phân biệt thành ba giai đoạn: Giai đoạn một: thời quân  
chủ phong kiến từ (1639 -1651- 1789 -1802 - 1858); Giai đoạn hai: thời thuộc Pháp  
(1862 -1884 -1945); Giai đoạn ba: từ 1945 đến nay. Các học giả chủ yếu nghiên cứu về  
lịch sử xã hội, quan lại và pháp luật thời Lê, Nguyễn. Có thể kể đến một số công trình  
như:“History of Tonquin” của học giả Pinkerton John viết về lịch sử Đàng Ngoài; Công  
trình“Community and Revolution in Modern Việt Nam” của Alexander B.Woodside  
nghiên cứu về làng quê Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại [234, 235, 236]. Công  
trình của LiTana “Nguyen Cochinchina, Southern Vietnam in the Seventeenth and  
Eighteenth Centuries”với nội dung nghiên cứu về lịch sử chúa Nguyễn Đàng Trong  
[243, tr.174]. Công trình“Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam” tác giả Emmanuel Poisson  
người Pháp chủ yếu nghiên cứu về quan lại trong bộ máy nhà nước triều Nguyễn, đó là  
tầng lớp tài năng và hoạt động hiệu quả [84, tr.47]. Công trình “Silk for Silver: Dutch  
Vietnamese Relations”của Hoàng Anh Tuấn, tác giả khai thác từ các hợp đồng thương  
mại của các công ty Đông Ấn, Hà Lan và Anh quốc [248, tr.179]. Anthony Farrington,  
“Những tài liệu của công ty Đông Ấn Anh liên quan đến phố Hiến và Đàng Ngoài”  
nghiên cứu những ghi chép của các thuyền trưởng về xã hội Việt Nam cùng với một số  
hoạt động tố tụng xét xử của triều đình Lê Trịnh [61, tr. 54].  
Tác giả Yoshiharu Tsuboi Nhật Bản với công trình:“Nước Đại Nam đối diện với  
Pháp và Trung Hoa 1847 – 1885” phân tích về hoạt động của nhà nước, nhà vua và vị  
trí vai trò của tầng lớp văn thân khi đứng trước thử thách thời cuộc, tác giả có đề cập tới  
hoạt động xét xử, đề cập đến thực tiễn vụ án ông Hoàng Hồng Bảo, minh chứng tòa án  
là công cụ thanh trừng quyền lực, kể cả quyền lực tối cao [228, tr. 211 - 218].  
Công trình“A History of Vietnam”của K.W.Taylor được công bố tại Mỹ năm 2013,  
nghiên cứu về Việt Nam từ cổ đại đến đương đại. Tác giả K.W.Taylor đã phân tích tư  
liệu Việt Nam cùng với một số tài liệu lưu trữ ở nước ngoài và có những đánh giá  
khách quan về hoạt động chính trị, xã hội, quân sự, an ninh và tôn giáo của triều Lê  
Nguyễn và thời thuộc Pháp [254, tr. 2 – 30, 65 - 75]. Có thể nhận thấy rằng: về thể chế  
nhà nước & pháp luật thì công trình này chưa tiếp cận một cách hệ thống, phần pháp  
luật tố tụng chỉ mới nghiên cứu thông qua một vài vụ án tiêu biểu nhưng chưa tiếp cận  
dưới góc độ về hoạt động tố tụng và pháp luật tố tụng. Công trình này cũng cho chúng  
ta một cách nhìn tham chiếu, tổng thể về lịch sử Việt Nam trong nhận thức mới của các  
học giả nước ngoài.  
164  
Nghiên cứu sơ lược về hình thức và nội dung pháp luật tố tụng  
Một số học giả người Pháp tiếp cận và nghiên cứu về tổ chức tư pháp phong kiến  
Việt Nam trong một số công trình tiêu biểu như“Nền tư pháp nước Nam cổ xưa” tác  
giả Raymond Deloustal, Philastre, Aubaret, dịch và chú giải Bộ luật nhà Lê (La Justice  
de I’Ancien An nam. Traduction et Commentaire du Code des Lê) [141; 238]. Tác giả  
Lingat về:“Các chế độ hôn sản tại Đông Nam Á” Paris 1952 (Les resgimes matrionaux  
dans le Sud – Est Asiatique) [57, tr.14], nội dung cơ bản nghiên cứu so sánh lĩnh vực  
hôn nhân và gia đình, bước đầu nói đến hệ thống tư pháp, pháp đình làng xã, hương ước  
và luật pháp về tài sản gia đình truyền thống Việt Nam.  
Luật sư Phan Văn Trường (1875 – 1933) đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ luật  
đầu tiên của người An Nam tại Đại học đường Paris vào những năm 20 của thế kỷ XX  
về pháp luật triều Nguyễn. Đề tài bảo vệ của ông là“Những điểm tương đồng và dị biệt  
giữa HVLL và Đại Thanh Luật lệ”. Luận án được xuất bản thành sách bởi Librairie  
moderne de droit et de jurisprudence Ernest sagot et Cie – Paris1. Trong đó tác giả đã  
phân tích so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa HVLL và Đại Thanh luật lệ  
Trung Quốc.“Đây là một công trình bề thế và tầm cỡ về việc nghiên cứu có tính khoa  
học hiện đại tại phương Tây về bộ luật triều Nguyễn Việt Nam” [31, tr.12]. Trong đó có  
phần nghiên cứu “Luật hình về sự phán quyết bản án”. Tác giả cho rằng, bộ luật triều  
Nguyễn vẫn có nhiều nội dung khác biệt so với luật Đại Thanh. M.Aikyo, T.Inaco  
(1993) Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam, cũng đã có những đánh giá cơ bản về  
quyền tư hữu đất đai trong truyền thống cổ luật Việt Nam [141].  
Tại Hoa Kỳ, tác giả Nguyễn Ngọc Huy, Tạ Văn Tài với“Le code des:Quoc Trieu  
Hinh Luat ou lois penales de la dynastie nationale”. Nguyễn Ngọc Huy, Tạ Văn Tài và  
Trần Văn Liêm là tác giả đã dịch bộ QTHL sang tiếng Anh và có bài nghiên cứu chung  
về:“Luật truyền thống Việt Nam” [238, tr.173].  
Học giả InsunYu người Hàn Quốc trong cuốn“Pháp luật với xã hội Việt Nam thế  
kỷ XVII - XVIII” đã nghiên cứu một số nội dung về thủ tục tố tụng của chính quyền cấp  
xã, huyện (châu), phủ, xứ thừa tuyên trong “QTKTĐL” và có nhận định: “Trong bộ sách  
này, sự sắp xếp các vụ án được phân chia thành 31 chương, tùy theo tính chất của các vụ  
án đó. Giá trị của “QTKTĐL” là nhằm thúc đẩy việc giải quyết công bằng và nhanh  
chóng các vụ kiện vì lợi ích của nhân dân”[113, tr. 65]. Học giả InSunYu đã nhận xét  
vấn đề tố tụng trong chính quyền Lê Trịnh ở một góc độ khác. Ông cho rằng“Sự bất  
công trong tố tụng một phần là do sự sa đọa của các quan chức, một phần là do sự can  
thiệp của các nhóm có quyền thế”[113, tr. 64]. Tác giả trích lời của Samuel Baron rằng:  
“Nếu họ mua đắt các chức vị, thì chắc hẳn là họ sẽ tìm được nhiều lợi thế nhất ở đó và  
làm tổn hại cho lẽ phải và công lý”[113, tr. 233, 234]. Đến đầu thế kỷ XVIII, mặc dù đã  
có lệnh cấm đạo Cơ đốc, quan trấn thủ của một trấn phía Bắc vẫn cho phép những người  
Cơ đốc giáo Việt Nam hội họp tại nhà thờ, sau khi ông đã nhận lễ của họ.“Kết quả là tệ  
1 Librairie moderne de droit et de jurisprudence Ernest sagot et Cie –Paris, pp 12.  
165  
nhũng lạm đã lan từ những quan Thượng thư đứng đầu Pháp viện trung ương đến viên  
chức thấp nhất của ngành tư pháp ở chính quyền địa phương, họ đã đặt quyền lợi riêng  
lên trên quyền lợi của nhà nước” [113, tr. 232]. “Sự sa đọa của các quan chức, đặc biệt  
là trong ngành tư pháp. Trên danh nghĩa thi hành pháp luật, quyền tư pháp chuyển thành  
sự vơ vét, tích lũy của cải riêng. Phần lớn các quan tòa đều ăn hối lộ và tiền bạc có thể  
giải quyết hầu hết các tội ác”[113, tr. 234]. Những nhận định trên có lẽ cần được nghiên  
cứu kỹ càng để lý giải sâu hơn về nguyên nhân và hệ quả của hiện trạng này trong đời  
sống Tòa án ở Việt Nam thời trung đại.  
Tóm lại, qua các công trình tiêu biểu có thể đánh giá chung việc nghiên cứu pháp  
luật tố tụng PKVN của các học giả trong và ngoài nước như sau: Một là, các công trình  
nghiên cứu còn khá sơ lược, chưa đầy đủ toàn diện, từ tổng quát về thể chế tư pháp đến  
nghiên cứu chuyên ngành, chuyên sâu; Hai là, vì tính chất rộng lớn và phức tạp của  
khoảng thời gian thế kỷ XV – XIX nên hầu hết các công trình chỉ nghiên cứu dừng ở  
thời Lê Trịnh; Ba là, chưa có công trình nào đánh giá và nghiên cứu về thành tựu pháp  
luật tố tụng thời Lê Thánh Tông để so sánh với thời Lê Trịnh và triều Nguyễn.  
1.1.3. Hệ thống tư liệu nghiên cứu về pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam  
Tư liệu nghiên cứu pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam thời Lê Trịnh Nguyễn  
vẫn còn được lưu giữ trong tàng thư cổ luật và sử học. Thông qua hệ thống tư liệu, có  
thể hiểu một cách toàn cục về pháp luật tố tụng thời quân chủ phong kiến Việt Nam và  
có thể đánh giá được các công trình trước đây đã nghiên cứu đến đâu.  
Có thể chia thành hai loại hệ thống tư liệu cơ bản: Thứ nhất: văn bản pháp luật;  
Thứ hai: các bộ sử biên niên và thư tịch. Trong đó, văn bản pháp luật, các Bộ luật, Hội  
điển, Điển chế được coi là tư liệu gốc căn bản nhất 2; Các bộ sử biên niên ghi chép chi  
tiết về quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật trong đời sống xã hội. Trên cơ sở đối  
chiếu và so sánh sự tác động của pháp luật đến xã hội hiện thực, đến nền kinh tế, chính  
trị, tập quán, tập tục và ngược lại. Sự so sánh hai chiều sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về  
pháp luật tố tụng từ quan điểm lập pháp, thể chế, quy phạm đến việc áp dụng pháp luật,  
tất cả được phản ánh và ghi nhận trong thực tiễn của lịch sử xã hội. Đồng thời qua đó  
đánh giá được quá trình xây dựng pháp luật tố tụng, lý giải nguyên nhân phát triển và  
tìm ra được những thành công và hạn chế của toàn bộ hệ thống pháp luật thời kỳ này3.  
Học giả Vũ Quốc Thông khuyến nghị rằng: đối với tài liệu viết bằng Pháp văn, Hán văn  
hay một ngoại ngữ khác mà tác giả là người ngoại quốc, ta cần phải hết sức thận trọng  
2
Cách phân loại văn bản pháp luật thời quân chủ PKVN chủ yếu bao gồm: Các Bộ luật, các tập Hội điển, Điển  
chế; Các văn bản pháp luật đơn hành vua ban như: Chiếu, Dụ, Chỉ, Sắc, Lệnh, Lệ; Chế, Cáo; Các văn bản có sự  
phê duyệt của Hoàng đế như: Chuẩn định, Chuẩn Đình nghị, Châu bản triều Nguyễn; Các văn bản hành chính  
triều Lê Trịnh Nguyễn như: Biểu, tấu, sớ; Khải văn, Cẩn khải văn; Truyền, Sai, Phó, Công di, Khiển; Các văn bản  
pháp luật ở đơn vị hành chính địa phương cơ sở làng (thôn) xã như: Hương ước, Khoán lệ, Khoán ước, Lệ làng.  
Ngoài ra còn có Luật tục lưu truyền được tôn trọng và thực thi trong đời sống của các dân tộc Tày, Thái, Mường,  
Dao (Tây Bắc), Ê đê, Gialai, Bana (Tây Nguyên), đặc biệt là các tập tục về Hôn nhân Gia đình, nghi lễ, tâm linh,  
tôn giáo và xử phạt vi phạm theo phong tục tập quán. Việt Nam là dân tộc thống nhất trong tính đa dạng văn hóa.  
3
Xin xem phần Phụ lục 1 - do giới hạn của số trang nên luận án chỉ trình bày sơ lược nội dung các VBQPPL tố  
tụng PKVN trong các bộ Hội điển, Điển chế và các Bộ luật của các triều Lê Trịnh Nguyễn.  
166  
vì tác giả các tài liệu này rất có thể không am tường phong tục, tập quán của dân ta, và  
do đó, rất có thể không thấu triệt được ý định của các nhà lập pháp Việt Nam. Do vậy,  
luận án này sẽ căn cứ chủ yếu vào các văn bản cổ luật và tư liệu trong các bộ sử biên  
niên để nghiên cứu về pháp luật tố tụng PKVN.  
1.2. Nhận xét về tình hình nghiên cứu  
1.2.1. Nhận xét tổng quát về tình hình nghiên cứu  
Nhìn một cách tổng thể có thể thấy, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan  
tới đề tài luận án không nhiều, hiện tại chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống  
và đầy đủ, toàn diện về pháp luật tố tụng Việt Nam thời phong kiến từ thời Lý Trần Lê  
Trịnh đến triều Nguyễn. Trong khi hệ thống tư liệu văn bản pháp luật thời Lê Thánh  
Tông, Lê Trịnh và triều Nguyễn thì khá phong phú. Đây là một thuận lợi đồng thời  
cũng là một thách thức đối với việc triển khai nghiên cứu đề tài.  
1.2.2. Những nội dung nghiên cứu về pháp luật tố tụng đã được làm sáng tỏ  
Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, có thể nhận thấy nội dung liên  
quan đến đề tài đã được giải quyết ở một số công trình trước đây như sau:  
Thứ nhất, trên phương diện lý luận và lịch sử. Những vấn đề chung về tổ chức nhà  
nước và pháp luật PKVN như: tư tưởng chính trị pháp lý, chế độ chính trị, hình thức  
chính thể quân chủ, tổ chức hành chính quân sự tư pháp và Tòa án các cấp thời Lê  
Thánh Tông, Lê Trịnh, thời Gia Long và Minh Mệnh.  
Thứ hai, trên phương diện nội dung pháp luật tố tụng PKVN và thực tiễn áp dụng.  
Một số công trình nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển pháp luật tố tụng  
PKVN về hình thức, nội dung như: khởi kiện, thụ lý, khảo cung, xét xử, thi hành án, ân  
xá trong bộ QTHL, QTKTĐL và HVLL. Các tác giả như Phan Huy Chú, Vũ Quốc  
Thông, Vũ Văn Mẫu, Phạm Điềm, Hoàng Thị Minh Sơn, Nguyễn Ngọc Huy, Tạ Văn  
Tài, InsunYu, đã tiếp cận ở một vài góc độ. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đầy đủ,  
toàn diện, chưa khảo cứu so sánh và đánh giá được toàn bộ tiến trình phát triển.  
Thứ ba, trên phương diện giá trị khoa học của pháp luật tố tụng PKVN. Kết quả  
của một số công trình nghiên cứu của các học giả cũng đã cung cấp một lượng kiến  
thức quan trọng về các giá trị của pháp luật tố tụng Việt Nam thời phong kiến qua cách  
nhìn tổng hợp, đặc biệt là bộ QTHL thời Lê, HVLL triều Nguyễn.  
Có thể nhận thấy về cả phương diện lý luận và thực tiễn, pháp luật tố tụng PKVN  
chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, khách quan, toàn diện. Không những thế, còn  
có những nhận định chưa thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về những đóng góp của  
triều Lê Thánh Tông, Lê Trịnh và triều Nguyễn về hình thức, nội dung, thủ tục, hiệu  
quả và tính công lý của tòa án.  
1.2.3. Những vấn đề cần được nghiên cứu bổ sung hoặc chưa được đặt ra  
Có thể nhận thấy, về lý luận lịch sử, hình thức, nội dung, thực tiễn áp dụng và giá  
trị của pháp luật tố tụng PKVN đều cần phải được nghiên cứu bổ sung mới có thể đưa ra  
những nhận định khách quan, toàn diện và đúng đắn. Sự lo lắng về nền chính trị kiểu  
167  
phương Đông cũng có thể làm khó khăn hơn cho những nhận diện trung thực và minh  
bạch về pháp luật tố tụng nói chung và án từ nói riêng trong quá trình lịch sử.  
Về lý luận và lịch sử pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam. Cần làm sáng tỏ thêm  
khái niệm, vị trí vai trò, nguyên tắc, đặc điểm, bản chất của pháp luật tố tụng; về cơ cấu  
tổ chức, về các chủ thể tham gia quá trình tố tụng qua các giai đoạn lịch sử PKVN.  
Về pháp luật tố tụng trong các Bộ luật, Hội điển và các văn bản đơn hành.  
Về hình thức, cần nghiên cứu mối liên hệ giữa các văn bản pháp luật từ Bộ luật đến  
Hội điển, từ luật hình thức đến luật nội dung và luật thủ tục. Theo đó, Bộ luật có cấu trúc  
từ phần Danh Lệ đến Bản Điều, quy trình định tội lượng hình đều có sự thống nhất, ngắn  
gọn, dễ hiểu và cụ thể khi áp dụng; Nghiên cứu về tố tụng dân sự, quan chế hành chính.  
Về so sánh pháp luật tố tụng thời Lê Thánh Tông, Lê Trịnh và Triều Nguyễn.  
Luận án sẽ làm sáng tỏ thêm về các văn bản chuyên sâu về pháp luật tố tụng  
như:“Hồng Đức niên gian chư cung thể thức”,“Nhân mạng tra nghiệm pháp”,“Từ tụng  
điều lệ”,“Quốc triều khám tụng điều lệ”, mối quan hệ của các VBPL này với QTHL.  
Luận án cũng có thể so sánh để thấy được một số thành tựu và giá trị tiến bộ của luật tố  
tụng triều Nguyễn, từ Hội điển đến HVLL, từ Điều luật đến Điều lệ. Vấn đề ứng dụng  
linh hoạt quy luật giá trị trong hoán đổi hình phạt, chuộc hình phạt bằng tiền.  
Về xây dựng mô hình pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến Việt Nam thế kỷ  
XV - XIX. Có thể nhận thấy, mô hình pháp luật tố tụng PKVN có rất nhiều giá trị mà có  
thể đến nay chúng ta chưa nhận diện được hết.  
Về thực tiễn vận hành pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam. Hiểu thực tiễn chính  
là thực tế tồn tại khách quan, những ưu điểm và hạn chế cần khắc phục khi ban hành và  
thực thi pháp luật tố tụng.  
Những điểm tương đồng và khác biệt qua các giai đoạn: Lê Sơ, Lê Trịnh, triều  
Nguyễn. Vị trí tối thượng của vua Lê, chúa Trịnh và vua Nguyễn trong bộ máy quyền lực  
nhà nước và những ảnh hưởng của quyền chính trị đến sự phát triển của pháp luật tố tụng.  
Về án từ (Án lệ - Lệ án) đã từng được quy định và áp dụng trong pháp luật tố tụng.  
Trên cơ sở một số bản án điển hình được tổng kết và xây dựng thành mẫu văn bản tương  
đương các quy phạm pháp luật, được nhà vua ra quyết định áp dụng chung trong các vụ  
án có tính chất tương tự. Ví dụ như về“Hương hỏa điền sản”,“Tiền lệ Giáp Ất”,“Nguyễn  
Mỗ” trong QTHL, HĐTCT, HVLL. Lĩnh vực tố tụng cũng có thể được coi là một minh  
chứng về sự sáng tạo độc đáo của pháp luật Việt Nam trong suốt quá trình lịch sử.  
Các đề xuất, kiến nghị cần hướng đến cải cách hệ thống tư pháp, độc lập thống  
nhất và kết nối giữa cơ quan quyền lực chính trị với cơ quan hành chính tư pháp quân  
sự theo xu hướng chính phủ liêm chính, kiến tạo và phát triển. Đó là bài học từ giá trị  
của cổ luật Việt Nam trong đó có thành tựu về pháp luật tố tụng.  
1.3. Cơ sở lý luận, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của đề tài  
1.3.1. Cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài  
Khi nghiên cứu, trình bày luận án, tác giả dựa trên cơ sở lý luận sau:  
168  
Thứ nhất: Dựa trên quan điểm chính trị của của chủ nghĩa Marx - Engels - Lê  
Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lập trường của Đảng và Nhà nước Việt Nam.  
Thứ hai: Vận dụng quan điểm lý luận trong pháp luật tố tụng truyền thống với ý  
thức hệ tư tưởng dân tộc độc lập, chủ quyền quốc gia và an ninh xã hội.  
Thứ ba: Vấn đề lý luận và lịch sử về tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước  
trong nền quân chủ chuyên chế Việt Nam ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng.  
1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu của đề tài  
(1) Những vấn đề lý luận và lịch sử về pháp luật tố tụng PKVN là gì ?  
(2) Những đặc điểm đặc trưng bản chất của pháp luật tố tụng PKVN ?  
(3) Mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính - tư pháp quân chủ PKVN?  
(4) Hình thức và nội dung cơ bản của pháp luật tố tụng PKVN thế kỷ XV - XIX ?  
(5) Những thành tựu, hạn chế và những bài học kinh nghiệm của PLTTPKVN?  
(6) Những giá trị lịch sử và đương đại của pháp luật tố tụng PKVN ?  
1.3.3. Những giả thuyết nghiên cứu của đề tài  
Với mục đích và câu hỏi nghiên cứu của đề tài, tác giả đặt ra một số giả thiết  
nhằm giải quyết vấn đề khoa học và đúng hướng.  
Giả thuyết 1: Về những vấn đề lý luận & lịch sử pháp luật tố tụng PKVN  
Có sự kết hợp hài hòa yếu tố Đại Việt & Trung Hoa trong nhà nước pháp luật  
PKVN nói chung cũng như trong tổ chức tư pháp và pháp luật tố tụng nói riêng; Không  
có hệ thống Tòa án độc lập, không có chức danh Thẩm phán chuyên nghiệp trong chính  
thể quân chủ PKVN; Tuyển bổ chặt chẽ, khảo khóa nghiêm ngặt và xử lý nghiêm khắc  
quan chức vi phạm pháp luật là một đặc điểm của pháp luật tố tụng phong kiến Việt  
Nam; Lê Thánh Tông là vị hoàng đế ban hành Bộ luật tố tụng đầu tiên trong lịch sử lập  
pháp Việt Nam; Minh Mệnh là vị vua đề cao Pháp trị trong tố tụng hình án.  
Giả thuyết 2: Về hình thức & nội dung pháp luật tố tụng PKVN  
Không có “Bộ luật Hồng Đức” ở Việt Nam; Luật tố tụng chuyên ngành được ban  
hành từ thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497); Việt Nam là một trong những quốc gia ban  
hành Bộ luật tố tụng sớm nhất trên thế giới; Pháp luật tố tụng PKVN được thiết kế xây  
dựng khá đầy đủ về hình thức, nội dung, thủ tục văn bản pháp điển; Giám sát tố tụng,  
phân loại vụ việc và “Lệ án” là những giá trị đặc sắc nhất trong quy định và áp dụng  
pháp luật tố tụng của PKVN.  
Giả thuyết 3: Về những ưu điểm & hạn chế của pháp luật tố tụng PKVN  
Pháp luật tố tụng PKVN có nhiều ưu điểm: về lập pháp, về hình thức, nội dung  
& thủ tục; Thi hành án cũng có nhiều quy định tiến bộ như:“Phép nhuận đồ”,“Chuộc  
hình phạt bằng tiền”,“Giảo trảm giam chờ”, chế độ Thu thẩm. Giám sát quyền lực tư  
pháp; chống độc quyền tòa án là bài học kinh nghiệm quan trọng để xây dựng nền cộng  
hòa dân chủ hướng tới quyền con người trong Nhà nước Pháp quyền.  
Hạn chế lớn nhất của pháp luật tố tụng là công cụ bạo lực để thanh trừng chính  
trị. Hạn chế thứ hai là chế độ lưu trữ án từ thư tịch thiếu khoa học & chuyên nghiệp.  
169  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 151 trang yennguyen 20460 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_phap_luat_to_tung_phong_kien_viet_nam_tu_the_ky_xv_d.pdf