Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu ảnh hưởng các điều kiện môi trường đến thành phần loài lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) tại sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Tam Kỳ là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam, phía Nam  
giáp huyện Núi Thành, phía Bắc giáp huyện Phú Ninh và Thăng  
Bình, phía Tây giáp huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam, phía Đông  
giáp biển Đông. Tam Kỳ là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa,  
khoa học của tỉnh Quảng Nam, là địa phương có bề dày truyền thống  
yêu nước và cách mạng. Sông Tam Kỳ là hợp lưu của 10 con sông  
suối nhỏ, bắt nguồn từ các dãy núi phía Tây, chảy theo hướng Tây -  
Đông xuống dòng chính tại Xuân Bình - Phú Thọ, xã Tam Trà, huyện  
Núi Thành, rồi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam chảy ra cửa An Hòa  
(Núi Thành). Diện tích lưu vực khoảng 800km2. Do nằm trong vùng  
nhiều mưa, rừng đầu nguồn ít bị tàn phá nên dòng chảy tương đối  
điều hòa theo mùa. Lưu lượng lớn nhất của sông Tam kỳ là 20,7m3/s.  
Sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam ngoài chức năng cung cấp  
nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, còn có nguồn lợi thủy  
sản phong phú, là nguồn cung cấp thực phẩm hằng ngày cho nhân  
dân địa phương. Trong đó, nhóm động vật Hai mảnh vỏ thuộc ngành  
thân mềm nước ngọt là nhóm sinh vật đóng vai trò rất quan trọng  
trong các hệ sinh thái nước ngọt.  
Tại các thủy vực nước ngọt, lớp Hai mảnh vỏ tham gia vào các  
quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng, là mắt xích quan trọng  
trong mạng lưới thức ăn và tạo sự cân bằng sinh thái cho các thủy  
vực. Ngoài ra, nhiều loài còn là sinh vật chỉ thị để đánh giá chất  
lượng nước ở các thủy vực. Mặt khác, đối với con người, động vật  
Hai mảnh vỏ không chỉ cung cấp giá trị thương phẩm mà các mảnh  
vỏ của chúng cũng được con người sử dụng làm thủ công mỹ nghệ,  
2
trang sức... Chính vì vậy, đã có nhiều loài động vật thuộc lớp Hai  
mảnh vỏ được con người thuần hóa và đưa vào nuôi trồng mang lại  
giá trị kinh tế cao.  
Tuy nhiên, tại các thủy vực nước ngọt, Hai mảnh vỏ luôn chịu  
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của các điều kiện môi trường đến  
quá trình sinh trưởng và phát triển của chúng. Bên cạnh việc đánh  
bắt, khai thác thủy sản nước ngọt ngày càng gia tăng cùng với môi  
trường sống bị ô nhiễm do hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con  
người đã làm suy giảm số lượng, mất cân bằng sinh thái, giảm đa  
dạng sinh học. Tình trạng ô nhiễm của sông theo các đoạn khác nhau  
đã ảnh hưởng đến thành phần loài động vật không xương sống theo  
xu hướng môi trường càng ô nhiễm thì số loài động vật không xương  
sống càng giảm.  
Sông Tam Kỳ là con sông nằm trong khu vực thành phố Tam  
Kỳ nên chịu tác động nhiều của quá trình công nghiệp hóa và đô thị  
hóa như hoạt động khai thác khoáng sản, khu công nghiệp, chợ Tam  
Kỳ, nước thải từ các bệnh viện, rác thải sinh hoạt... Vì vậy, việc  
nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố môi trường đến thành phần loài lớp  
Hai mảnh vỏ để tìm ra những giải pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại  
hệ thống sông Tam Kỳ, góp phần phát triển bền vững đa dạng sinh  
học là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tương lai.  
Hiện nay, ở Việt Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng cũng  
có nhiều tác giả nghiên cứu, đánh giá chất lượng môi trường nước  
ảnh hưởng đến động vật không xương sống ở các thủy vực hoặc sử  
dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chất lượng môi  
trường nước như công trình nghiên cứu của Hồ Thanh Hải (2006) về  
thành phần loài động vật không xương sống ở nước hệ thống sông  
Vu Gia, sông Bung, sông Tranh, sông Cái, hay nhóm tác giả Võ Văn  
3
Phú (2009) nghiên cứu về thành phần loài động vật không xương  
sống ở hồ Phú Ninh. Tuy nhiên, tại hệ thống sông Tam Kỳ chưa có  
tác giả nào nghiên cứu về vấn đề này.  
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên  
cứu ảnh hƣởng các điều kiện môi trƣờng đến thành phần loài lớp  
Hai mảnh vỏ (Bivalvia) tại sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam". Trên  
cơ sở nghiên cứu thành phần loài của lớp Hai mảnh vỏ, đánh giá các  
tác động của điều kiện môi trường, đề xuất những giải pháp khai thác  
hợp lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.  
2. Mục đích của luận văn  
- Nghiên cứu hiện trạng thành phần loài và đặc điểm phân bố  
lớp Hai mảnh vỏ ở sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.  
- Tìm hiểu những ảnh hưởng của các điều kiện môi trường đến  
đặc điểm phân bố lớp Hai mảnh vỏ ở sông Tam Kỳ.  
- Đề xuất được những giải pháp khai thác hợp lý, bảo vệ nguồn  
lợi thủy sản nước ngọt tại khu vực nghiên cứu.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu động vật thuộc lớp Hai  
mảnh vỏ (Bivalvia) ở sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.  
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác khảo sát thực địa, thu thập vật  
mẫu được tiến hành trong 8 đợt thu mẫu, 4 đợt vào mùa khô, 4 đợt  
vào mùa mưa với 10 điểm thu mẫu mang tính đặc trưng thuộc sông  
Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.  
4. Cấu trúc luận văn  
Mở đầu  
Chương 1: Tổng quan tài liệu  
- Lược sử nghiên cứu ĐVKXS ở Việt Nam  
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu  
4
Chương 2: Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp  
nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu  
- Thời gian nghiên cứu  
- Địa điểm nghiên cứu  
- Phương pháp nghiên cứu  
Chương 3: Kết quả và thảo luận  
- Kết quả khảo sát các điều kiện môi trường  
- Nghiên cứu hiện trạng thành phần loài lớp Hai mảnh vỏ ở  
sông Tam Kỳ.  
- Tìm hiểu những ảnh hưởng của các điều kiện môi trường đến  
đặc điểm phân bố lớp Hai mảnh vỏ ở sông Tam Kỳ.  
Kết luận, kiến nghị  
Tài liệu tham khảo  
Phụ lục  
5
CHƢƠNG 1  
TỔNG QUAN  
1.1.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƢỚC NGỌT Ở  
VIỆT NAM  
Các tác giả nghiên cứu tập trung theo 3 hướng: nghiên cứu sử  
dụng sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lượng nước; nghiên cứu ảnh  
hưởng của các yếu tố sinh thái lên quần xã ĐVKXS ở nước; nghiên cứu  
xác định thành phần loài và mối quan hệ gần gũi giữa các khu hệ cũng  
được các nhà khoa học quan tâm. Tóm lại, có thể nói rằng, trong nhiều  
năm qua, rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu về  
ĐVKXS ở nước tại Việt Nam, không những nghiên cứu về phân loại  
học mà còn nhiều nghiên cứu tác động của các yếu tố sinh thái lên  
QXSV, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, góp  
phần bảo tồn, phát triển bền vững ĐDSH và kinh tế xã hội.  
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÂN MỀM (MOLLUSCA) Ở  
VIỆT NAM  
Ở Việt Nam, đã khá nhiều công trình nghiên cứu thân mềm với  
các hướng nghiên cứu như: nghiên cứu thành phần loài, mức độ đa  
dạng, xác định mức độ gần gũi giữa khu vực nghiên cứu với các khu  
hệ khác, sử dụng thân mềm để đánh giá chất lượng môi trường. Tuy  
nhiên, các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện môi  
trường đến thành phần loài thân mềm ở khu vực miền Trung vẫn  
chưa nhiều. Đặc biệt, ở Quảng Nam chưa có tác giả nào nghiên cứu.  
1.3. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH  
TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Điều kiện tự nhiên  
1.3.2. Các nguồn tài nguyên  
1.3.3. Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội  
6
CHƢƠNG 2  
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU  
2.1.1. Thời gian nghiên cứu  
Luận văn được thực hiện từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 10 năm  
2015.  
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu  
Đề tài được thực hiện tại 10 điểm thu mẫu ở sông Tam Kỳ,  
tỉnh Quảng Nam.  
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.2.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu, tài liệu  
Thu thập các số liệu, tài liệu có liên quan đến nội dung của  
Luận văn.  
2.2.2. Phƣơng pháp thu thập và xử lý mẫu  
Khảo sát và chọn 10 địa điểm thu mẫu mang tính điển hình về  
đặc điểm môi trường ở sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.  
Thu thập vật mẫu theo các phương pháp được sử dụng vợt  
Pondnet, gầu Petersen hoặc đánh bắt bằng tay cùng ngư dân.  
Vật mẫu sau khi thu được đựng trong lọ có dung tích từ 0,2-0,5  
lít, ghi eteket và được định hình bằng cồn 900 sau đó mang về phòng  
thí nghiệm.  
Song song với việc thu thập vật mẫu, tiến hành khảo sát đặc  
điểm môi trường tại mỗi điểm thu mẫu, ghi nhật ký thực địa, chụp  
ảnh các địa điểm lấy mẫu.  
Bên cạnh việc khảo sát thực địa tiến hành điều tra qua ngư dân  
bằng phương pháp phỏng vấn ghi âm hỏi các thông tin về: tên gọi địa  
phương, số lượng cá thể nhiều hay ít, phân bố theo mùa, kích thước,  
7
khối lượng tối đa mà họ gặp, phương tiện đánh bắt, sự biến động các  
loài Hai mảnh vỏ so với trước đây, giá trị kinh tế…  
2.2.3. Phƣơng pháp định danh loài trong phòng thí nghiệm  
Xác định tên khoa học của các loài thuộc lớp Hai mảnh vỏ sử  
dụng phương pháp so sánh hình thái truyền thống bằng mắt thường  
hoặc kính lúp kết hợp với tài liệu định loại của Nguyễn Xuân Quýnh,  
Clive Prinder, Steve Tilling, Đặng Ngọc Thanh, Thái Trân Bái, Phạm  
Văn Miên (1980).  
2.2.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu và tính các chỉ số sinh học  
a. Tính hệ số tương đồng theo công thức Sorensen (1948):  
S=2C/(A+B)  
Trong đó S là hệ số tương đồng của hai khu hệ; A là số loài  
của khu hệ A; B là số loài của khu hệ B; C là số loài chung của hai  
khu hệ A và B.  
b. Tính chỉ số đa dạng sinh học  
- Tính chỉ số ĐDSH (chỉ số Shannon-Wiener) được tính bằng  
cách lấy số lượng cá thể của một đơn vị phân loại chia cho tổng số cá  
thể sinh vật trong mẫu, sau đó nhân với logarit của tỷ số đó. Công  
thức để tính chỉ số này là:  
s
H'  p (log p )  
i
2
i
i1  
c. Tính chỉ số tương đồng  
Sử dụng công thức tính tương đồng của Bray-Curtis:  
p
y y  
i1  
p
ij  
ik  
Sjk 100 1  
(y y )  
ij  
ik  
i1  
Trong đó:  
8
Sjk:  
yij:  
yik:  
p:  
Hệ số tương đồng của hai mẫu j và k (theo %)  
Số lượng cá thể loài i có trong mẫu j  
Số lượng cá thể loài i có trong mẫu k  
Số loài có trong mẫu j và k  
Giá trị Sjk nằm trong khoảng 0-100%, Sjk càng lớn, thì tính  
tương đồng của hai mẫu càng cao.  
CHƢƠNG 3  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
3.1. ĐẶC ĐIỂM SINH CẢNH VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN MÔI  
TRƢỜNG TẠI CÁC ĐIỂM NGHIÊN CỨU  
3.1.1. Đặc điểm sinh cảnh các điểm nghiên cứu  
Sông Tam Kỳ không dài, phát nguyên từ vùng đồi núi thấp  
phía tây chảy theo hướng đông, do đó lượng nước không nhiều. Nước  
từ các khe suối chảy xuống sông Tam Kỳ, ngày nay sông Tam Kỳ đã  
bị ngăn dòng bởi hồ Phú Ninh. Sông Tam Kỳ, hợp lưu với sông Bàn  
Thạch và chảy ra biển. Do bị ngăn dòng bởi hồ Phú Ninh nên bình  
thường dòng chảy tương đối hài hòa từ biển đến sông Bàn Thạch qua  
sông Tam Kỳ ngược dòng về phía hồ Phú Ninh. Mùa mưa khi hồ Phú  
Ninh xả nước thì có hiện tượng đảo dòng.  
Kết quả thực địa cho thấy, đa số các điểm thu mẫu có tốc độ  
dòng chảy trung bình, độ che phủ từ 10-30%. Đặc điểm sinh cảnh của  
các điểm thu mẫu của khu vực nghiên cứu đều có cây bụi thủy sinh  
phát triển. Đây là điều kiện thuận lợi cho ĐVĐ phát triển. Tuy nhiên,  
từ kết quả phỏng vấn người dân cho thấy sông có xu hướng sâu dần  
theo thời gian do hoạt động khai thác cát của người dân mà chính  
quyền địa phương vẫn chưa có biện pháp hiệu quả cho hoạt động  
9
này. Đây là một nguyên nhân quan trọng làm mất môi trường sống  
cho ĐVĐ.  
Mực nước tăng dần từ điểm thu mẫu số 1 đến điểm thu mấu số  
10. Vào mùa khô ở điểm thu mẫu số 1 mực nước khoảng 0,5-1m  
trong khi đó điểm thu mẫu số 10 mực nước sâu 9-10m. Độ sâu, độ  
đục và tốc độ dòng chảy biến đổi theo mùa. Mùa mưa mực nước sông  
cao hơn, dòng chảy mạnh hơn, độ đục lớn hơn so với mùa khô. Nền  
đáy thường là bùn đất, xác thực vật ở ven bờ và nền cát ở giữa dòng.  
Vào mùa mưa mực nước có lúc tăng nhanh do áp lực xả nước từ Hồ  
Phú Ninh. Độ sâu của nước có xu hướng tăng dần theo thời gian do  
hoạt động khai thác cát của người dân. Độ sâu của nước mùa mưa  
cao hơn mùa khô từ 1-2m. Điểm thu mẫu số T6, T7 nước ô nhiễm  
hơn do hoạt động nuôi cá Diêu Hồng và hoạt động kinh doanh ẩm  
thực của người dân. Tại 2 điểm thu mẫu này rong bèo phát triển  
mạnh nhất.  
3.1.2. Đặc điểm thủy lý, hóa học khu vực nghiên cứu  
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình mùa mưa thấp hơn so với mùa  
khô. Ở các điểm thu mẫu T7, T8, T9 có nhiệt độ hơi thấp hơn nguyên  
nhân là do các điểm này có độ che phủ với mặt nước lớn hơn làm  
giảm nhiệt độ của nước. Còn các điểm thu mẫu khác chịu tác động  
trực tiếp của ánh nắng mặt trời dẫn đến nhiệt độ của nước cao hơn.  
Theo mùa, mùa khô có nhiệt độ trung bình cao hơn mùa mưa với kết  
quả đo được vào mùa khô là 34,630C và mùa mưa là 30,30C với mức  
chênh lệch là 4,30C. Kết quả này có thể giải thích là do mùa mưa có  
nền nhiệt thấp hơn. Nhìn chung, các khoảng nhiệt độ đo được từ các  
địa điểm nghiên cứu đều nằm trong giới hạn phát triển bình thường  
của thủy sinh vật.  
- pH: pH có giá trị trung bình mùa khô là 6,53 và mùa mưa là  
10  
6,62. pH ở mức trung tính và ít biến thiên giữa các điểm thu mẫu và  
giữa hai mùa. Các giá trị pH ở các điểm thu mẫu của hai mùa trong  
năm đều nằm trong giới hạn cho phép về chất lượng nước mặt bảo vệ  
đời sống thủy sinh theo quy định tại QCVN 38: 2011/BTNMT. Tại  
điểm thu mẫu T6 khu vực có nhiều bè nuôi cá Diêu Hồng pH có thấp  
hơn giới hạn cho phép do ảnh hưởng của chất thải từ hoạt động nuôi  
cá.  
- Độ đục: Theo mùa độ đục trung bình đo được mùa mưa cao  
hơi mùa khô, nguyên nhân là do mùa mưa lượng mưa nhiều hơn mùa  
khô, trời mua kéo theo bùn đất, chất thải xuống sông làm tăng độ  
đục. Theo các địa điểm nghiên cứu thì các điểm T1, T2, T3 độ đục  
cao hơn do tại thời điểm nghiên cứu công trình đường cao tốc đang  
thi công ở khu vực gần đó, trời mưa mang theo đất đồi từ công trình  
chảy về sông.  
- Độ dẫn: Độ dẫn mùa mưa cao hơn mùa khô, nguyên nhân là  
do mùa mưa đi thu mẫu nước đúng thời điểm nước biển dâng nên  
hàm lượng muối hòa tan trong nước cao và tỷ lệ thuận với độ dẫn.  
Các điểm thu mẫu ở gần vùng cửa sông có độ dẫn cao hơn nhiều so  
với vùng thượng nguồn do sông Tam kỳ có đặc điểm chảy ngược từ  
cửa sông đến thượng nguồn do bị chặn dòng bởi Hồ Phú Ninh. Do đó  
các điểm thu mẫu gần cửa sông có hàm lượng muối hòa tan cao hơn,  
độ dẫn cao hơn. Vì vậy, khi nước biển dâng cao các khu vực ở vùng  
hạ lưu có TDS vượt quá ngưỡng cho phép về chất lượng nước mặt  
bảo vệ đời sống thủy sinh theo quy định tại QCVN 38:  
2011/BTNMT.  
- DO: Kết quả đo được từ các điểm thu mẫu cho thấy DO tại  
các điểm nước chảy mạnh hơn có giá trị cao hơn. Tuy nhiên do tốc  
độ dòng chảy giữa các điểm thu mẫu chênh lệch không lớn nên DO  
11  
đo được giữa các điểm thu mẫu cũng chênh lệch không nhiều. Giữa  
hai mùa thì DO mùa mưa cao hơn mùa khô do mùa mưa tốc độ dòng  
chảy lớn hơn, sự khuếch tán không khí vào nước mạnh hơn. Nhìn  
chung, chỉ số DO tại các điểm thu mẫu có giá trị đạt QCVN 38:  
2011/BTNMT.  
+
- NH4 tại các điểm thu mẫu có giá trị tương đối ổn định, ít  
+
biến động. NH4 mùa mưa thấp hơn mùa khô do mùa khô mực nước  
+
sông ít hơn. Tại các điểm thu mẫu T6, T7, NH4 có cao hơn do khu  
vực này ô nhiễm hơn chịu ảnh hưởng của hoạt động nuôi cá lồng, bè  
và kinh doanh sát bờ sông, hai khu vực này rong bèo phát triển. Tuy  
+
vậy, kết quả đo NH4 tại các điểm thu mẫu ở cả hai mùa đều nằm  
trong giới hạn cho phép về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy  
sinh theo quy định tại QCVN 38: 2011/BTNMT.  
- Na+: Giá trị Na+ tại các điểm thu mẫu dao động từ 0,01-0,05  
vào mùa khô và từ 0,03-0,07 vào mùa mưa, nguyên nhân là do mùa  
mưa thu mẫu đúng thời điểm nước biển dâng. Na+ tại các điểm thu  
mẫu dao động theo hướng càng về hướng hạ lưu Na+ càng cao, do  
sông Tam Kỳ ngắn và gần biển nên ảnh hưởng nước biển dâng.  
Nhìn chung, hầu hết các chỉ tiêu về chất lượng nước đều nằm  
trong giới hạn cho phép về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy  
sinh theo quy định tại QCVN 38: 2011/BTNMT. Kết quả này phù  
hợp với kết quả quan trắc môi trường tỉnh Quảng Nam năm 2014.  
Chất lượng nước tương đối ổn định qua các năm. Tuy nhiên, chất  
lượng nước chịu tác động mạnh mẽ của hiện tượng nước biển dâng.  
3.2. THÀNH PHẦN LOÀI LỚP HAI MẢNH VỎ (BIVALVIA)  
TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU  
3.2.1. Đặc điểm thành phần loài  
Kết quả qua 8 đợt thu thập mẫu trong thời gian nghiên cứu đã  
12  
thu được 202 mẫu. Trong phòng thí nghiệm đã tiến hành phân loại có  
8 loài thuộc lớp Bivalvia gồm 4 họ: Corbiculidae, Amblemidae,  
Unionidae, Mytilidae với tỷ lệ các loài thể hiện ở bảng 3.1.  
Bảng 3.1. Thành phần loài Hai mảnh vỏ cỡ lớn đã gặp  
tại các điểm thu mẫu  
Điểm thu mẫu  
T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10  
Tên khoa học (họ,  
giống, loài)  
TT  
I Họ Corbiculidae  
Giống Corbicula  
1 Corbicula  
lamarckiana Prime, + + + + +  
1864.  
+
+
+
+
+
+
2 Corbicula blandiana  
+ + +  
+
+
+
+
+
+
+
+
Frime, 1864.  
3 Corbicula  
Morlet, 1865.  
4 Corbicula  
cyreniformis Prime,  
1860.  
5 Corbicula  
Morlet, 1886.  
bocourti  
+ + + + +  
+ + +  
+ + +  
+
+
+
+
+
+
baudoni  
+
+
+
+
+
II Họ Amblemidae  
Giống Oxynaia  
6 Oxynaia  
micheloti  
+ + + + +  
+
+
+
Morlet, 1886.  
III Họ Unionidae  
Giống Lanceolaria  
7 Lanceolaria  
grayii  
Griffith et Pidgeon, + +  
1833.  
+
IV Họ Mytilidae  
Giống Limnoperna  
8 Limnoperna siamensis  
Morelet, 1866.  
+
+
13  
Nhìn chung, ở tất cả các điểm nghiên cứu Corbiculidae là họ  
có số lượng loài phong phú nhất (5 loài), còn các họ còn lại mỗi họ  
chỉ có 1 loài.  
3.2.2. Đặc điểm phân bố  
Đa số các loài thu được là những loài phân bố rộng và phổ  
biến.  
Về sự phân bố của các loài theo các điểm thu mẫu: đã thu được  
7 loài tại điểm thu mẫu T3: Corbicula lamarckiana Prime, 1864,  
Corbicula bocourti Morlet, 1865, Corbicula blandiana Frime, 1864,  
Corbicula cyreniformis Prime, 1860, Corbicula baudoni Morlet,  
1886, Oxynaia micheloti Morlet, 1886, Lanceolaria grayii Griffith et  
Pidgeon, 1833, thu được 6 loài ở 6 điểm T4, T5, T6, T8, T9, T10, thu  
được 5 loài ở điểm T1 và T4 loài ở điểm T7. Vùng thượng nguồn từ  
điểm T1 đến T3 có 2 loài phân bố phổ biến cho cả hai mùa là:  
Oxynaia micheloti Morlet, 1886, Lanceolaria grayii Griffith et  
Pidgeon, 1833 các điểm từ T8 đến T10 phổ biến ở 5 loài thuộc Họ  
Corbiculidae - Giống Corbicula đó là: Corbicula lamarckiana Prime,  
1864, Corbicula bocourti Morlet, 1865, Corbicula blandiana Frime,  
1864, Corbicula cyreniformis Prime, 1860, Corbicula baudoni  
Morlet, 1886.  
Xét theo mùa có 7 loài gặp cả hai mùa đó là Corbicula  
lamarckiana Prime, 1864, Corbicula bocourti  
Morlet, 1865,  
Corbicula blandiana Frime, 1864, Corbicula cyreniformis Prime,  
1860, Corbicula baudoni Morlet, 1886, Oxynaia micheloti Morlet,  
1886, Lanceolaria grayii Griffith et Pidgeon, 1833, còn loài  
Limnoperna siamensis Morelet, 1866 chỉ gặp ở hai điểm thu mẫu số  
T4 và số T6. Các loài gặp nhiều ở mùa nắng là: Corbicula  
lamarckiana Prime, 1864, Corbicula bocourti Morlet, 1865,  
14  
Corbicula blandiana Frime, 1864, Corbicula cyreniformis Prime,  
1860, Corbicula baudoni Morlet, 1886.  
So sánh với kết quả nghiên cứu của Hoàng Đình Trung và  
Hoàng Việt Quốc ở sông Hương – Huế và sông Hiếu – Quảng Trị về  
đặc điểm phân bố của các loài thuộc lớp Bivalvia thì sự sai khác  
không lớn. Sở dĩ, các kết quả nghiên cứu ít có sự sai khác là do các  
khu vực nghiên cứu đều là vùng đồng bằng thuộc khu vực miền  
Trung nên các điều kiện môi trường sống như: khí hậu, chế độ thủy  
văn, đặc điểm dòng chảy của sông, mùn đáy tương đối giống nhau.  
3.3. ẢNH HƢỞNG CÁC NHÂN TỐ SINH THÁI ĐẾN LỚP HAI  
MẢNH VỎ (BIVALVIA) TẠI SÔNG TAM KỲ  
Nhìn chung, các yếu tố thủy lý, hóa học ở sông Tam Kỳ đạt  
quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống  
thủy sinh, vì vậy ít ảnh hưởng đến đời sống của Hai mảnh vỏ. Tuy  
nhiên, độ mặn và đặc điểm nền đáy có ảnh hưởng đến số lượng cá thể  
và đặc điểm phân bố của Hai mảnh vỏ. Các loài thuộc họ  
Corbiculidae phân bố nhiều ở những điểm thu mẫu vùng hạ lưu nơi có  
hàm lượng muối cao từ 0,03%0 đến 0,07%0. Sự biến động số lượng  
theo mùa, mùa khô số lượng loài và số lượng cá thể cao hơn mùa mưa  
do các loài thuộc họ Corbiculidae thích nghi với môi trường nước lợ  
nhiều hơn. Các loài thuộc họ Unionidae và Amblemidae phân bố nhiều  
ở vùng thượng nguồn nơi môi trường nước có hàm lượng muối thấp  
hơn. Mặc khác, sự biến động cá thể theo mùa còn chịu ảnh hưởng của  
mùa sinh sản và lượng thức ăn. Trong những năm gần đây hoạt động  
khai thác cát ở lòng sông cùng với công trình đường cao tốc ở thượng  
nguồn khi trời mưa chảy và lắng tụ đất đồi xuống lòng sông làm thay  
đổi nền đáy. Trong khi đó, mùn đáy vừa là nơi ở vừa là nguồn thức ăn  
của động vật Hai mảnh vỏ.  
15  
3.3.1. Biến động thành phần loài theo mùa  
Về mùa khô có 3/8 loài xuất hiện ở tất cả các điểm thu mẫu đó  
là: Corbicula lamarckiana Prime, 1864, Corbicula bocourti Morlet,  
1865, Corbicula baudoni Morlet, 1886. Loài Corbicula blandiana  
Frime, 1864 xuất hiện ở 7 điểm thu mẫu, loài Corbicula cyreniformis  
Prime, 1860 xuất hiện ở 6 điểm thu mẫu, còn hai loài Oxynaia  
micheloti Morlet, 1886, Lanceolaria grayii Griffith et Pidgeon, 1833  
chỉ xuất hiện ở 2 điểm thu mẫu vùng thượng nguồn. Loài  
Limnoperna siamensis Morelet, 1866 không xuất hiện.  
Về mùa mưa Corbicula bocourti Morlet, 1865 xuất hiện 7/10  
điểm thu mẫu. Loài Corbicula lamarckiana Prime, 1864 xuất hiện ở  
6 điểm thu mẫu. Loài Corbicula baudoni Morlet, 1886 và loài  
Corbicula blandiana Frime, 1864 xuất hiện ở 4 điểm thu mẫu. Ba  
loài còn lại xuất hiện ở 3 điểm thu mẫu.  
Nhìn chung, mùa khô số lượng loài xuất hiện tương đối đồng  
đều dao động từ 3-6 loài ở các điểm thu mẫu. Điều này được lý giải  
là do sông Tam Kỳ là một khúc sông ngắn, bị chặn dòng từ thượng  
nguồn nên dòng chảy tương đối hài hòa, ít biến động về các điều kiện  
lý hóa và đặc điểm nền đáy. Theo kết quả đo được về các chỉ tiêu lý,  
hóa của môi trường nước ở mục 3.1 cho thấy các chỉ tiêu đều ở mức  
cho phép bảo vệ đời sống thủy sinh theo quyết định tại QCVN 38:  
2011/BTNMT. Mùa mưa có biến động số lượng loài dao động từ 0  
đến 5, dao động hơn mùa nắng. Sự dao động này là do mùa mưa  
dòng chảy mạnh hơn, vùng hạ lưu chịu tác động của nước biển dâng  
làm tăng độ muối và sự lắng tụ đất đồi ở nền đáy từ vùng thượng  
nguồn. Cả hai mùa đều có số loài giảm ở 3 điểm T5, T6, T7 nguyên  
nhân là do các điểm này người dân nuôi cá lồng nhiều cùng với hoạt  
động kinh doanh ven sông làm chất lượng môi trường nước ảnh  
16  
hưởng (pH giảm) và đặc điểm nền đáy cũng thay đổi theo hướng lắng  
đọng nhiều sản phẩm thức ăn thừa của cá cùng với sự phát triển  
mạnh của rong gây ảnh hưởng đến môi trường sống của ĐVĐ.  
3.3.2. Biến động số lƣợng cá thể theo mùa  
Do lòng sông sâu nên phương pháp tính mật độ cá thể gặp khó  
khăn. Vì vậy, để đánh giá sự biến động số lượng cá thể theo mùa tôi  
sử dụng phương pháp tổng hợp số lượng cá thể ở các đợt thu mẫu kết  
hợp phỏng vấn ngư dân.  
Các loài thuộc họ Corbiculidae biến động theo hướng mùa khô  
số lượng cá thể nhiều hơn mùa mưa (tăng từ 2,5 lần đến 4,5 lần). Đối  
với hai loài Oxynaia micheloti Morlet, 1886 và Lanceolaria grayii  
Griffith et Pidgeon, 1833 thì mùa khô số lượng nhiều hơn mùa mưa  
nhưng không đáng kể. Đối với loài Limnoperna siamensis Morelet,  
1866 không đưa vào bảng tổng hợp vì loài này có nơi sống khác,  
không sống ở đáy mà sống bám quanh mạn thuyền và bè nuôi cá  
phần chìm dưới nước không thể đánh giá số lượng như các loài  
ĐVĐ. Kết quả khảo sát cho thấy đến mùa khô khi nước nông thì loài  
này chết hàng loạt làm giảm mạnh về số lượng.  
Kết quả khảo sát từ ngư dân, có 90% ngư dân đánh bắt khẳng  
định các loài thuộc họ Corbiculidae - giống Corbicula có số lượng  
phát triển mạnh đại vào mùa khô, khoảng từ tháng 2 đến tháng 5 âm  
lịch, sau đó giảm dần đến cuối năm (tháng 12). Số lượng nhiều nhất  
vào giai đoạn tháng 2-3. Ngư dân còn cho biết trong những năm gần  
đây số lượng giảm dần do hoạt động khai thác cát trái phép của người  
dân làm thay đổi nền đáy và sông ngày càng sâu hơn. Bà Nguyễn Thị  
Kim Sử ở tổ 1, Hương Trà Đông, phường Hòa Hương, thành phố  
Tam Kỳ cho biết “Vào thời điểm tháng ba (âm lịch), nếu dùng tay bắt  
con hến lớn dưới sông trong 1 giờ đồng hồ, cách đây ba năm tôi có  
17  
thể bắt được 10kg, nhưng bây giờ cũng trong khoảng thời gian đó tôi  
bắt được 5kg là nhiều rồi”. Kết quả phỏng vấn những ngư dân khác  
đánh bắt ở các khu vực khác dưới sông Tam Kỳ cũng có kết quả  
tương tự.  
Kết hợp sự biến động số lượng cá thể theo mùa được thể hiện  
ở trên kết hợp với kết quả phỏng vấn ngư dân cho thấy số lượng cá  
thể giảm dần qua các năm do chịu ảnh hưởng của hoạt động khai thác  
cát làm biến đổi đặc điểm nền đáy, mất môi trường sống của Hai  
mảnh vỏ. Sự biến động số lượng cá thể giữa các tháng trong năm  
theo xu hướng số lượng tăng mạnh vào tháng hai, ba và giảm dần đến  
cuối năm là do ảnh hưởng của mùa sinh sản, hoạt động của triều  
cường, hoạt động đánh bắt và hoạt động khai thác cát dưới sông. Họ  
Corbiculidae ưa môi trường nước lợ, sinh sản vào tháng 10 hàng  
năm. Sau khi sinh sản con non sinh trưởng đến tháng 2 bắt đầu  
trưởng thành và cũng trong khoảng thời gian này hàm lượng muối  
trong nước cũng tăng lên nên số lượng tăng lên. Sau đó do ảnh hưởng  
hoạt đông đánh bắt của người dân và các tác động của môi trừơng  
như khai thác cát đã làm số lượng giảm dần. Sự biến động số lượng  
cá thể giữa các điểm thu mẫu theo hướng vùng hạ lưu có số lượng cá  
thể cao hơn là do ảnh hưởng của độ muối vì các loài thuộc họ  
Corbiculidae ưa môi trường nước lợ, các điểm nghiên cứu gần vùng  
hạ lưu có độ muối cao hơn.  
Loài Oxynaia micheloti Morlet, 1886, Lanceolaria grayii  
Griffith et Pidgeon, 1833 số lượng không nhiều như các loài thuộc họ  
Corbiculidae và phân bố chủ yếu ở các điểm vùng thượng nguồn T1,  
T2, T3. Nguyên nhân là do hai loài này thích nghi với môi trường  
nước ngọt hơn ở các điểm này là vùng thượng nguồn nên hàm lượng  
muối trong nước thấp hơn.  
18  
3.3.3. Đa dạng sinh học của Hai mảnh vỏ tại khu vực nghiên  
cứu  
a. Đa dạng sinh học theo mùa  
Trên cơ sở tổng hợp tổng số cá thể từng loài qua các đợt thu  
mẫu theo mùa, sử dụng phần mềm Primer 5 để tính toán chỉ số đa  
dạng sinh học. Nhìn chung, chỉ số đa dạng sinh học H’ của Hai mảnh  
vỏ ở khu vực nghiên cứu cả hai mùa (2,49 và 2,67) tương ứng với  
mức độ ĐDSH trung bình khá. Chỉ số H’ cho thấy mùa khô có  
ĐDSH thấp hơn mùa mưa.  
b. Đa dạng sinh học theo các dạng sinh cảnh  
Sông Tam Kỳ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hoạt động khai  
thác cát sỏi, nước biển dâng ở vùng hạ lưu, vùng thượng nguồn chịu  
tác động của công trình đường cao tốc. Dưới những tác động đó sinh  
cảnh sông cũng mang những đặc điểm khác nhau. Để tìm hiểu đặc  
điểm đa dạng sinh học của Hai mảnh vỏ ở những dạng sinh cảnh  
khác nhau tôi đã chia các điểm thu mẫu theo 3 dạng sinh cảnh:  
Sinh cảnh 1: Vùng thượng nguồn của sông, chịu tác động của  
hoạt động khai thác cát, tác động của công trình đường cao tốc làm  
thay đổi nền đáy và hoạt động đánh bắt của con người, gồm có các  
điểm T1, T2, T3  
Sinh cảnh 2: Vùng trung lưu của sông, ít chịu tác động của  
hoạt động khai thác cát và hoạt động đánh bắt, chịu tác động mạnh  
của hoạt động nuôi cá lồng, bè và hoạt động sản xuất kinh doanh của  
con người gồm có các điểm T5, T6, T7.  
Sinh cảnh 3: Vùng hạ lưu của sông, chịu tác động của hoạt  
động khai thác cát, hoạt động đánh bắt của con người, đặc biệt sinh  
cảnh này chịu tác động mạnh mẽ của nước biển dâng gồm có các  
điểm T8, T9, T10.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 15480 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu ảnh hưởng các điều kiện môi trường đến thành phần loài lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) tại sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nghien_cuu_anh_huong_cac_dieu_kien_moi_truo.pdf