Luận văn Những yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn bó đối với tổ chức: Nghiên cứu trường hợp công chức, viên chức hành chính cấp tỉnh, tỉnh Long An

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
--------------------------  
TRẦN HẢI TUẤN  
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ GẮN BÓ  
ĐỐI VỚI TỔ CHỨC:  
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC  
HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH, TỈNH LONG AN  
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
--------------------------  
TRẦN HẢI TUẤN  
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ GẮN BÓ  
ĐỐI VỚI TỔ CHỨC:  
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC  
HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH, TỈNH LONG AN  
Chuyên ngành : Quản lý công  
Mã số  
: 60340403  
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. PHẠM QUỐC HÙNG  
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đề tài: “Những yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn bó đối với tổ  
chức. Nghiên cứu trường hợp công chức, viên chức hành chính cấp tỉnh, tỉnh Long  
An” là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là  
trung thực, do chính tác giả thu thập, phân tích và chưa từng được ai công bố trong  
bất kỳ công trình khoa học nào khác.  
Học viên thực hiện  
Trần Hải Tuấn  
MỤC LỤC  
Trang  
LỜI CAM ĐOAN  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ HỘP  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
Cơ hội thăng tiến  
CHTT  
MQHCT  
Mối quan hệ với cấp trên.  
Mối quan hệ với đồng  
nghiệp.  
MQHDN  
MTLV  
OC  
Môi trường làm việc  
Sự gắn bó với tổ chức  
Organization commitment  
Bảng câu hỏi về sự gắn kết  
với tổ chức  
OCQ  
SGB  
Organization Commitment Questionable  
Sự gắn bó với tổ chức  
Phần mềm xử lý thống kê  
dùng trong các ngành khoa  
học xã hội  
SPSS  
Statistical Package for Social Sciences  
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ HỘP  
Trang  
1
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU  
1.1. Lý do chọn đề tài  
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội  
nhập quốc tế, xây dựng, phát triển với quy mô ngày càng lớn. Thực tiễn cho thấy,  
sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện nhưng chủ  
yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào nguồn lực con người. Hơn bất cứ nguồn lực nào  
khác, con người luôn chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển. Đội ngũ  
công chức, viên chức là những người trong bộ máy lãnh đạo, quản lý, điều hành đất  
nước, những người có trọng trách đặc biệt quan trọng trong hoạch định các chủ  
trương, chính sách, pháp luật về kinh tế - xã hội theo chủ trương, đường lối lãnh đạo  
của Đảng và phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước. Công chức, viên chức cũng là  
những người thực thi các chủ trương, chính sách pháp luật vào hoạt động hàng ngày  
của mọi tổ chức, cá nhân làm cho nền kinh tế vận hành đồng bộ, nhịp nhàng như  
một cỗ máy hoàn hảo. Có thể thấy, thời gian gần đây có tình trạng công chức, viên  
chức xin thôi việc ở các cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan hành chính cấp  
tỉnh, tỉnh Long An nói riêng để đi làm ở các công ty, tổ chức bên ngoài. Hiện tượng  
này diễn ra ngày càng nhiều đã thu hút sự quan tâm của cả nhà quản lý lẫn dư luận  
xã hội. Hiện tượng công chức, viên chức xin ra khỏi cơ quan Nhà nước để đi làm ở  
bên ngoài có thể nói đã tạo nên dư luận khá mạnh mẽ trong khu vực công. Bởi họ là  
những người tài có uy tín về chuyên môn và giữ những vị trí quan trọng trong cơ  
quan Nhà nước. Sự ra đi của họ có thể tạo nên sự nuối tiếc của lãnh đạo cấp trên,  
của đồng nghiệp đối với những tài năng khi không đủ sức giữ chân họ, nhưng có thể  
gây nên tâm lý hoang mang, dao động cho những người ở lại trong cơ quan đó. Nếu  
nhìn rộng ra toàn bộ nguồn nhân lực, có thể thấy đây là hiện tượng “chảy máu chất  
xám” ngay tại trong nước. Nếu hiện tượng này trở thành xu thế phổ biến và lan rộng  
sẽ ảnh hưởng đến nguồn nhân lực chất lượng cao trong các đơn vị hành chính Nhà  
nước nói chung và cơ quan hành chính cấp tỉnh, tỉnh Long An nói riêng, mà đó  
cũng là nguy cơ làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước của tỉnh Long An, từ đó ảnh  
hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Do đó, đối với các cơ quan  
   
2
Nhà nước nói chung và cơ quan hành chính cấp tỉnh, tỉnh Long An nói riêng cần có  
các chế độ, chính sách phù hợp để động viên và giữ chân công chức, viên chức,  
phát huy năng lực sở trường, yên tâm công tác. Ngoài chính sách về tiền lương, các  
chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng thì các yếu tố khác liên quan đến quản lý nhân  
lực cũng không kém phần quan trọng như: Môi trường làm việc (“Môi trường làm  
việc là điều kiện để cán bộ, công chức phát huy khả năng công tác”, Lý Thị Kim  
Bình - Học viện Hành chính/Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số 11/2008), Cơ hội thăng  
tiến, Mối quan hệ với cấp trên, Mối quan hệ với đồng nghiệp. Ray (1987) đã quan  
sát thấy rằng “Trꢀ chuyện về những căng thẳng trong công việc có thể mang lại cho  
nhân viên cảm nhận về tình bạn và tinh thần đồng đội, giúp tăng thêm giá trị ý nghĩa  
trong môi trường làm việc của họ”.  
Long An trở thành tỉnh có vị trí kinh tế cao trong vùng kinh tế trọng điểm  
vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế,  
với diện tích rộng lớn 449.194,49 ha, gần 132,977 km biên giới giáp với  
Campuchia, tỉnh Long An luôn chú trọng trong việc khai thác, phát huy vai trò của  
kinh tế biên mậu, gắn với giữ vững quốc phòng an ninh, củng cố, phát triển quan hệ  
đối ngoại. Vì vậy, vấn đề đặt ra là các cơ quan Nhà nước cần xem xét, đánh giá các  
yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn bó của công chức, viên chức để có hướng đi phù hợp  
nhằm giữ chân nhân tài phục vụ trong cơ quan Nhà nước. Hiện nay, cùng với sự  
phát triển của nền kinh tế thị trường và việc tham gia ngày càng rộng rãi của các tổ  
chức xã hội vào các hoạt động của đời sống xã hội, thì các dịch vụ công do Nhà  
nước cung cấp vẫn luôn giữ được vai trò thiết yếu và quan trọng. Xuất phát từ nhận  
thức về tầm quan trọng của yếu tố con người trong việc bảo đảm hiệu quả hoạt động  
của mọi tổ chức, Nhà nước ta cần quan tâm xây dựng đội ngũ công chức, viên chức  
giỏi. Đội ngũ công chức, viên chức giỏi là yếu tố cốt lõi trong việc nâng cao hiệu  
quả cung cấp các dịch vụ công và thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước.  
Từ các vấn đề nói trên, tôi chọn đề tài: “Những yếu tố ảnh hưởng đến sự  
gắn bó đối với tổ chức: Nghiên cứu trường hợp công chức, viên chức hành chính  
cấp tỉnh, tỉnh Long An” làm đề tài nghiên cứu. Nghiên cứu này được thực hiện  
3
nhằm mục đích tìm hiểu, đánh giá sự gắn bó của công chức, viên chức hành chính  
cấp tỉnh, tỉnh Long An hiện nay. Với dữ liệu nghiên cứu được có thể giúp cho các  
nhà quản lý trong cơ quan hành chính cấp tỉnh, tỉnh Long An có các định hướng,  
chính sách phù hợp nhằm giữ chân những công chức, viên chức phù hợp mà nhà  
quản lý mong muốn họ gắn bó lâu dài với đơn vị.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu các yếu tố: Môi trường làm việc, Cơ hội  
thăng tiến, Mối quan hệ với cấp trên và Mối quan hệ với đồng nghiệp ảnh hưởng  
đến sự gắn bó đối với tổ chức của công chức, viên chức hành chính cấp tỉnh, tỉnh  
Long An.  
1.3. Đối tượng nghiên cứu  
- Mối quan hệ với cấp trên (Relationships with superiors): cấp trên là người ở  
vị trí cao hơn trong một công ty hay tổ chức. Trong luận văn này, cấp trên có nghĩa  
là người quản lý trực tiếp nhân viên cấp dưới. Nghiên cứu của Staudt (1997) nhận  
thấy rằng người lao động có sự gắn bó nếu họ hài lòng với cấp trên.  
- Môi trường làm việc (Working environment) là những vấn đề liên quan đến  
cảm nhận của nhân viên về an toàn vệ sinh nơi làm việc như: văn phꢀng làm việc,  
bàn ghế làm việc, phòng họp, phòng y tế...; máy móc, trang thiết bị hỗ trợ cho công  
việc có đảm bảo an toàn (Trần Thị Trúc Linh, 2007).  
- Cơ hội thăng tiến (Promotion opportunities) là việc thay đổi trách nhiệm  
công việc và tiến lên bậc cao hơn hiện tại. Sự thăng tiến tạo cơ hội cho phát triển cá  
nhân, trách nhiệm nhiều hơn và địa vị xã hội cao hơn. Những cơ hội đào tạo và  
thăng tiến mà công ty tạo ra cho người lao động của mình có tác dụng động viên  
cao độ trong điều kiện hiện nay (Lê Văn Nhanh, 2011).  
- Mối quan hệ với đồng nghiệp (Relationships with colleagues) là cách đối  
xử giữa những cá nhân với nhau trong cùng tổ chức. Đồng nghiệp là người bạn làm  
việc cùng với nhau (Lê Văn Nhanh, 2011).  
- Sự gắn bó đối với tổ chức (Ogranizational commitment) là sự gắn bó với  
công việc đo lường mức độ hiểu biết về công việc của người lao động, sự tham gia  
   
4
tích cực, và sự quan tâm đến việc thực hiện nhiệm vụ là quan trọng đối với anh ta  
(Nguyễn Hữu Lam, 2007).  
- Tác động của môi trường làm việc, cơ hội thăng tiến, mối quan hệ với cấp  
trên và mối quan hệ với đồng nghiệp đến sự gắn bó của nhân viên đối với tổ chức.  
1.4. Phạm vi nghiên cứu  
Do nguồn nhân lực ở khu vực quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp giáo  
dục và y tế có tầm quan trọng hơn, vì vậy tác giả sẽ nghiên cứu trên cơ sở điều tra  
các đối tượng là các nhân viên, tổ trưởng/chuyên viên, quản lý hiện đang làm việc  
trong cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp giáo dục và y tế cấp tỉnh, tỉnh  
Long An.  
1.5. Phương pháp nghiên cứu  
1.5.1. Dữ liệu dùng cho nghiên cứu  
Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ bảng câu hỏi phỏng vấn 300 nhân  
viên, tổ trưởng/chuyên viên, quản lý hiện đang làm việc trong cơ quan quản lý nhà  
nước, các đơn vị sự nghiệp giáo dục và y tế cấp tỉnh, tỉnh Long An.  
1.5.2. Phương pháp nghiên cứu định tính  
Dựa vào các tài liệu đã nghiên cứu từ các chuyên gia và các nghiên cứu khảo  
sát về mô hình sự gắn bó với tổ chức để rút ra các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự  
gắn bó với tổ chức của công chức, viên chức hành chính cấp tỉnh, tỉnh Long An.  
Lấy ý kiến thảo luận nhóm từ lãnh đạo, chuyên viên của các cơ quan hành  
chính cấp tỉnh, tỉnh Long An.  
1.5.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng  
Sau khi nghiên cứu định tính, tác giả tiến hành nghiên cứu định lượng để  
lượng hóa các yếu tố khảo sát công chức, viên chức đang làm việc tại các cơ quan  
hành chính cấp tỉnh, tỉnh Long An.  
Bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên thang đo Likert 7 mức độ nhằm đánh giá  
mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến “Sự gắn bó với tổ chức của công  
chức, viên chức hành chính cấp tỉnh, tỉnh Long An”.  
         
5
1.6. Kết cấu của luận văn  
Chương 1: Giới thiệu.  
Chương 2. Cơ sở lý thuyết.  
Chương 3. Thiết kế nghiên cứu.  
Chương 4. Kết quả nghiên cứu.  
Chương 5. Kết luận và các kiến nghị.  
 
6
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
2.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu  
Duy trì nguồn nhân lực là một trong ba chức năng cơ bản của quản trị nguồn  
nhân lực (Trần Kim Dung, 2009, tr 33). Bên cạnh đó, hoạt động nhân sự cꢀn đóng  
vai trꢀ quan trọng trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển của một công ty,  
bởi vì nạn “Chảy máu chất xám” (brain drain) tiếp tục diễn ra với quy mô lớn  
(Nguyễn Văn Tài, 2003). Chính vì thế, các nghiên cứu về hành vi tổ chức, cụ thể là  
sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức, đã được khá nhiều học giả trên thế giới và  
trong nước xem xét, ứng dụng và tiến hành nghiên cứu để xác định và kiểm định  
các nhân tố nào thật sự có ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến ý thức gắn kết của  
nhân viên đối với tổ chức.  
2.1.1. Các nghiên cứu trong nước  
Học giả Trần Kim Dung được xem là có nhiều nghiên cứu liên quan về OC.  
Nghiên cứu: “Đánh giá trình độ quản trị nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp du  
lịch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ”(Trần Kim Dung, 1999) cho thấy nhân  
viên có mức độ hài lꢀng chung trong doanh nghiệp là trên trung bình (3,52/5). Với  
bốn nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sự hài lꢀng là: (1) Công việc: Được tính  
trung bình là 3,76/5; (2) môi trường không khí làm việc (3,74/5); (3) cơ hội đào tạo  
thăng tiến (3,53/5) và (4) thu nhập (3,48/5). Tuy nhiên kết quả hồi quy cho thấy yếu  
tố ảnh hưởng lớn nhất tới sự hài lꢀng của nhân viên lại là môi trường không khí làm  
việc trong doanh nghiệp. Yếu tố ảnh hưởng ít nhất đến sự hài lꢀng của nhân viên là  
cơ hội đào tạo, thăng tiến (mặc dù nếu tách riêng lẻ từng yếu tố để thực hiện hồi quy  
đơn biến thì từng yếu tố đều ảnh hưởng đến sự hài lꢀng của nhân viên). Ngoài ra,  
nhân viên có trình độ văn hóa, chức vụ và tuổi cao thường có mức độ hài lꢀng cao  
hơn.  
Ở một lĩnh vực khác, trên một phạm vi và đối tượng nghiên cứu hẹp hơn, đề  
tài: “Đo lường sự thỏa mãn của cán bộ công nhân viên đối với tổ chức tại công ty  
trách nhiệm hữu hạn Long Shin” (Lê Hồng Lam, 2009) cho thấy sự thỏa mãn của  
các công nhân chế biến thủy sản đối với tổ chức bị ảnh hưởng mạnh nhất chính là  
     
7
(1) mối quan hệ cấp trên - cấp dưới và (2) sự đồng cảm với những vấn đề cá nhân.  
Vấn đề lương bổng và các chế độ chính sách chỉ xếp thứ ba. Mức độ ảnh hưởng  
giảm đi ở yếu tố (4) sự tự thể hiện, phát triển nghề nghiệp. Theo sau là (5) triển  
vọng phát triển công ty và (6) hiệu quả công tác đào tạo. Điều trái ngược hoàn toàn  
với kết quả nghiên cứu của Trần Kim Dung (1999), là (7) yếu tố môi trường, điều  
kiện làm việc là ít ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của nhân viên đối với tổ chức nhất.  
Như vậy, với đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể khác nhau đã cho ra những  
kết quả không giống nhau, thậm chí là trái ngược nhau.  
Liên quan đến lĩnh vực dịch vụ, Bùi Thị Hồng Thủy (2010) với nghiên cứu  
“Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ gắn bó của nhân viên đối với công ty Bảo Việt  
Nhân Thọ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long”, đã khẳng định thêm kết quả của Lê  
Hồng Lam (2009) khi cho rằng yếu tố (1) mối quan hệ với cấp trên có ảnh hưởng  
quan trọng nhất đến sự hài lꢀng của nhân viên với tổ chức, tiếp theo là yếu tố (2)  
tiền lương và chế độ chính sách. Hai yếu tố sau là (3) ý nghĩa công việc và (4) môi  
trường, bầu không khí làm việc và triển vọng phát triển của công ty lại có mức độ  
ảnh hưởng yếu hơn. Hai yếu tố này cũng đã được Trần Kim Dung (1999, 2005)  
khẳng định trong các nghiên cứu trước đó.  
Đặc biệt, trong số những nghiên cứu về sự gắn bó của công chức, viên chức  
đối với cơ quan tổ chức Nhà nước trong thời gian gần đây, không thể không kể đến  
nghiên cứu của Võ Quốc Hưng và Cao Hào Thi về “Các yếu tố ảnh hưởng đến dự  
định nghỉ việc của công chức - viên chức Nhà nước” - năm 2009. Nghiên cứu này  
đã chỉ ra được 8 yếu tố gồm: Sự phù hợp, hành vi lãnh đạo, quan hệ nơi làm việc,  
huấn luyện và phát triển, lương thưởng và công nhận, truyền thông, sự yêu thích và  
môi trường làm việc vật lý ảnh hưởng đến dự định nghỉ việc của công chức, viên  
chức đều có mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, mô hình  
chỉ giải thích được vấn đề nghiên cứu ở mức độ 35,9% khi nhân rộng ra tổng thể.  
Nguyên nhân đã được chỉ ra là có thể do cꢀn một số yếu tố khác chưa được đưa vào  
mô hình nghiên cứu và chỉ khảo sát trên một số ít lĩnh vực, đây sẽ là hướng đi để  
các nghiên cứu sau khắc phục, hoàn thiện và đưa ra những kết luận thiết thực hơn.  
8
Tương tự, nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó của công chức,  
viên chức đối với các cơ quan nhà nước tại tỉnh Khánh Hꢀa” của Châu Thị Minh Vi  
năm 2012. Nghiên cứu dựa trên mẫu khảo sát 200 công chức, viên chức làm việc  
trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước ở tỉnh Khánh Hꢀa. Kết quả cho thấy có 4 yếu  
tố tác động đến sự gắn bó của công chức - viên chức xếp theo mức độ tăng dần:  
Tính ổn định của công việc có tác động mạnh nhất đến sự gắn bó của công chức -  
viên chức với trọng số 0,437; tiếp sau đó là Tưởng thưởng tinh thần với trọng số là  
0,358; Thái độ đối với công việc là 0,235 và cuối cùng là Cơ hội việc làm với trọng  
số 0,141.  
2.1.2. Các nghiên cứu trên thế giới  
Có khá nhiều học giả đã quan tâm nghiên cứu về sự gắn kết của nhân viên  
đối với tổ chức. Các tác phẩm của Buchanan (1974), Etzioni (1975), Hall,  
Schneider và Nygren (1970), Hrebiniak và Alutto (1972), Porter, Steers, Mowday,  
và Boulian (1974), Salancik (1977) và Sheldon (1971) đại diện cho hầu hết, nhưng  
không phải tất cả, cho sự đa dạng đó (xem Romzek, 1989).  
Các mô hình nghiên cứu các thành phần sự gắn kết trong hơn 50 năm qua  
thường chú trọng chủ yếu đến các thuộc tính công việc (Job-Related). Trong đó  
nghiên cứu nổi bật (làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo) do Viện Quan hệ Lao  
động New York (The Labor Relations Institutes of New York) xây dựng lần đầu  
tiên năm 1946 áp dụng với các đối tượng là nhân viên trong ngành công nghiệp  
(Hersey và Blanchrd, 2001, xem Trần Kim Dung, 2011) với 9 thành phần động viên  
khuyến khích nhân viên:  
* Công việc thú vị: Thể hiện qua sự đa dạng, sáng tạo và thách thức của công  
việc và cơ hội để sử dụng năng lực của cá nhân.  
* Được công nhận đầy đủ công việc đã làm: Được ghi nhận hoàn thành tốt  
công việc, cũng như ghi nhận góp phần vào sự thành công của công ty.  
* Sự tự chủ trong công việc: Cá nhân có có quyền kiểm soát và chịu trách  
nhiệm với công việc, được khuyến khích tham gia vào các quyết định liên quan đến  
công việc và được khuyến khích đưa ra những sáng kiến.  
 
9
* Công việc lâu dài: Có một công việc ổn định, không phải lo lắng bằng cách  
nào để giữ việc làm.  
* Lương cao: Được nhận tiền lương tương xứng với kết quả làm việc. Lương  
sẽ đảm bảo cuộc sống cá nhân. Được thưởng hoặc tăng lương khi hoàn thành tốt  
công việc.  
* Sự thăng tiến và phát triển nghề nghiệp: Cá nhân luôn có được những cơ  
hội thăng tiến và phát triển trong tổ chức.  
* Điều kiện làm việc tốt: Những vấn đề liên quan như an toàn lao động, vệ  
sinh, môi trường, thời gian làm việc...  
* Sự gắn bó của cấp trên và công ty với nhân viên: Nhân viên luôn được tôn  
trọng và tin cậy, được xem là một thành viên quan trọng đối với công ty.  
* Sự hỗ trợ của cấp trên: Thể hiện sự quan tâm, hỗ trợ của cấp trên trong việc  
giải quyết các vấn đề khó khăn của nhân viên.  
Sau đó, mô hình này được tiếp tục lập lại trong các nghiên cứu vào các năm  
1980, 1986 do Kovach (1987) thực hiện, vào các năm 1992 do Wiley (1995) thực  
hiện nhằm khám phá ra nhân tố ảnh hưởng mới: Chính sách xử lý kỷ luật mềm dẻo,  
tế nhị.  
Mặc dù vậy, khái niệm về sự gắn kết vẫn là một trong các khái niệm đầy  
thách thức (Morrow, 1993; Cohen, 2003; Cooper-Hakim và Viswesvaran, 2005).  
Một trong những nỗ lực đầu tiên để đưa ra một khung lý thuyết về sự gắn kết là của  
Becker (1960) dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa cá nhân với tổ chức. Luận điểm này  
được hỗ trợ bởi các nghiên cứu sau đó (Alutto, Hrebiniak và Alonso, 1973; Ritzer  
và Trice, 1969, xem Zheng, Sharan và Wei, 2009). Một ví dụ minh họa là nghiên  
cứu: “On Becker’s Theory of Commitment: An Empirical Verification Among  
Blue-Collar Workers” được Baba và Jamal (1979) thực hiện qua khảo sát 377 công  
nhân sản xuất (68% là nam) ở 6 công ty (mỗi công ty có từ 200 đến 600 công nhân)  
tại thành phố Vancouver xinh đẹp ở Canada. Theo đó, tác giả đã chỉ ra ba thành tố  
ảnh hưởng đến sự gắn kết của các công nhân đối với tổ chức là (1) Nhân khẩu -  
demographic, (2) Bối cảnh - background và (3) các yếu tố công việc - job factor.  
10  
Trong đó, thành tố các yếu tố công việc (bao gồm: Sự đa dạng của công việc; thời  
gian thảnh thơi; sự giúp đỡ; di chuyển thuận lợi) được xem là chìa khóa đóng vai trꢀ  
quan trọng nhất trong việc xác định sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức, hay  
nói cách khác là yếu tố công việc ảnh hưởng đến thái độ của cá nhân đối với công  
việc và tổ chức. Kết quả này cũng đã được khẳng định ở những nghiên cứu của các  
tác giả trước đó như Hackman và Lawler (1971), Stone và Porter (1975).  
Tuy nhiên, có thể có cách tốt hơn để đo lường sự gắn kết là sử dụng các biện  
pháp trực tiếp đánh giá nhận thức của cá nhân. Theo quan điểm này, xu hướng trong  
nghiên cứu sự gắn kết đã phát triển đến một sự hiểu biết về gắn kết với tổ chức  
phức tạp hơn bao gồm cả khía cạnh hành vi và khía cạnh thái độ. Các học giả này  
(Hall, 1970; Sheldon, 1971; Porter, 1974; Meyer và Allen, 1996) đã dựa vào các lý  
thuyết có sẵn để nghiên cứu về sự gắn kết thái độ. Nổi bật là Mowday và cộng sự  
(1979) đã cố gắng xây dựng nên một thang đo ý thức gắn kết tổ chức của nhân viên  
bằng nghiên cứu: “The Measurement of Organizational Commitment” (Mowday,  
Steers và Porter, 1979). Bằng việc sử dụng định nghĩa: OC là sức mạnh của sự đồng  
nhất (identification) của cá nhân với tổ chức và sự tham gia tích cực (involvement)  
trong tổ chức (Porter, 1974), Mowday và cộng sự đã xác định được 3 thành tố của  
OC: (i) Tin tưởng tuyệt đối vào tổ chức, chấp nhận các mục tiêu và giá trị của tổ  
chức, (ii) Sẵn sàng nỗ lực làm việc vì tổ chức, và (iii) Mong muốn một cách mạnh  
mẽ là thành viên của tổ chức. Trên cơ sở đó, Mowday và cộng sự đã xây dựng một  
bảng câu hỏi (OCQ) gồm 15 mục để khai thác ba khía cạnh của OC. Thang đo  
Linkert 7 mục đã được sử dụng. Tổng cộng 2.563 công nhân viên ở 9 lĩnh vực (9  
mẫu) khác nhau đã được khảo sát. Kết quả cho thấy được được độ tin cậy đáng kể  
của OCQ. Tương quan đáng kể đã được tìm thấy giữa OCQ và ý định ở lại tổ chức  
(được xem là một trong ba thành tố của OC) trong mỗi nghiên cứu. Hơn nữa, trong  
một nghiên cứu, OCQ cũng đã được tìm thấy là có liên quan đến dự định của nhân  
viên sẽ ở lại tổ chức bao lâu. Bên cạnh đó, mối quan hệ vừa phải giữa OC và động  
lực thúc đẩy cũng được tìm thấy và những nhân viên có sự quan tâm và định hướng  
nghề nghiệp thì được đánh giá là có mức độ gắn kết cao hơn. Cuối cùng, là mối  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 106 trang yennguyen 18441 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Những yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn bó đối với tổ chức: Nghiên cứu trường hợp công chức, viên chức hành chính cấp tỉnh, tỉnh Long An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nhung_yeu_to_anh_huong_den_su_gan_bo_doi_voi_to_chu.pdf