Luận văn Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
VÕ THỊ KHEN  
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA  
CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG  
TMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013  
 
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
VÕ THỊ KHEN  
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA  
CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG  
TMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM  
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng  
Mã số  
: 60340201  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS. TS TRẦM THỊ XUÂN HƢƠNG  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số liệu  
sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong  
phạm vi hiểu biết của tôi. Những ý kiến đóng góp và giải pháp đề xuất là của cá  
nhân tôi từ việc nghiên cứu tài liệu và làm việc thực tế tại đơn vị.  
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 09 năm 2013  
TÁC GIẢ  
Võ Thị Khen  
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
 
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
ACB  
Ngân hàng TMCP Á Châu  
Báo cáo tài chính  
BCTC  
CTTC  
Cho thuê tài chính  
DAB  
Ngân hàng TMCP Đông Á  
EIB  
Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam  
NHNN  
NHTM  
NHTW  
NVB  
Ngân hàng Nhà nước  
Ngân hàng thương mại  
Ngân hàng Trung ương  
Ngân hàng TMCP Nam Việt  
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín  
Tổ chức tín dụng  
STB  
TCTD  
TMCP  
TNHH  
VietinBank  
VietinBank Leasing  
Thương mại cổ phần  
Trách nhiệm hữu hạn  
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam  
Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP  
Công thương Việt Nam  
VILEA  
Hiệp hội cho thuê tài chính Việt Nam  
 
1
LỜI MỞ ĐẦU  
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài  
Cho thuê tài chính là một hoạt động tài trợ vốn trung dài hạn cho doanh nghiệp  
thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản.  
Ngày 26/01/1998, Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP Công thương Việt  
Nam được thành lập theo Quyết định số 53/1998/QĐ-NHNN5 của Thống đốc Ngân  
hàng Nhà nước, là một doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập của Ngân hàng  
TMCP Công thương Việt Nam, được Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam  
cấp 100% vốn điều lệ, có quyền tự chủ về kinh doanh và tài chính, chịu sự ràng  
buộc về quyền lợi và nghĩa vụ đối với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.  
Để phù hợp với Luật Doanh nghiệp ban hành năm 2005, từ tháng 08/2009, Công ty  
cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chính thức đổi tên  
thành Công ty Cho thuê tài chính TNHH MTV Ngân hàng TMCP Công thương  
Việt Nam, hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.  
Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra cho các TCTD nói chung và các công ty cho thuê tài  
chính Việt Nam nói riêng trước những thách thức lớn và sự cạnh tranh vô cùng  
khốc liệt, đòi hỏi các TCTD phải tăng cường nội lực, hoàn thiện về nhiều mặt như  
vốn, công nghệ, trình độ quản lý, sản phẩm, dịch vụ,… trong quá trình hoạt động.  
Điều này đòi hỏi các TCTD phải tự đánh giá được năng lực của bản thân để từ đó  
nhằm đón đầu vận hội cũng như hạn chế đến mức thấp nhất các ảnh hưởng xấu do  
cạnh tranh gay gắt trên thương trường và sự biến động theo chiều hướng ngày càng  
phức tạp của thị trường tài chính nói riêng, của nền kinh tế nói chung.  
Vậy hiện tại năng lực cạnh tranh của Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP  
Công thương Việt Nam như thế nào? Cần có những giải pháp gì để nâng cao năng  
lực cạnh tranh của Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP Công thương Việt  
Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế? Đó là lý do tôi chọn đề tài “Đánh giá năng  
lực cạnh tranh của Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP Công thương Việt  
Nam”.  
 
2
Mục tiêu nghiên cứu  
Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP  
Công thương Việt Nam hiện nay.  
Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty  
Cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam trong thời gian tới.  
Đối tƣợng nghiên cứu  
Những lý luận về cạnh tranh trong hoạt động CTTC.  
Thực trạng năng lực cạnh tranh của của Công ty Cho thuê tài chính Ngân  
hàng TMCP Công thương Việt Nam hiện nay.  
Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của của Công ty Cho thuê tài  
chính Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam hiện nay.  
Phƣơng pháp nghiên cứu  
Luận văn được thực hiện dựa trên một số phương pháp như sau:  
Thu thập số liệu từ các báo cáo của Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng  
TMCP Công thương Việt Nam, các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà  
nước, thông tin báo đài…  
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp giữa phân tích và tổng  
hợp, giữa nghiên cứu lý thuyết và phân tích thực tiễn, phương pháp thu thập  
số liệu, so sánh.  
Phân tích số liệu, đánh giá số liệu về số tuyệt đối, số tương đối của các chỉ  
tiêu phân tích từ số liệu có được, từ đó đưa ra nhận xét đánh giá từ tổng quát  
đến chi tiết của vấn đề.  
Phạm vi nghiên cứu  
Dữ liệu nghiên cứu: Thời gian hoạt động của Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng  
TMCP Công thương Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2012.  
       
3
Nội dung nghiên cứu  
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cho thuê tài  
chính.  
Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cho thuê tài chính Ngân  
hàng TMCP Công thương Việt Nam.  
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cho thuê tài chính  
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.  
 
4
CHƢƠNG 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH  
CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH  
1.1  
Cơ sở lý luận về cạnh tranh  
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh  
Thực tế có nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh, nhìn ở góc độ đơn giản thì  
cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm vì  
mục đích giành được sự tồn tại, lợi nhuận, địa vị, phần thưởng hay những thứ khác.  
Theo Michael Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới  
hiện nay thì cạnh tranh là giành lấy thị phần, bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi  
nhuận cao nhất, cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết  
quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều  
hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (Micheal Porter, 2006).  
Ngày nay, hầu như tất cả các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và xem  
cạnh tranh không chỉ tác động thúc đẩy sự phát triển mà còn là yếu tố quan trọng  
lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế - xã hội, tạo động lực cho nền kinh tế thị trường.  
Vì vậy, khái niệm tổng quát về cạnh tranh có thể được hiểu là cuộc đấu tranh gay  
gắt giữa các chủ thể tham gia thị trường nhằm để sinh tồn, phát triển; theo đó các  
chủ thể kinh tế phải huy động cả nội lực và ngoại lực của mình nhằm giành được ưu  
thế trên thương trường với mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận (Tăng Duy Sum, 2012).  
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh  
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi  
là động lực của sự phát triển không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp mà cả  
nền kinh tế nói chung.  
Đối với doanh nghiệp  
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, cạnh  
tranh có những vai trò sau:  
       
5
Cạnh tranh được coi như là cái “sàng” để lựa chọn và đào thải doanh nghiệp.  
Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh  
tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp  
tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.  
Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt đầu  
từ việc nghiên cứu thị trường để xác định được nhu cầu thị trường, từ đó ra  
các quyết định sản xuất kinh doanh để đáp ứng các nhu cầu đó.  
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng  
cao hơn để đáp ứng nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng.  
Đối với nền kinh tế  
Cạnh tranh được coi như là “linh hồn” của nền kinh tế, vai trò của cạnh tranh đối  
với nền kinh tế thể hiện ở những mặt sau:  
Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành  
phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xoá bỏ những độc quyền,  
bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh.  
Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng  
cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh những nhu cầu  
mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và phát triển nền kinh tế.  
Cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho doanh  
nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài.  
Cạnh tranh giúp cho nền kinh tế có nhìn nhận đúng hơn về kinh tế thị trường,  
rút ra được những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tế thị trường.  
Bên cạnh những tác dụng tích cực, cạnh tranh cũng làm xuất hiện những hiện tượng  
tiêu cực như làm hàng giả, buôn lậu trốn thuế… gây nên sự bất ổn trên thị trường,  
làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước và của người tiêu dùng. Vì vậy, phát huy  
những yếu tố tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của cạnh tranh không chỉ là  
nhiệm vụ của nhà nước, doanh nghiệp mà là nhiệm vụ chung của toàn xã hội.  
6
1.1.3 Phân loại cạnh tranh  
1.1.3.1 Căn cứ vào chủ thể tham gia  
Cạnh tranh giữa người bán và người mua  
Là cuộc cạnh tranh giữa người bán và người mua diễn ra theo quy luật mua rẻ bán  
đắt trên thị trường. Người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất,  
ngược lại người mua muốn mua với giá thấp nhất. Giá cuối cùng là giá thống nhất  
giữa người mua và người bán sau một quá trình mặc cả với nhau.  
Cạnh tranh giữa những người mua với nhau  
Là cuộc cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu. Khi lượng cung một loại hàng hoá,  
dịch vụ nào đó quá thấp so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh giữa những  
người mua sẽ trở nên quyết liệt. Lúc đó giá cả hàng hoá, dịch vụ sẽ tăng vọt nhưng  
do hàng hoá khan hiếm nên người mua vẫn sẵn sàng trả giá cao cho hàng hoá mình  
cần. Kết quả, người bán thu được lợi nhuận cao còn người mua thì bị thiệt.  
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau  
Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất, chiếm đa số trên thị trường. Thực  
tế cho thấy khi sản xuất hàng hoá càng phát triển càng có nhiều người bán dẫn đến  
cạnh tranh ngày càng quyết liệt hơn. Giá là yếu tố thứ nhất của cạnh tranh, đây là  
hình thức cạnh tranh được sử dụng nhiều nhất. Khi nhu cầu con người phát triển cao  
hơn thì yếu tố chất lượng sản phẩm chiếm vị trí chính yếu. Đến nay, một khi các  
doanh nghiệp lớn có với nhau sự cân bằng về giá cả thì yếu tố thời gian và tổ chức  
tiêu thụ sản phẩm là quan trọng nhất.  
1.1.3.2 Căn cứ vào phạm vi ngành  
Cạnh tranh giữa các ngành  
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu  
được lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu tư bỏ ra đầu tư vào  
ngành khác. Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến doanh nghiệp đang kinh doanh  
trong ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp chuyển sang kinh doanh ở ngành có tỷ suất lợi  
nhuận cao hơn.  
     
7
Cạnh tranh trong nội bộ ngành  
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá  
hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này các doanh nghiệp thôn tính lẫn  
nhau, doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị  
trường, doanh nghiệp thất bại sẽ thu hẹp phạm vi kinh doanh, thậm chí phá sản.  
1.1.3.3 Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trƣờng  
Cạnh tranh hoàn hảo  
Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có một số lớn doanh nghiệp nhỏ sản xuất và bán ra  
một loại hàng hoá, dịch vụ giống hệt nhau; số lượng hàng hóa của từng doanh  
nghiệp quá nhỏ so với tổng số hàng hoá trên thị trường; không có trở lực gì quan  
trọng ảnh hưởng đến việc gia nhập vào một thị trường hàng hoá.  
Cạnh tranh không hoàn hảo  
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là tình trạng cạnh tranh bình thường vì nó  
phổ biến trong điều kiện hiện nay. Đây là thị trường mà phần lớn các sản phẩm là  
không đồng nhất. Cùng sản phẩm có thể chia làm nhiều thứ loại, nhiều chất  
lượng...Sản phẩm tương tự có thể được bán với nhiều nhãn hiệu khác nhau, mỗi  
nhãn hiệu đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau. Người bán có thể có uy tín, độc  
đáo riêng biệt đối với người mua do nhiều lý do khác nhau: khách hàng quen, tạo  
được lòng tin...hay cách thức quảng cáo cũng có thể ảnh hưởng tới người mua, làm  
người mua thích mua sản phẩm của nhà cung ứng này hơn sản phẩm của nhà cung  
ứng khác.  
Đường cầu của thị trường là đường không co giãn. Người bán có thể thu hút khách  
hàng bởi nhiều cách: quảng cáo, khuyến mại, phương thức bán hàng, cung cấp dịch  
vụ, tín dụng, hoặc có nhiều điều khoản ưu đãi... Do đó, trong giá có sự phân biệt,  
xuất hiện hiện tượng nhiều giá. Có thể nói giá cả lên xuống thất thường tùy khu  
vực, tùy nguồn cung ứng, tùy người mua.  
 
8
Cạnh tranh độc quyền  
Thị trường độc quyền có một số đặc điểm sau:  
Là thị trường mà ở đó chỉ có duy nhất một người mua (Độc quyền mua) hoặc  
một người bán (Độc quyền bán). Chính sách của thị trường này là định giá  
cao và sản lượng hàng hoá ít.  
Độc quyền trong sản xuất kinh doanh là lợi thế lớn nhất đối với nhà độc  
quyền, song về mặt xã hội thì nó kìm hãm sự phát triển sản xuất, làm thiệt  
hại lợi ích người tiêu dùng.  
Cạnh tranh độc quyền  
Trong thị trường cạnh tranh độc quyền, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng  
việc bán sản phẩm phân biệt, các sản phẩm có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao  
nhưng không phải là thay thế hoàn hảo. Một số khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn  
cho sản phẩm mình thích vì những lý do về chất lượng, hình dáng, thương hiệu...  
Nhà sản xuất định giá nhưng không thể tăng giá một cách bất hợp lý, về dài hạn thì  
không thể trở thành thị trường độc quyền được. Cạnh tranh độc quyền sử dụng các  
hình thức cạnh tranh phi giá như quảng cáo, phân biệt sản phẩm.  
Độc quyền tập đoàn  
Trong thị trường độc quyền tập đoàn, sản phẩm có thể giống nhau hoặc khác nhau  
và chỉ có một số doanh nghiệp sản xuất toàn bộ hay hầu hết toàn bộ tổng sản lượng.  
Tính phụ thuộc giữa các doanh nghiệp là lớn, hành vi của doanh nghiệp này ảnh  
hưởng tới doanh nghiệp khác. Nếu một doanh nghiệp giảm giá sẽ dẫn đến tình trạng  
phá giá do các doanh nghiệp dễ kết cấu với nhau. Nhưng vì cạnh tranh bằng giá  
không có lợi do vậy người ta chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm, đa  
dạng hoá sản phẩm. Trong thị trường độc quyền tập đoàn, một số hoặc tất cả các  
doanh nghiệp đều thu hút được lợi nhuận đáng kể trong dài hạn thì có các hàng rào  
gia nhập làm cho các doanh nghiệp mới không thể hoặc khó gia nhập thị trường.  
9
1.2  
Năng lực cạnh tranh của công ty CTTC  
1.2.1 Tổng quan về hoạt động CTTC  
1.2.1.1 Khái niệm về CTTC  
Theo nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt động của  
CTTC thì CTTC là một hoạt động cấp tín dụng trung dài hạn thông qua việc cho  
thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác. Bên cho thuê  
cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản theo yêu  
cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu tài sản thuê. Bên đi thuê được sử dụng  
tài sản thuê và phải thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên  
thỏa thuận và không được hủy bỏ hợp đồng trước hạn.  
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền sở hữu tài sản thiết bị nếu giá trị tài  
sản đã được bên thuê thanh toán hết hoặc tiếp tục thuê tài sản theo các điều kiện đã  
thỏa thuận trong hợp đồng thuê.  
1.2.1.2 Các hoạt động chính của công ty CTTC  
Huy động vốn  
Công ty CTTC được huy động vốn từ các nguồn sau:  
Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo  
các quy định của Ngân hàng Nhà nước;  
Phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác có kỳ  
hạn trên một năm để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và  
ngoài nước khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận;  
Vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước;  
Nhận các nguồn vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.  
Cho thuê tài chính  
       
10  
Mua và cho thuê lại  
Theo hình thức này, công ty CTTC mua lại máy móc, thiết bị, phương tiện  
vận chuyển và các động sản thuộc sở hữu của bên thuê và cho bên thuê thuê  
lại chính các tài sản đó để tiếp tục sử dụng phục vụ cho hoạt động của mình.  
Cho thuê vận hành  
Bên thuê sử dụng tài sản cho thuê của công ty CTTC trong một thời gian  
nhất định và sẽ trả lại tài sản đó cho công ty CTTC khi kết thúc thời hạn thuê  
tài sản.  
Tư vấn cho khách hàng về những vấn đề có liên quan đến nghiệp vụ cho thuê  
tài chính.  
Thực hiện các dịch vụ ủy thác, quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến hoạt  
động cho thuê tài chính.  
Các hoạt động khác khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.  
1.2.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của công ty CTTC  
Năng lực cạnh tranh thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ  
cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận  
ngày càng cao bằng việc khai thác, sử dụng nội lực và ngoại lực nhằm tạo ra những  
sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng.  
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra bởi các nhân tố nội hàm của mỗi  
doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ được thể hiện bằng các tiêu chí về tài  
chính, nhân lực, tổ chức quản trị, công nghệ mà còn gắn liền với ưu thế của sản  
phẩm đưa ra thị trường, với thị phần mà doanh nghiệp đang nắm giữ.  
Theo báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới do các  
giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia  
của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng thì năng lực cạnh tranh  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 89 trang yennguyen 15960 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_danh_gia_nang_luc_canh_tranh_cua_cong_ty_cho_thue_t.pdf