Luận văn Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương án nạo vét đến chế độ thủy động lực cửa Đà Diễn

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN  
---------------------  
Lê Văn Linh  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG ÁN NẠO VÉT  
ĐẾN CHẾ ĐỘ THỦY ĐỘNG LỰC CỬA ĐÀ DIỄN  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC  
Hà Nội –2017  
0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN  
---------------------  
Lê Văn Linh  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG ÁN NẠO VÉT  
ĐẾN CHẾ ĐỘ THỦY ĐỘNG LỰC CỬA ĐÀ DIỄN  
Chuyên ngành: Thủy văn học  
Mã số: 60440224  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN TIỀN GIANG  
Hà Nội –2017  
1
LỜI CẢM ƠN  
Luận văn được thực hiện trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Khoa Khí  
tượng, Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, khóa học  
2015 – 2017. Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã  
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và gia đình.  
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS. Nguyễn  
Tiền Giang. Tác giả xin chân thành cảm ơn tới thầy hướng dẫn đã giúp đỡ, chỉ bảo,  
hỗ trợ học viên trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.  
Xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước: “Nghiên cứu cơ  
sở khoa học để xác định cơ chế bồi lấp, sạt lở và đề xuất các giải pháp ổn định các  
cửa sông Đà Diễn và Đà Nông tỉnh Phú Yên phục vụ phát triển bền vững cơ sở hạ  
tầng và kinh tế xã hội” mã số ĐTĐL.CN.15/15 do Trường Đại học Khoa học Tự  
nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì, đã cung cấp số liệu, tài liệu cũng như hỗ trợ  
tôi trong quá trình nghiên cứu.  
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị em trong nhóm “G’Group” đã  
giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn. Xin gửi lời cảm ơn các thầy cô  
giáo, cán bộ Khoa Khí tượng – Thủy văn – Hải dương học – Đại học Tự nhiên, Đại  
học Quốc Gia Hà Nội đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện và hướng  
dẫn tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn.  
Tác giả cũng chân thành cảm ơn tới các anh chị đồng nghiệp, bạn bè tại Viện  
Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu đã hỗ trợ chuyên môn, và thời  
gian để luận văn được hoàn thành.  
Do thời gian và kiến thức hạn chế, luận văn chắc không tránh khỏi thiếu sót.  
Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè, đồng  
nghiệp, các nhà khoa học và độc giả để luận văn được hoàn thiện hơn.  
Xin trân trọng cảm ơn!  
Tác giả  
Lê Văn Linh  
2
MỤC LỤC  
1
 
2
DANH MỤC HÌNH  
4
 
5
6
7
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của luận văn  
Sông Ba (phía hạ nguồn còn gọi là sông Đà Rằng) thuộc tỉnh tỉnh Phú Yên là  
con sông lớn nhất khu vực Nam Trung bộ với chiều dài dòng chính là 380km. Sông  
Ba bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô (Kon Tum) cao 1.549 m chảy qua tỉnh Kon Tum  
và Gia Lai theo hướng Bắc Nam, bắt đầu chuyển sang hướng Tây Bắc - Đông Nam  
từ huyện Krông Pa của Gia Lai rồi chuyển sang hướng Tây Đông từ địa phận tỉnh  
Phú Yên, cuối cùng đổ vào biển Đông ở cửa biển Đà Rằng thuộc thành phố Tuy  
Hòa. Với diện tích lên đến 13.900 km2, lưu vực sông Ba là lưu vực sông lớn nhất  
khu vực Nam Trung Bộ.  
Hiện nay, cửa Đà Diễn đang được dùng làm cảng cá và nơi neo đậu của trên  
dưới 900 tàu khai thác hải sản xa bờ và câu cá ngừ đại dương. Nơi đây cũng là trung  
tâm mua bán cá ngừ đại dương lớn nhất khu vực duyên hải miền Trung.  
Từ năm 2006 đến nay, cửa Đà Diễn liên tục bồi lấp nghiêm trọng, làm giảm  
độ sâu mực nước, thu hẹp cửa sông gây khó khăn cho tàu thuyền ra vào. Trong  
những ngày biển động, sóng lớn đã làm cho cửa sông tiếp tục bị cát bồi lấp nghiêm  
trọng khiến cho hàng trăm tàu thuyền không thể xuất bến đi khai thác hải sản hoặc  
khi trở về bị mắc cạn ở phía ngoài cửa sông, không thể vào cảng. Cùng với tình  
trạng bồi lấp làm cho lòng dẫn bị thu hẹp, dòng chảy từ thượng nguồn đổ về với  
cường suất lớn, tốc độ mạnh, khiến nhiều tàu đánh cá bị trượt neo trôi tự do ra biển,  
va chạm nhau rất nguy hiểm và có những năm như năm 2008 việc va chạm này gây  
thiệt hại hàng trăm triệu đồng cho bà con ngư dân.  
Để giảm tình trạng bồi lấp cửa Đà Diễn, hàng năm chính quyền địa phương  
đã tổ chức hút cát, nạo vét cửa sông. Theo thống kê của Sở TNMT tỉnh Phú Yên  
đến thời điểm tháng 6/2017 đã có 9 doanh nghiệp được Ủy ban Nhân dân tỉnh cấp  
phép khai thác với tổng khối lượng khai thác cấp phép lên đến 1,5 triệu tấn.  
Tuy nhiên, đến thời điểm này, việc đánh giá một cách tổng thể các tác động  
của việc khai thác, nạo vét cát tại cửa Đà Diễn vẫn chưa được thực hiện một cách  
9
 
tổng thể. Chính vì vậy chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của các  
phương án nạo vét đến chế độ thủy động lực cửa Đà Diễn” nhằm đánh giá một số  
ảnh hưởng của các phương án nạo vét, khai thác cát đến chế độ thủy động lực tại  
khu vưc cửa Đà Diễn.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu tổng quát của luận văn là đánh giá sự thay đổi chế độ thủy động lực  
khu vực cửa sông Đà Diễn do ảnh hưởng của hoạt động nạo vét, khai thác cát.  
Thực hiện mục tiêu tổng quát nêu trên, mục tiêu cụ thể được đặt ra là:  
- Nghiên cứu hiện trạng thủy động lực cửa Đà Diễn;  
- Đánh giá ảnh hưởng hoạt động nạo vét đến chế độ thủy động lực cửa  
Đà Diễn bằng mô hình toán.  
3. Phạm vi nghiên cứu  
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là khu vực cửa Đà Diễn, tỉnh Phú Yên.  
4. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp kế thừa: Kế thừa những số liệu, phương pháp, kết quả đã đạt  
được từ các nghiên cứu từ trước phục vụ cho các nghiên cứu của đề tài  
Phương pháp mô hình toán: ứng dụng mô hình toán đánh giá các ảnh hưởng  
của việc nạo vét, khai thác cát đến chế độ thủy động lực.  
5. Cấu trúc luận văn  
Luận văn có bố cục gồm 3 chương chính cùng với phần mở đầu, kết luận và  
tài liệu tham khảo. Cụ thể:  
Chương 1. Tổng quan  
Chương 2. Phương pháp nghiên cứu và số liệu  
Chương 3. Ảnh hưởng của hoạt động nạo vét đến chế độ thủy động lực cửa  
Đà Diễn  
Kết luận  
Tài liệu tham khảo.  
10  
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN  
1.1. TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU  
1.1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên [2 -4]  
1.1.1.1. Vị trí địa lý  
Lưu vực sông Ba là một trong những lưu vực lớn nhất khu vực miền Trung,  
với tổng diện tích lưu vực là 13.900 km2, có tọa độ địa lý lý từ 12o35' đến 14038' vĩ  
độ Bắc và từ 108o00' đến 109o55' kinh độ Đông. Phía Bắc giáp lưu vực sông Trà  
Khúc, phía Tây và Nam giáp lưu vực sông Cái (Nha Trang) và sông Srepk, phía  
Đông giáp lưu vực sông Kone, sông Kỳ Lộ và biển Đông. Diện tích tự nhiên toàn  
lưu vực nằm trên địa phận hành chính của 15 huyện, thị thuộc 3 tỉnh Gia Lai, Đak  
Lăk và Phú Yên bao gồm hầu hết diện tích đất đai các huyện K‘bang, An Khê,  
KonchRô, Mưang Yang, A. Yunpa, K.Rông Pa, K.Rông H Năng, Mưa Rak, Sơn  
Hoà, sông Hinh, Tuy Hoà và một phần diện tích các huyện Chư Sê, Ea H Leo,  
Krông Buk, Eaka. Tổng diện tích đất nông nghiệp trên 350 ngàn ha và tổng dân số  
trên lưu vực khoảng 1,5 triệu người.  
Hình 1.1. Lưu vực sông Ba  
11  
         
1.1.1.2. Đặc điểm địa hình  
Địa hình lưu vực sông Ba khá phức tạp, bị chia cắt mạnh mẽ bởi sự chi phối  
của dãy Trường Sơn. Đường phân thuỷ của lưu vực có độ cao từ (500- 2000m) bao  
bọc 3 phía: Bắc, Đông, Nam và chỉ được mở rộng về phía Tây với cao nguyên  
Pleiku, Mưang Yang, Chư Sê; đồng thời mở ra biển qua vùng đồng bằng Tuy Hoà.  
Đường phân thủy phía Đông Bắc lưu vực thuộc dải Trường Sơn có độ cao từ 600-  
1.300m chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đến đèo An Khê sau đó chuyển  
hướng và kết thúc ở thượng nguồn sông Cà Lúi, sông Con ở độ cao (600- 700m).  
Phía Nam là dãy núi Phượng Hoàng chạy sát ra biển theo hướng Đông Bắc đến Tây  
Nam và kết thúc tại đèo Cả có cao độ biến đổi (600-2000m). Hai dãy núi phía Đông  
và phía Nam của lưu vực tạo thành bức tường chắn gió, cản trở việc hoạt động của  
hướng gió Đông và Đông Nam. Phía Tây Bắc có các đỉnh núi cao hơn ở phía Đông,  
nhưng bị chia cắt nhiều. Độ cao các đỉnh núi biến động từ (700-1.700m) và chạy  
theo hướng Bắc Nam. Các đỉnh cao có thể kể đến là: đỉnh Ngọc Rô cao 1549m,  
đỉnh Kon Ka Kinh cao 1761m, đỉnh Chư Rơ Pan cao 1571m. Đến khu vực Cheo  
Reo, độ cao các đỉnh núi thấp dần chỉ còn khoảng 300-400m. Do các dãy núi phía  
Tây bị chia cắt mạnh và không liên tục đã hình thành trên lưu vực các thung lũng  
An Khê, Cheo Reo, Phú Túc và vùng đồng bằng hạ lưu.  
Dưới tác động của các yếu tố địa hình phức tạp có thể chia lưu vực thành 5  
vùng địa hình:  
- Vùng núi cao: chiếm 60% diện tích lưu vực. Độ cao bình quân trong vùng  
này (600-800m), địa hình có độ dốc từ thoải đến rất dốc.  
- Vùng thung lũng: kéo dài từ An Khê đến Phú Túc. Cao độ phổ biến ở thung  
lũng An Khê (400-500m), thung lũng Cheo Reo (150-200m) và Phú Túc (100-  
150m). - Vùng cao nguyên: có độ cao phổ biến từ (300-500m).  
- Vùng gò đồi: chủ yếu là vùng An Khê, Sơn Hoà, hạ lưu sông Hinh và lưu  
vực sông Krông H Năng.  
12  
 
- Vùng đồng bằng: tập trung ở hạ lưu sông Ba, Phú Yên. Phía Đông khu vực  
này là Biển Đông, ba mặt còn lại đều giáp núi (dãy Cù Mông ở phía Bắc, dãy Vọng  
Phu - Đèo Cả ở phía Nam, phía Tây là rìa đông của dãy Trường Sơn).  
Do vị trí địa lý và ảnh hưởng của địa hình nên vùng hạ du lưu vực sông Ba  
thường xuyên chịu tác động mạnh của các yếu tố tự nhiên như mưa, gió, sóng, bão,  
áp thấp nhiệt đới, phân bố bồi tích không đều … gây nên lũ lụt, bồi lấp, xói lở khu  
vực cửa sông.  
Mặt khác, những hoạt động kinh tế như khai thác tài nguyên rừng, khoanh  
đắp các đầm nuôi hải sản, các công trình dân sinh, thủy lợi, thủy điện… làm thay  
đổi chế độ dòng chảy và lượng bùn cát từ sông đổ ra biển. Hiện nay, phía thượng  
nguồn rừng bị tàn phá làm suy thoái và cạn kiệt dòng chảy mùa vào khô ở hạ lưu  
dẫn đến suy thoái hệ sinh thái, giảm nguồn lợi thuỷ sản, thay đổi vận chuyển bùn  
cát của sông, nhiễm mặn và suy giảm chất lượng nước,…  
1.1.1.3. Đặc điểm địa chất thổ nhưỡng  
Địa tầng: tham gia vào cấu trúc lãnh thổ tỉnh Phú Yên có mặt khá đa dạng  
các thành tạo trầm tích, trầm tích biến chất và phun trào có tuổi từ Proterozoi đến  
Kanozoi, theo thứ tự từ già đến trẻ gồm các phân vị địa tầng sau: giới Proterozoi,  
Paleozoi, Merozoi, Kainozoi. Mác ma xâm nhập: trong phạm vi tỉnh Phú Yên phát  
triển khá phong phú và đa dạng cả về không gian lẫn thời gian, chiếm trên 50% diện  
tích tự nhiên và có các phức hệ Bến Giằng- Quế Sơn, Vân Canh, Tây Ninh, Định  
Quán, Đèo Cả, Cà NáPha 1, Phan Rang, Cù Mông. Đặc điểm cấu trúc kiến tạo: hệ  
thống đứt gãy theo phương Đông Bắc -Tây Nam, điển hình là đứt gãy Vĩnh Long -  
Trung Hòa. Hệ thống đứt gãy theo phương Tây Bắc - Đông Nam gồm nhiều đứt gãy  
quy mô nhỏ - vừa, điển hình là đứt gãy sông Ba, sông Kỳ Lộ. Hệ thống đứt gãy theo  
phương á kinh tuyến là đứt gãy quy mô nhỏ -vừa, phát triển chủ yếu ở phía Bắc.  
Đất đai Phú Yên được hình thành trên mẫu đất phù sa và ba loại đá chính là:  
Granit, Ba Zan, trầm tích.  
13  
 
Đất cát ven biển: chiếm 2,6% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo bờ biển.  
Thành phần cơ giới chủ yếu là cát, khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém.  
- Đất nhiễm mặn: chiếm 1,4% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở Hòa  
Tâm, Hòa Hiệp, Hòa Xuân và dọc ven biển từ Sông Cầu đến cửa Đà Rằng.  
- Đất phù sa: chiếm 9,8% diên tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở huyện Phú  
Hòa, huyện Tuy Hòa, Tuy An, Đồng Xuân, sông Cầu.  
- Đất xám: chiếm 6,9% diện tích tự nhiên được phân bố từ địa hình trung  
gian nơi tiếp giáp vùng núi và vùng thấp có địa hình chia cắt trung bình, tương đối  
bằng phẳng tập trung ở Sơn Hòa, Đồng Xuân, Sông Hinh và phía tây huyện Phú  
Hòa.  
- Đất đen: chiếm 3,5% diện tích, phân bố ở phía nam huyện Tuy An, xã Bình  
Kiến, huyện Sông Hinh và một phần huyện Sơn Hòa.  
- Đất đỏ vàng: chiếm 65% diện tích tự nhiên phân bố đều khắp ở vùng đồi  
núi.  
Ở lưu vực sông Ba, các thành phần trạng thái đặc trưng của đất đá, có các  
đặc tính chủ yếu tương ứng sau:  
- Đất có thành phần và trạng thái đặc biệt: Chứa vật chất hữu cơ 5 – 75%, độ  
ẩm cao, hệ số lỗ rỗng ε < 1, góc ma sát nhỏ φ = 4 – 6o, sức chống nén không đáng  
kể, lực dính kết khoảng C = 0,08 – 0,1 kg/cm2.  
- Đất rời: Thành phần hạt thay đổi trong phạm vi rộng, độ ẩm tương đối thấp,  
hệ số rỗng ε = 0,5 – 0,7, góc ma sát φ = 27 – 40o, sức chống nén không đáng kể, lực  
kết dính nhỏ C = 0,001 – 0,01 kg/cm2, tính nén lún thấp a = 0,001 – 0,04 cm2/kg.  
- Đất dính: Thành phần chủ yếu là sét, sét pha, độ ẩm tương đối cao, hệ số lỗ  
rỗng lớn ε > 1,3, góc ma sát trong φ = 20 – 30o, lực dính kết C = 0,1 – 0,7 kg/cm2,  
tính nén lún cao a = 0,01 – 0,121 cm2/kg.  
14  
- Đá nửa cứng: Cường độ kháng nén Rn = 40 – 865 kg/cm2. Cường độ kháng  
kéo Rk = 5 – 100 kg/cm2. Góc ma sát trong φ = 29 – 36o; lực dính kết C = 10 – 300  
kg/cm2.  
- Đá cứng: Cường độ kháng nén Rn = 1000 – 1500 kg/cm2. Cướng độ kháng  
kéo Rk = 80 – 150 kg/cm2. Góc ma sát trong φ = 29 – 36o; lực dính kết C = 310 –  
450 kg/cm2.  
1.1.1.4. Đặc điểm khí hậu  
a. Chế độ gió:  
Nghiên cứu chuỗi số liệu quan trắc gió tại trạm Tuy Hoà, Miền Tây và Sơn  
Hòa (Phú Yên) có chiều dài 20 năm từ năm 1987 đến năm 2007 (bảng 1.1), cho  
thấy vào mùa đông (từ tháng X, XI đến tháng III, IV năm sau) gió ở khu vực Phú  
Yên và cửa Đà Diễn có hướng thịnh hành nhất là hướng Bắc (tần suất 50 - 60%).  
Sau đó là gió Đông Bắc với tần suất 30 - 45%. Vào cuối mùa đông còn xuất hiện  
gió Đông với tần suất dưới 30%.  
Bảng 1.1. Tần suất (%) và hướng gió thịnh hành khu vực Phú Yên  
Tháng\Trạm  
Tuy Hoà  
N - 63,3  
N - 51,4  
N E - 30,2  
E - 37,8  
E - 32,3  
W - 45,2  
W - 44,6  
W - 58,5  
W - 29,6  
NE - 44,7  
N - 50,5  
N - 63,8  
Miền Tây  
NE - 60,4  
NE - 57,6  
NE - 51,0  
NE - 41,1  
W - 35,2  
W - 48,4  
W - 60,6  
Sơn Hoà  
E - 36,4  
E - 43,4  
E - 42,3  
E - 35,3  
W - 31,1  
W - 31,1  
W - 64,0  
W - 63,7  
W - 45,5  
E - 28,5  
NE - 31,2  
NE - 40,3  
I
II  
III  
IV  
V
VI  
VII  
VIII  
IX  
X
W - 64,2  
W - 51,4  
NE - 52,8  
NE - 69,1  
NE - 66,0  
XI  
XII  
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia)  
15  
   
Từ tháng VI đến tháng IX gió mùa mùa hạ phát triển mạnh, toàn lãnh thổ  
Phú Yên thịnh hành gió Tây với tần suất 30 - 65%, tháng VIII tần suất gió Tây lớn  
nhất trong năm. Từ cuối tháng IX, gió mùa mùa hạ bắt đầu bước vào thời kỳ suy  
thoái, đồng thời cũng là thời kỳ tranh chấp của hai thứ gió mùa.  
Có thể nói chế độ gió ở Phú Yên thể hiện hai mùa rõ rệt, mùa mưa là thời kỳ  
thịnh hành gió Bắc (Bắc, Đông Bắc và Đông); mùa khô là thời kỳ thịnh hành gió  
hướng Tây.  
Tốc độ gió trung bình năm dao động trong khoảng 2 - 2,5 m/s. Nhìn chung  
các tháng mùa hè tốc độ gió trung bình lớn hơn mùa đông. Tốc độ gió trong bình  
lớn nhất vào tháng V, VI và nhỏ nhất vào tháng XII hoặc tháng I.  
b. Chế độ mưa  
Mưa là một yếu tố chính của khí hậu, thủy văn, là một trong những thành  
phần của cán cân nước. Phú Yên có nền nhiệt độ cao nên mưa là nhân tố quan trọng  
chi phối thời vụ, cơ cấu cây trồng, năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp,  
đặc biệt là các vùng sản xuất còn lệ thuộc vào nước trời. Lượng mưa trung bình  
nhiều năm biến đổi từ 1.300 mm đến 2.200 mm, mưa ít nhất tại các vùng khuất gió  
như Cheo Reo, Phú Túc và mưa nhiều nhất là thượng nguồn sông Hinh và thượng  
nguồn sông Ba.  
Mùa mưa trên lưu vực sông Ba giữa khu vực Tây và Đông Trường Sơn có  
khác nhau, ở Tây Trường Sơn mùa mưa từ tháng V đến tháng X, còn Đông Trường  
Sơn là từ tháng IX đến tháng XII. Vì vậy dòng chảy mặt lưu vực sông Ba là phong  
phú, tính đến Tuy Hòa (diện tích 13.900 km2) thì tổng lượng nước trung bình nhiều  
năm khoảng 9,8 tỷ m3. Tuy nhiên lượng nước này phân bố không đều trong năm kết  
hợp với ảnh hưởng của địa hình tạo ra mùa mưa lớn (dễ gây lũ lụt) và mùa khô  
thiếu nước.  
16  
Hình 1.2. Bản đồ phân bố lượng mưa  
mùa mưa [4]  
Hình 1.3. Bản đồ phân bố lượng mưa mùa  
khô [4]  
Bảng 1.3. Lượng mưa trung bình nhiều năm các tháng (mm)  
Trạm Tháng  
Phú Lạc  
I
II III IV  
V
VI VII VIII IX  
X
XI XII  
48  
72  
46  
58  
22  
23  
21  
31  
43  
59  
26  
20  
47  
40  
21 43 33 80  
28 56 45 109  
17 54 52 124  
21 68 65 155  
10 34 36 125  
10 36 38 132  
48 36  
80 58  
100 77  
125 97  
106 80  
112 84  
113 75  
75 63  
104 87  
74 44  
81 34  
61 26  
60 42  
56 39  
49  
63  
76  
95  
245 637 517 258  
246 679 614 324  
235 621 563 272  
237 626 567 274  
Hòa Đồng  
Sơn Thành  
Sông Hinh  
Miền Tây  
Sơn Hòa  
107 213 447 409 155  
113 209 469 402 152  
106 180 487 399 154  
Củng Sơn  
Hà Bằng  
9
38 35 89  
12 26 35 112  
17 36 48 155  
26 34 31 96  
11 13 30 83  
77  
225 517 462 159  
Xuân Lãnh  
Cù Mông  
Sông Cầu  
Chí Thạnh  
Tuy Hòa  
107 239 550 491 169  
81  
66  
50  
56  
51  
269 594 607 315  
244 534 487 193  
226 495 452 179  
288 656 549 215  
267 612 498 200  
8
10 23 62  
18 35 30 94  
19 32 30 89  
Phú Lâm  
(Nguồn: Đài KTTV Khu vực NTB)  
17  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 108 trang yennguyen 15180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương án nạo vét đến chế độ thủy động lực cửa Đà Diễn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_anh_huong_cua_cac_phuong_an_nao_vet_den.pdf