Tóm tắt Luận văn Nhân vật nữ trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà

1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
1.1. Văn học đương đại Việt Nam đã ghi nhận sự hiện diện của  
nhiều cây bút nữ tài năng như Dạ Ngân, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị  
Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Dương Thu Hương, Võ Thị Hảo,  
Phạm Thị Hoài, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích  
Thúy, Phong Điệp… Các nhà văn này đã góp phần không nhỏ làm  
phát triển văn xuôi đương đại trên nhiều phương diện như đề tài, cảm  
hứng sáng tạo, giọng điệu, ngôn ngữ… đưa văn học Việt Nam hòa  
vào dòng chảy của văn học thế giới. Với nhiều trăn trở, say mê, tìm  
tòi và sáng tạo, coi sáng tác là cách để nối dài, mở rộng tầm kích đa  
chiều của cuộc sống ngắn ngủi và khép kín, các nhà văn nữ Việt Nam  
đương đại đã tiếp cận, khai thác hiện thực muôn màu của đời sống  
bằng nhiều cách tân nghệ thuật khá ấn tượng khiến tác phẩm của họ  
đã thật sự tạo ra những dấu nhấn quan trọng và ý nghĩa đối với văn  
học Việt Nam.  
1.2. Truyện ngắn là thể loại được nhiều tác giả Việt Nam  
đương đại lựa chọn để gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình về cuộc  
sống, con người với nhiều góc khuất lấp của nó. Nhờ đặc trưng dung  
lượng vừa đủ của truyện ngắn, các nhà văn nữ có thể phản ánh những  
bộn bề, phức tạp của cuộc sống trên nhiều phương diện, góc cạnh  
khác nhau. Một trong những tâm điểm mà truyện ngắn nữ Việt Nam  
đương đại quan tâm chính là khuôn mặt cuộc sống thời đại mà ở đó  
người phụ nữ thường xuyên được xem là trung tâm của bức tranh  
phản ánh và các nhân vật nữ với sự đa dạng phong phú của những  
cảnh đời, kiếp người, những thân phận cụ thể đã góp phần rất quan  
trọng làm nên thành công cho truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại  
nói riêng và văn học Việt Nam đương đại nói chung.  
2
1.3. Xuất hiện trên văn đàn Việt Nam từ đầu những năm 90  
của thế kỷ XX, Võ Thị Xuân Hà đã nhanh chóng khẳng định tài năng  
của mình bằng những truyện ngắn nhiều ám ảnh. Bằng những tác  
phẩm không quá gân guốc, góc cạnh được tạo ra bởi lối viết nhẹ  
nhàng, tinh tế mà sâu sắc, Võ Thị Xuân Hà đã gửi vào truyện ngắn  
của mình những trăn trở, yêu thương, sự thấu hiểu, đồng điệu và sẻ  
chia sâu sắc đối với phụ nữ. Với nhiều nét tính cách riêng rất cá tính  
và đầy bản lĩnh, các nhân vật nữ trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà  
không chỉ làm nên sự duyên dáng, sức quyến rũ cho truyện ngắn Võ  
Thị Xuân Hà, khẳng định rõ phong cách nghệ thuật của nhà văn mà  
còn góp phần tạo nên sự đa sắc màu diện mạo của truyện ngắn Việt  
Nam đương đại.  
Tìm hiểu Nhân vật nữ trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà,  
chúng tôi hi vọng có thể phát hiện những độc đáo của nhân vật phụ  
nữ trong truyện ngắn của nhà văn đầy cá tính này. Qua đó, chúng tôi  
cũng muốn khẳng định thêm về tài năng của nhà văn qua cách tiếp  
cận, khả năng phản ánh đời sống cũng như sức sáng tạo và những  
đóng góp của chị đối với văn học Việt Nam đương đại ở một chừng  
mực nào đó.  
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề  
Các nhà nghiên cứu đã có khá nhiều ý kiến đánh giá, nhận xét  
về truyện ngắn của nhà văn Võ Thị Xuân Hà.  
Trong đó đáng chú ý hơn cả là những nghiên cứu của các tác  
giả: Thiên Sơn (Võ Thị Xuân Hà-Phong cách đa chiều), Thu Hà  
(Mong được là chính mình), Lê Dục Tú (Đội ngũ nhà văn viết truyện  
ngắn đương đại), Cao Vi và Thùy Dung (Và người ta bắt chim sẻ),  
Thu Hà (Võ Thị Xuân Hà đi tìm bức “tường thành” của tình yêu),  
Hoàng Thụy Anh (Yếu tố kỳ ảo và hiện thực trong tập truyện Vàng  
3
son thạch thủy khí), Bùi Tuấn Ninh (Giọng điệu nghệ thuật trong  
truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà, Thế giới nghệ thuật truyện ngăn Võ Thị  
Xuân Hà), Nguyên Anh (Võ Thị Xuân Hà-Người con của các dòng  
sông), Trần Thị Mai (Bi kịch con người cá nhân trong tập truyện  
ngắn Thế giới tối đen của Võ Thị Xuân Hà)… đã tập trung xem xét,  
đánh giá những thành công của truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà ở nhiều  
góc độ khác nhau như nội dung phản ánh của tác phẩm, yếu tố tự  
truyện, huyền ảo, bi kịch con người cá nhân, ngôn ngữ, giọng điệu,  
không gian, thời gian nghệ thuật… để từ đó khẳng định phong cách  
truyện ngắn cũng như đóng góp của Võ Thị Xuân Hà đối với văn học  
đương đại.  
Mặt khác, các công trình của các tác giả Hà Phạm Phú (Ngôi  
nhà gương của Võ Thị Xuân Hà), Hiền Hòa (Võ Thị Xuân Hà: Viết  
để đỡ đau đớn hơn khi nhìn thực tế), Mai Hiền (Lúa hát – khám phá  
vẻ đẹp của người phụ nữ hiện đại), Văn Giá (Đọc văn của Võ Thị  
Xuân Hà), Bùi Tuấn Ninh (Kiểu nhân vật bản năng trong truyện  
ngắn Võ Thị Xuân Hà), Dương Mai Liên (Ý thức nữ quyền trong văn  
xuôi Võ Thị Xuân Hà)… đã chú ý tới nhân vật nữ trong sáng tác của  
Võ Thị Xuân Hà, đa phần các bài viết đều khẳng định thế giới nhân  
vật nữ trong truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà là một thế giới riêng,  
không lẫn vào ai. Họ có sự xáo trộn giữa cái tốt và cái xấu, rất vị tha  
nhưng cũng khá ích kỷ. Dù sống trong hoàn cảnh nào họ cũng khát  
khao hạnh phúc, yêu thương, luôn hướng về tương lai phía trước.  
Điểm lại những công trình, bài viết trên, chúng tôi nhận thấy, các  
nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các vấn đề khái quát, chưa có công  
trình nào đi sâu tìm hiểu đặc điểm nhân vật nữ trong truyện ngắn của Võ  
Thị Xuân Hà một cách cụ thể, hệ thống. Vì vậy, việc nghiên cứu về  
Nhân vật nữ trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà một cách hệ thống là  
4
một việc làm cần thiết, đáp ứng yêu cầu khoa học, góp phần khẳng  
định giá trị của truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà cũng như những đóng góp  
của nhà văn đối với sự phát triển văn xuôi đương đại Việt Nam.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Những đặc điểm nổi bật của nhân vật nữ trong truyện ngắn Võ  
Thị Xuân Hà làm nên sự đặc sắc, độc đáo cho sáng tác của nhà văn.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Các tập truyện ngắn: Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào, NXB Hội  
nhà văn, Hà Nội (1992); Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà, NXB Phụ  
Nữ, Hà Nội (2002); Đàn sẻ ri bay ngang rừng, NXB Quân đội nhân  
dân, Hà Nội (2005); Chuyện người con gái hát rong, NXB Hội nhà  
văn, Hà Nội (2006); Thế giới tối đen, NXB Phũ Nữ, Hà Nội (2009);  
Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí, NXB Hội nhà văn, Hà Nội  
(2009); Ăn trái đào hái hoa hồng đào, NXB Hội nhà văn, Hà Nội  
(2011); Vàng son thạch thủy khí, NXB Hội nhà văn, Hà Nội (2012);  
Cà phê yêu dấu, NXB Hội nhà văn, Hà Nội (2013); Cành phong  
hương, NXB Hội nhà văn, Hà Nội (2014); Lá bùa, NXB Hội nhà  
văn, Hà Nội (2015).  
4. Phương pháp nghiên cứu  
Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:  
4.1. Phương pháp hệ thống - cấu trúc  
4.2. Phương pháp phân tích - tổng hợp  
4.3. Phương pháp so sánh - đối chiếu  
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng  
thêm một số phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác.  
5. Bố cục của luận văn  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn  
5
gồm 3 chương:  
Chương 1. Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà trong dòng chảy  
truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại.  
Chương 2. Những đặc điểm nổi bật của nhân vật nữ trong  
truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà.  
Chương 3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong truyện ngắn  
Võ Thị Xuân Hà.  
6
CHƯƠNG 1  
TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ XUÂN HÀ TRONG DÒNG CHẢY  
TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI  
1.1. MỘT SỐ ĐIỂM NỔI BẬT CỦA TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT  
NAM ĐƯƠNG ĐẠI  
1.1.1. Mở rộng đề tài  
Sau năm 1986, truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại được mở  
rộng đề tài. Hiện thực đời sống đã đi vào văn học bằng vẹn nguyên  
sự đa chiều vốn có, trong sự ý thức sâu sắc về việc phải soi sáng, cày  
xới cả những phần khuất lấp, mờ tối của nó.  
Chiến tranh, mảnh đất đầy “hấp lực”, vẫn là đề tài được các  
nhà văn nữ khai thác. Họ nhìn chiến tranh với cái nhìn đa diện, nhiều  
chiều. Nhiều truyện ngắn nữ đã tái hiện sinh động cuộc sống với rất  
nhiều tổn thương của những người chịu hậu quả, di chứng chiến  
tranh. Đặc biệt, các nhà văn nữ đã quan tâm nhiều đến số phận của  
những người phụ nữ thời hậu chiến - những “tội nhân” của hoàn cảnh  
chiến tranh. Tiêu biểu Người sót lại của Rừng Cười, Biển cứu rỗi (Võ  
Thị Hảo); Vết chim trời (Nguyễn Ngọc Tư); Bây giờ con mới hiểu,  
Bản lý lịch tự thuật (Y Ban); Xuân Nữ (Dạ Ngân); Đốm lửa (Nguyễn  
Thị Minh Thúy)…  
Bên cạnh đó, truyện ngắn nữ đương đại cũng tập trung khám  
phá và phản ánh hiện thực ở góc nhìn đời tư thế sự. Chính đề tài đời  
tư, thế sự đã được gia tăng khiến sáng tác của các nhà văn nữ đi sát  
với hiện thực cuộc sống con người, khai mở nhiều khía cạnh mới tạo  
nên những giá trị nghệ thuật đáng trân trọng. Tiêu biểu như Trăng  
nơi đáy giếng, Biển đời người (Trần Thùy Mai); Chuyện người con  
gái hát rong, Cành phong hương (Võ Thị Xuân Hà); Nàng tiên xanh  
7
xao, Dây neo trần gian (Võ Thị Hảo); Họ và lão, Nước mắt khô (Quế  
Hương); Cơn mưa cuối mùa (Lê Minh Khuê)…  
1.1.2. Chú trọng đời sống nội tâm con người.  
Các nhà nữ đã chú trọng khám phá những sâu kín của tâm  
hồn con người, đặc biệt là đời sống nội tâm của người phụ nữ. Có  
thể dễ dàng nhận thấy, con người trong tác phẩm của các nhà văn  
nữ được soi chiếu từ nhiều góc độ. Đó là những con người đa chiều,  
lưỡng diện, được phơi bày chân thực, rõ nét trong tận cùng ngóc  
ngách nội tâm.  
Xây dựng các nhân vật nữ trong tác phẩm, các nhà văn nữ  
thường quan tâm tới số phận, bi kịch của họ. Bằng tâm hồn nhạy  
cảm, sự quan sát tinh tế và trí tưởng tượng, các nhà văn nữ đã dùng  
cuộc đời, tâm hồn mình để thấu hiểu, cảm nhận niềm vui, nỗi buồn  
của những người cùng giới. Đây cũng là cách để họ giãi bày những  
tâm tư, tình cảm mà trước đây bị dồn nén của chính mình. Khi xoáy  
sâu, lột tả đời sống nội tâm người phụ nữ với những mâu thuẫn, dằn  
vặt, day dứt có nghĩa là nhà văn đã thực sự mở ra một khả năng mới  
trong việc chiếm lĩnh hiện thực đời sống và con người. Số phận cá  
nhân, con người cá nhân luôn được các nhà văn đặt lên hàng đầu.  
Thế giới tâm hồn phức hợp của các nhân vât nữ được cảm  
nhận với rất nhiều sắc màu, cung bậc khác nhau. Có những cô nàng  
dám yêu, dám sống (Hậu thiên đường); có những tâm hồn luôn xáo  
trộn giữa cái xấu và cái tốt (Chuyện người con gái hát rong); có  
những con người cá tính, khôn ngoan, lọc lõi (Trăng nơi đáy giếng)  
và có những cảnh đời làm quặn thắt lòng người (Cánh đồng bất  
tận)… Với tâm hồn mẫn cảm phụ nữ, các nhà văn nữ thoải mái phô  
bày những ẩn ức bên trong tâm hồn con người ở tầng sâu bản thể.  
8
1.1.3. Mang đậm dấu ấn nữ quyền  
Truyện ngắn nữ đương đại đã khẳng định được ý thức nữ  
quyền. Dường như các nhà văn nữ không chỉ viết cho độc giả mà còn  
viết cho chính mình, cho thế giới thầm kín và sâu lắng tưởng chừng  
luôn bị kìm nén bên trong của họ.  
Các nhà văn nữ đã dành nhiều trang viết rất sâu về tình yêu, về  
quyền được yêu, được sống hạnh phúc, sự quyết liệt đấu tranh dành  
giữ tình yêu, sự bình quyền trong tình cảm và khẳng định giới mình.  
Các nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thùy  
Mai, Y Ban rất nhẹ dạ, cả tin, nhưng không phải không mạnh mẽ,  
quyết liệt, yêu đến cháy bỏng và luôn mong muốn đem lại hạnh phúc  
cho người mình yêu dẫu bản thân phải chuốc lấy đớn đau, bất hạnh,  
phải cô đơn lẻ loi suốt cuộc đời.  
Ý thức nữ quyền còn được thể hiện rõ ở mong muốn khẳng  
định đời sống bản năng của các nhân vật nữ. Các tác giả nữ đã mạnh  
dạn để cho các nhân vật bộc lộ ham muốn tình dục một cách tự  
nhiên. Với họ, những khát vọng trần thế, sự chủ động trong tình yêu,  
hạnh phúc cá nhân là biểu hiện chân thực và sống động của những  
khát khao yêu thương mãnh liệt, thái độ sẵn sàng quẫy đạp, tung phá  
để vượt thoát khỏi sự cầm tù của những khuôn khổ chật chội, của  
định kiến xã hội.  
1.2. VÕ THỊ XUÂN HÀ – “NGƯỜI VIẾT TRUYỆN” KHÔNG  
NGỪNG HỌC HỎI VÀ SÁNG TẠO  
1.2.1. Hành trình sáng tạo và quan niệm nghệ thuật của  
nhà văn Võ Thị Xuân Hà  
Võ Thị Xuân Hà chính thức bước vào nghề với tập truyện ngắn  
đầu tay Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào (1992) và đã khẳng định được  
mình là một cây bút tài năng của văn xuôi Việt Nam đương đạị. Hiện  
9
nay, chị là Uỷ viên Ban chấp hành - Trưởng Ban Nhà văn trẻ Hội  
Nhà văn Việt Nam (khóa 8), Tổng biên tập Tạp chí Nhà văn.  
Ý thức cao về vai trò, trách nhiệm của người cầm bút cùng bản  
lĩnh, nghị lực, vốn kiến thức sâu rộng cộng với tài năng thiên phú, Võ  
Thị Xuân Hà đã có nhiều tập truyện ngắn xuất sắc: Vĩnh biệt giấc mơ  
ngọt ngào (1992); Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà (2002); Đàn sẻ ri  
bay ngang rừng (2005); Chuyện người con gái hát rong (2006); Thế  
giới tối đen (2009); Cành phong hương (2014)... Tiểu thuyết Tường  
thành (2005); Trong nước giá lạnh (2008). Truyện ngắn Đàn sẻ ri  
bay ngang rừng được dịch sang tiếng nước ngoài để tham dự chương  
trình giao lưu văn hóa “Mùa xuân nước Pháp” năm 2009 tại Pháp.  
Bằng lối viết nhẹ nhàng, tinh tế, giàu cách tân nghệ thuật, nhà văn đã  
thể hiện những chiêm nghiệm, suy tư, dự cảm về cuộc đời, kiếp  
người, đặc biệt quan tâm tới thân phận người phụ nữ. Mỗi tác phẩm  
của Võ Thị Xuân Hà là một thông điệp về tình yêu thương, cảm  
thông, sẻ chia sâu sắc, là minh chứng cho quá trình cố gắng trong  
sáng tạo nghệ thuật của chị.  
Võ Thị Xuân Hà đã dùng ngòi bút của mình để “viết về những  
con người và vì con người”. Bởi theo chị, “Nhà văn là người đấu  
tranh cho quyền con người, là lương tâm nhân loại…”. Với quan  
niệm văn chương chính là một thông điệp nhân văn ý nghĩa về cuộc  
sống, Võ Thị Xuân Hà “luôn muốn và cố gắng nói được một điều gì  
đó, dù rất nhỏ, nhưng cũng phải chuyển tải một thông điệp nhân văn”  
trong tác phẩm của mình. Bởi theo chị cái cuối cùng mà chị muốn  
đem tới cho người đọc chính là niềm tin “tìm đến cái thiện”.  
1.2.2. Truyện ngắn - những “vỉa chìm” cuộc sống trong  
sáng tác của Võ Thị Xuân Hà  
Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà thể hiện sự nhanh nhạy của nhà  
10  
văn khi phát hiện căn bệnh “mất nhân tính”, những hiện tượng vô  
cùng nóng bỏng trong xã hội kinh tế thị trường như nạn quan liêu,  
hối lộ, lối sống thực dụng, mại dâm, cờ bạc, nghiện hút, nạo phá thai,  
cò mồi, khai thác trái phép tài nguyên thiên nhiên, phá hủy môi  
trường sống (Con đường vô tận, Lời hẹn, Ngọa sinh, Bạn gái, Thiên  
thần nhỏ, Kẻ đối đầu, Nhà có ba chị em, Cây bồ kết nở hoa, Năm hai  
nghìn lẻ X, Đá núi, Tiếng tiêu trên đỉnh núi Tượng…). Thông qua đó,  
gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với con người, đòi hỏi mọi người  
phải suy nghĩ, trăn trở, lên án, đấu tranh với nó.  
Võ Thị Xuân Hà còn dành nhiều trang viết để nói về nỗi cô  
đơn, đặc biệt đi vào những ngõ ngách thầm kín nhất trong đời sống  
tâm hồn con người; Xoáy sâu vào số phận bi kịch của những con  
người khốn cùng dưới đáy xã hội, chịu nhiều thiệt thòi, đau đớn trong  
cuộc sống gia đình; Ca ngợi sự nhân hậu của những tấm lòng vị tha,  
chan chứa yêu thương (Bên căn gác nhỏ nửa đêm, Xóm đồi hoa, Thế  
giới tối đen, Vườn hài nhi, Cõi người, Mưa rơi, Ván thế, Mặt trời ở  
lại, Giá nhang đèn, Đồng tiền sắc đỏ …).  
Võ Thị Xuân Hà cũng có nhiều trang viết về đề tài chiến tranh,  
đặc biệt xoáy sâu, lột tả nỗi đau đớn trong tâm hồn của những người  
không trực tiếp tham gia cuộc chiến (Đêm dài, Một ngày muôn đời,  
Ngọa sinh, Đàn sẻ ri bay ngang rừng, Gió vẫn thổi qua cánh đồng  
bên sông, Gió thổi…). Thông qua đó, tác giả muốn nhấn mạnh khao  
khát sống, khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi của con người.  
11  
CHƯƠNG 2  
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA NHÂN VẬT NỮ  
TRONG TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ XUÂN HÀ  
2.1. NHỮNG CON NGƯỜI YÊU THƯƠNG VÀ CÔ ĐƠN GIỮA  
CUỘC ĐỜI  
2.1.1. Người “giữ lửa” của những ngôi nhà  
Hiện lên trên những trang văn của Võ Thị Xuân Hà là những  
người vợ tận tụy yêu chồng, thương con, “là ngọn lửa dịu dàng của  
căn nhà”, toàn tâm toàn ý lo cho gia đình của mình giữa chông chênh  
sóng gió cuộc đời. Với suy nghĩ giản dị, tâm hồn nhạy cảm, chịu  
thương chịu khó, họ đã thầm lặng, tần tảo, hi sinh, tự nguyện hứng  
chịu mọi thua thiệt để đổi lấy hai chữ gia đình, coi đó là niềm hạnh  
phúc của cuộc đời mình (Ngày hội lúa, Ngọn lửa dịu dàng, Lúa và  
đất, Nơi dòng sông chảy qua…).  
Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà còn ghi lại chân dung những  
người phụ nữ với nhiều vui buồn, sướng khổ, được mất của đời  
người. Họ có thể bất hạnh với rất nhiều bi kịch ngang trái, nhưng  
trong trái tim trong sáng, thánh thiện của họ luôn chan chứa yêu  
thương, nhân ái, bao dung (Nghề giáo, Mùa nước lên, Bông hồng duy  
nhất, Bí ẩn một dòng sông, Đá núi, Đường về, Sang sông bạt gió...).  
Nhà văn không chỉ tạo nên dấu ấn đặc biệt cho nhân vật nữ của  
chị mà còn mang đến cho cuộc đời những thông điệp ý nghĩa về sự  
cao thượng, đẹp đẽ của tâm hồn con người. Mỗi nhân vật là một thứ  
ánh sáng ấm áp, tràn đầy yêu thương, tiếp thêm sức mạnh, ý chí, nghị  
lực để chúng ta có thể vượt qua những khó khăn phía trước, tin tưởng  
vào một tương lai tươi sáng.  
12  
2.1.2. Những mảnh hồn cô đơn giữa cuộc đời  
Võ Thị Xuân Hà viết nhiều về những mảnh hồn cô đơn giữa  
cuộc đời. Đó là nỗi cô đơn của số kiếp sinh ra trong hoàn cảnh đã  
được định sẵn từ trước. Có những nhân vật nữ cô độc trước đồng loại  
mình bởi họ phải gánh món nợ của quá khứ mà không phải do mình  
gây ra (Đất lặng lẽ, Gió vẫn thổi qua cánh đồng bên sông…), có  
những mảnh hồn cô đơn bởi họ gần như không có bất cứ liên hệ nào  
với thế giới bên ngoài (Thế giới tối đen, Giữa bầy chó…), hay có  
những người phụ nữ rơi vào cảm giác cô đơn, bế tắc ngay trong chính  
ngôi nhà của mình vì không tìm thấy sự đồng cảm và tiếng nói chung  
(Nhà có ba chị em, Lúa và đất, Đá núi…).  
Khi xây dựng các nhân vật cô đơn giữa cuộc đời, Võ Thị  
Xuân Hà thường bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với nỗi đau mà họ  
phải gánh chịu. Hằng đêm phải đối diện với sự cô đơn của chính  
bản thân, đây là biểu hiện tột cùng của nỗi cô đơn mang tên gọi cô  
đơn kiếp người trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà. Tất cả họ, mẹ  
của cô bé Giang (Đá núi) một đời khổ đau, cô đơn, trống vắng mà  
không hề một lần oán trách người đàn ông phụ bạc; là Miên (Đêm  
dài) trong những vòng xoáy tình yêu với những ẩn ức tính dục và  
những ám ảnh khôn nguôi về một người tình đã chết; là người vợ  
(Căn bệnh) chìm đắm trong ái tình tội lỗi để cả đời day dứt, ân hận  
trong cô độc, thèm khát bình yên, hơi ấm gia đình. Dường như số  
kiếp họ sinh ra là để cô đơn “sự cô đơn vây xiết lấy phận người,  
khắc khoải suốt cả một kiếp người”.  
2.2. NHỮNG CUỘC ĐỜI GẮN VỚI BI KỊCH  
2.2.1. Từ bi kịch tình yêu và hôn nhân gia đình  
Bi kịch gia đình là đề tài được Võ Thị Xuân Hà tập trung khai  
thác. Nhà văn tái hiện những mâu thuẫn, bi kịch trong tác phẩm của  
13  
mình nhằm tô đậm những cảm xúc đau đớn của nhân vật, làm gia  
tăng tính khốc liệt của các sự kiện diễn ra trong đời sống. Nhiều nhân  
vật nữ trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà có chồng nhưng lại không  
nhận được thương yêu, đồng cảm, sẻ chia. Bị hành hạ, đối xử thô  
bạo, bị coi rẻ như để phục vụ, hầu hạ gia đình chồng, thậm chí chỉ  
được coi là một phương tiện để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của chồng  
(Vườn hài nhi, Dưới cơn gió thoảng, Nhà có ba chị em, Cây bồ kết  
nở hoa…). Họ rơi vào bi kịch. Đau thương khiến họ hoặc chìm sâu  
vào nỗi ám ảnh tội lỗi hoặc trở nên chai lỳ, vô cảm, thậm chí trượt  
dài vào con đường xấu xa. Dẫu phải ngụp lặn trong bi kịch đau đớn  
của cuộc đời mình, trong sâu thẳm trái tim phụ nữ, gia đình vẫn là  
chỗ tìm về cuối cùng an toàn nhất. Đó là khát vọng, nguyện ước của  
cả một đời mà qua thăng trầm, đầy ải, người phụ nữ đã thức nhận giá  
trị, ý nghĩa của nó vô cùng sâu sắc.  
Tình yêu và hạnh phúc luôn là mục tiêu mà bất cứ người phụ  
nữ nào cũng hướng đến. Đọc truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà có thể  
nhận thấy thấm đẫm trong đó là sự cảm nhận sâu sắc và tinh tế của  
nhà văn về nỗi buồn, nỗi đau và những trớ trêu mà người phụ nữ  
vướng phải trong hành trình kiếm tìm hạnh phúc của họ. Yêu thương  
đong đầy nhưng bất hạnh, khổ đau cũng bủa vây cuộc sống của họ.  
Có những tâm hồn cô đơn, cay đắng khi không tìm được bến đỗ cho  
tình yêu của mình (Chuyện người con gái hát rong); có khi họ không  
tìm được hạnh phúc thực sự khi yêu và được yêu (Bí ẩn một dòng  
sông); hay có những cô gái yêu hết lòng, hi sinh cho tình yêu nhưng  
lại bị lợi dụng, lừa dối, bội bạc (Xin lỗi em). Họ rơi vào bi kịch với  
nhiều mẫu thuẫn giằng xé trong nội tâm. Bằng thiên tính và sự trải  
nghiệm của mình, Võ Thị Xuân Hà thấu nhận nỗi phấp phổng, âu lo,  
khắc khoải trong tình yêu cũng như những gian nan trên hành trình  
14  
kiếm tìm tình yêu đích thực của họ. Thông qua đó, nhà văn cũng gợi  
nhắc người đọc ý thức về giá trị của tình yêu và hạnh phúc. Khát  
khao yêu thương và được yêu thương, trân trọng, giữ gìn tình yêu là  
điều con người luôn phải ý thức bởi có được nó, không bao giờ là  
điều đơn giản.  
2.2.2. đến di chứng tinh thần sau chiến tranh  
Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà cũng tập trung khai thác những  
di chứng tinh thần sau chiến tranh. Chị đặc biệt xoáy sâu, lột tả nỗi  
đau của những người phụ nữ không trực tiếp tham gia cuộc chiến  
nhưng họ chịu nhiều tổn thương bởi di chứng của chiến tranh. Đó là  
sự hoảng hốt, sợ hãi của người mẹ khi sinh ra đứa con tật nguyền  
(Một ngày muôn đời); là nỗi đau tột cùng khi bị chồng bỏ rơi, bị  
người làng mỉa mai, cay độc gọi con chị là “ngọa quỷ” (Ngọa sinh);  
là sự đau đớn kinh hoàng khi “sinh ra cái bọc thịt” (Đêm dài); cũng  
có khi người mẹ như đứt từng khúc ruột khi biết con trai mình đầu óc  
lúc nào cũng “nghễnh ngãng”, nụ cười “ngơ ngẩn”, méo mó (Một  
ngày muôn đời). Mặt khác, truyện ngắn của chị còn thể hiện nỗi đau  
của những người phụ nữ luôn phải sống trong sự cô đơn, lạc lõng, bị  
xa lánh, thờ ở vì họ phải gánh chịu món nợ của quá khứ (Đất lặng lẽ,  
Gió vẫn thổi qua cánh đồng bên sông, Bạn gái, Bí ẩn một dòng  
sông).  
Nỗi đau của những người mẹ có chồng, con hi sinh trong cuộc  
kháng chiến được Võ Thị Xuân Hà phản ánh sâu sắc. Có người mẹ  
đã hóa điên khi lần lượt nhận những tờ giấy báo tử của những đứa  
con trai (Gió thổi); có những bà mẹ già đã hi sinh quãng đời còn lại  
của mình đi tìm tro cốt con trai và hương khói cho đồng đội của con  
(Đàn sẻ ri bay ngang rừng); cũng có những đứa con gái mãi đến lúc  
hòa bình lập lại mới minh oan cho mẹ bởi mẹ cô hi sinh trên đường  
15  
làm nhiệm vụ nhưng làng xóm vẫn nghi ngờ (Gió vẫn thổi qua cánh  
đồng bên sông).  
Từ cái nhìn thiên tính nữ, truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà viết về  
nỗi đau của con người thời hậu chiến đã góp thêm một tiếng nói giàu  
tính phê phán và giàu giá trị nhân đạo.  
2.3. NHỮNG TÂM HỒN KHÔNG NGỪNG KHÁT VỌNG  
2.3.1. Khát vọng về tình yêu, hạnh phúc  
Không chỉ xoáy sâu vào nỗi đau thân phận người phụ nữ,  
chiêm nghiệm hiện thực ở tầng sâu bản thể để khắc họa rõ nét những  
phận người với bao lo toan, dằn vặt, khắc khoải, Võ Thị Xuân Hà còn  
quan tâm đến những khao khát đẹp đẽ, cao cả của họ trong hành trình  
hiện sinh. Chính vì thế, có thể khẳng định các nhân vật nữ trong  
truyện ngắn của chị có đời sống nội tâm phong phú, khao khát sống,  
khao khát yêu thương luôn cháy bỏng, rạo rực trong tâm hồn.  
Võ Thị Xuân Hà viết về những người phụ nữ có cuộc đời bất  
hạnh, bị làng xóm xa lánh, cô lập và “tẩy chay” nhưng họ biết vượt  
lên số phận, quyết tâm sống cho mình, cho con, mong muốn tìm lại  
được niềm vui, niềm hạnh phúc trong quãng đường còn lại (Đường  
về); cũng có những người phụ nữ đã tìm lại được những khoảnh khắc  
thật sự hạnh phúc sau khi bị chồng bỏ rơi, bị gia đình chồng đối xử  
“nghẻ lạnh và nhạt nhẽo” (Thiên thần nhỏ); hay cũng có khi nhà văn  
đã rất tinh tế phát hiện ra những rung động thầm kín, bất chợt nhưng  
làm bừng lên sức sống cho tâm hồn một người phụ nữ đã chịu nhiều  
khổ đau (Lúa hát, Lúa và đất)… Cho dù họ là người như thế nào, có  
cuộc đời, số phận ngang trái ra sao thì những nhân vật nữ vẫn luôn  
khao khát tình yêu, hạnh phúc bởi đó là nhu cầu rất đàn bà trong họ.  
Họ vẫn có quyền sống, quyền được yêu, quyền được mơ về một mái  
ấm gia đình, một bến đỗ bình yên cho cuộc đời của họ. Đó là niềm  
16  
tin, là động lực để họ vượt qua những phong ba bão táp của cuộc đời.  
2.3.2. Khát khao được sống đầy đủ đời sống bản năng của mình  
Nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà không chỉ  
hiện lên bằng sự cảm thông và thấu hiểu cuộc đời, con người mà còn  
ám ảnh bạn đọc bằng tiếng gọi nữ tính mãnh liệt, da diết. Nhà văn đã  
soi chiếu tâm tư tình cảm, khám chiếu những ẩn ức, dồn nén trong  
tâm hồn nhạy cảm của người phụ nữ.  
Võ Thị Xuân Hà đã thấu hiểu, trân trọng những khát vọng bản  
năng chính đáng, tự nhiên của con người. Nhà văn đã khéo léo, tinh  
tế khi miêu tả khát vọng làm mẹ, bởi đây là một thứ dục vọng bản  
năng thiêng liêng. Làm mẹ, ước mơ thuần khiết của bất cứ người phụ  
nữ nào trên cuộc đời đã khiến hai người đàn bà không còn lành lặn cả  
thể xác lẫn tâm hồn tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Chính tinh thần  
hướng thiện, ước mơ chính đáng của người phụ nữ đã làm nên điều  
kỳ diệu ấy (Xóm đồi hoa).  
Khát vọng sống được bộc lộ và thỏa mãn đầy đủ bản năng của  
con người ở các nhân vật nữ được Võ Thị Xuân Hà lột tả một cách  
hết sức chân thực và đầy nhân ái. Có những cuộc tình thật dữ dội và  
mãnh liệt bởi đó thực sự là tình yêu đang được cụ thể hóa bằng sự  
hòa quyện của hai tâm hồn, hai thể xác (Chuyện người con gái hát  
rong); có những tình cảm bắt nguồn từ ham muốn được chở che, san  
sẻ (Đàn sẻ ri bay ngang rừng); hay có những tâm hồn nữ vừa muốn  
an phận trong những khuôn phép truyền thống lại vừa muốn phá tung  
nó để được sống theo tiếng gọi trái tim mình (Chiều tà, Nghịch tử,  
Người đàn bà và những con rối)… Nhà văn đã thấu hiểu, đồng cảm,  
chia sẻ với họ bởi đây không chỉ là nhu cầu ham muốn của thể xác  
mà sâu thẳm, cao cả hơn thế, nó chứa đựng cả khát vọng khẳng định  
sự bình quyền nam nữ trong xã hội hiện đại.  
17  
CHƯƠNG 3  
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT NỮ  
TRONG TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ XUÂN HÀ  
3.1. NGHỆ THUẬT KHẮC HỌA CHÂN DUNG NHÂN VẬT  
3.1.1. Miêu tả ngoại hình nhân vật  
Khi xây dựng nhân vật người phụ nữ, Võ Thị Xuân Hà thường  
chỉ phác họa một vài nét cơ bản về diện mạo của nhân vật nhưng đã  
để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc. Đọc truyện ngắn của chị,  
người đọc luôn bị ám ảnh bởi những mái tóc của những người phụ  
nữ. Những mái tóc dài, đen, mượt làm nổi bật vẻ đẹp đoan trang,  
thùy mị của người phụ nữ. Mái tóc ấy như chính số phận mong  
manh, suốt cả cuộc đời chờ đợi trong vô vọng người đàn ông đã làm  
tổn thương mình (Bông kiếm tiên vũ); là biểu hiện của tâm trạng, tấm  
lòng thủy chung, cũng là hình bóng cuộc đời đầy đau đớn của cô, mãi  
kiếm tìm dù biết chàng trai đã không còn tồn tại trên cõi đời này nữa  
(Dưới nước); hay mái tóc, mùi hương tóc gợi nhớ người vợ “lúc nào  
cũng cúi đầu làm cung cúc”, tần tảo, hi sinh cho gia đình (Sông sâu).  
Khi miêu tả ngoại hình của những nhân vật nữ, Võ Thị Xuân  
Hà còn tập trung miêu tả đôi mắt, gương mặt. Bằng cách tạo ấn  
tượng từ những đôi mắt, nét mặt nhân vật, nhà văn đã làm nổi bật  
những tâm sự, ngổn ngang phức tạp cũng như sự đau đớn giằng xé  
trong tâm can người phụ nữ. Từ ánh mắt, gương mặt của chị Son  
(Bông kiếm tiên vũ) đến ánh mắt, nét mặt của nhân vật tôi (Ngôi sao  
chiếu mệnh) hay của Uyên (Kẻ đối đầu) hoặc của cô bé (Cõi người)  
thì tất cả đều là biểu hiện của vẻ đẹp phụ nữ, làm nổi bật tính cách, vẻ  
đẹp tâm hồn lóng lánh những sắc màu đáng quý của các nhân vật nữ.  
18  
3.1.2. Khắc họa nội tâm nhân vật  
Khi xây dựng hình tượng nhân vật nữ, Võ Thị Xuân Hà không  
chú trọng miêu tả hành động hoặc tính cách đặc biệt mà chị chủ yếu  
khai thác những tâm trạng của các nhân vật trong cuộc sống đời  
thường.  
Nhiều truyện ngắn được kể ở ngôi thứ nhất nên câu chuyện  
đậm cảm xúc của nhân vật, có khi cả sự hòa trộn giữa tâm tư, tình  
cảm của nhân vật và nhà văn, giúp nhà văn dễ dàng đi sâu vào đời  
sống nội tâm với những tâm tư, tình cảm thầm kín, với sự mâu thuẫn,  
giằng xé phức tạp trong tâm lý của nhân vật (Chuyện người con gái  
hát rong, Ngôi sao chiếu mệnh…). Độc thoại nội tâm là thủ pháp Võ  
Thị Xuân Hà sử dụng để thể hiện tinh tế diễn biến tâm lý của người  
phụ nữ. Vì khi nhân vật đối diện với chính lòng mình, họ có thể tự  
bộc bạch những suy nghĩ, dằn vặt, trăn trở và những trạng thái cảm  
xúc thật nhất của mình, qua đó, làm nổi bật sự đau đớn, cô đơn cũng  
như những khát khao hạnh phúc của người phụ nữ (Dưới nước, Gió  
ngừng thổi, mưa ngừng rơi…).  
Cũng như các nhà văn nữ đương đại, Võ Thị Xuân Hà chú  
trọng miêu tả những nhân vật tự ý thức về bản thân mình, dám sống  
thật với những cảm xúc, suy nghĩ, bộc lộ bản chất một cách rõ ràng  
nhất. Bằng ngòi bút tinh tế và nhạy cảm của mình, nhà văn đã đến  
được mọi ngóc ngách tính cách lẫn tâm sự sâu kín để làm sáng tỏ  
những gì thuộc về bản chất của con người, làm hiện lên đời sống nội  
tâm phong phú, diễn biến tâm lý phức tạp của nhân vật.  
3.2. NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT  
3.2.1. Ngôn ngữ người kể chuyện  
Ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà  
thường nhẹ nhàng, êm ái, giàu cảm xúc, có khả năng dẫn người đọc  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 15540 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nhân vật nữ trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nhan_vat_nu_trong_truyen_ngan_vo_thi_xuan_h.pdf